CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ LOÀI TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA 1. Các loài tê giác trên thế giới Trên thế giới có năm loài tê giác khác nhau, hai loài phân bố ở châu Phi và ba loài phân bố ở châu Á. Châu Âu, châu Mỹ và châu Úc không có tê giác sống trong môi trường tự nhiên (Hình 1).
Trong suốt thời kỳ Băng Hà một phân loài tê giác cổ đại có lông đã từng cư trú trên lục địa châu Âu và châu Á, nhưng chúng đã sớm bị tuyệt chủng. Tê giác một sừng java (Rhinoceros Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sondaicus) – phân bố ở châu Á sumatrensis) - phân bố ở châu Á Tê giác một sừng ấn độ Tê giác trắng Tê giác đen (Rhinoceros unicornis) (Ceratotherium simum) (Diceros bicornis) - phân bố ở châu Á - phân bố ở châu Phi - phân bố ở châu Phi Hình 1. Các loài tê giác hiện nay trên thế giới Cả năm loài trên đều có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và đã được đưa vào Danh Lục Đỏ của IUCN (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế). Đặc biệt, sự 4 sống còn của hai loài: Tê giác một sừng java (Rhinoceros sondaicus) và Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis) đang bị đe dọa nghiêm trọng (đều xếp bậc CR-rất nguy cấp trong Danh Lục Đỏ IUCN, 2010).
Tê giác một sừng ấn độ là loài lớn nhất trong số ba loài tê giác châu Á. Tê giác một sừng ấn độ sống ở Ấn Độ và Nêpan, nhỏ nhất là loài tê giác hai sừng (hay còn được gọi là tê giác có lông, tê giác sumatra). Loài này sống trong những vùng núi rậm rạp trên đảo Sumatra, Kalimantan và bán đảo Malaixia. Hiếm nhất hiện nay là loài Tê giác một sừng java, hiện chỉ còn từ 50 – 70 cá thể còn sống sót trên toàn thế giới.
Theo Groves & Guerin (1980), loài này có ba phân loài là: - Tê giác một sừng xuđăng (Rhinoceros sondaicus sondaicus) sinh sống ở VQG Ujung Kulon (Inđônêxia) - Tê giác một sừng việt nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) sinh sống ở khu vực Cát Lộc (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) của VQG Cát Tiên. - Phân loài Rhinoceros sondaicus inermis từng sống tại vùng Sunderbans thuộc Ấn Độ, Bănglađét và Mianma. Phân loài này đả bị tuyệt chủng vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Tê giác một sừng java.
Tê giác một sừng java cao từ 130 đến 150 cm và có thể nặng tới 1. Phân loài tê giác R.annamiticus ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều so với những đồng loại của chúng ở Inđônêxia. Loài này, chỉ có con đực mới mang một chiếc sừng tương đối dài (20 - 25cm), con cái thường không có sừng hoặc chỉ có một khối u nhỏ. Sừng tê giác thật ra là một túm lông mọc dày đặc, hoàn toàn không phải xương.
Sừng tê giác được cho là một vị thuốc cổ truyền có giá trị. Tuy nhiên, cần biết rằng tác dụng chữa bệnh của nó chưa bao giờ được chứng minh một cách có khoa học. 5 Tê giác là một loài thú sống đơn độc. Đa số trường hợp mà ta bắt gặp những con tê giác đi với nhau đều là tê giác mẹ đi với các con của nó.
Thời gian trưởng thành sinh dục của tê giác một sừng java là từ 4-6 sáu năm, thời gian mang thai là 16 tháng. Tê giác con sống với mẹ cho đến khi được ba, bốn tuổi. Tê giác một sừng java khá dễ thích nghi với môi trường sống. Chúng sống trong những cánh rừng bán thường xanh và thích kiếm ăn ở những vùng thoáng đãng hơn.
Tuy nhiên, hiện nay tê giác ở Việt Nam đang bị dồn vào một khu vực đồi dốc với các bụi tre mây gai góc dày đặt bao phủ rất bất lợi. Loài thú này không thích ăn tre hay mây, chúng thích ăn chồi, cỏ, mầm non và những cây thân thảo. Để bổ sung cho chế độ dinh dưỡng, tê giác cần tiêu thụ đều đặn một lượng muối khoáng nhất định. Vì thế, tê giác ở VQG Ujung Kulong uống nước biển.
Ở Việt Nam, tê giác thường hay lui tới một số suối khoáng, sinh lầy giàu khoáng để uống. Dấu chân của tê giác một sừng java ở Ujung Kulong và ở Việt Nam có sự khác biệt về kích cỡ. So với tê giác Ujung Kulon, dấu chân của tê giác ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều, chỉ bằng khoảng 60 đến 70%. Các nhà khoa học cũng cho rằng mặc dù cùng loài tê giác một sừng, nhưng hai quần thể này khác nhau đến nổi việc phối giống giữa chúng có lẽ sẽ không có kết quả.
TỔNG QUAN VỀ LOÀI BÒ TÓT 1. Tình trạng của loài bò tót trên thế giới Đầu thế kỷ XVI, họ Trâu bò (Bovidae) có 12 loài bò hoang dã phân bố trên khắp các châu Á, châu Âu, châu Phi và Bắc Mỹ. Ngày nay họ Trâu bò chỉ còn lại 10 loài [50] tồn tại dưới những quần thể nhỏ và phân tán ở một vài quốc gia. Loài bò xám (Bos sauveli) và bò Auroch (Bos primigenus) đã tuyệt chủng.
Ở Việt Nam, họ Trâu bò có 2 họ phụ là Bovinae và Caprinae, trong đó có 6 loài là: bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos 6 sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), Sơn dương (Naemorhendus sumatraensis) và sao la (Pseudoryx nghetinhensis [13]. Bò tót có phân bố ở Nêpan, Bănglađét, Butan, Ấn Độ, Myanma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia và Việt Nam. Số lượng bò tót trên thế giới hiện nay còn lại ước tính từ 13.000 cá thể và hiện đang suy giảm nghiêm trọng do sự gia tăng dân số cao ở khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân chính khiến số lượng bò tót suy giảm như vậy là do nạn săn bắn, tình trạng phá hoại sinh cảnh, cạnh tranh nguồn thức ăn và nguy cơ lây bệnh từ bò nuôi.
Hiện nay, bò tót được xếp ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU). Ở Việt Nam: Trước đây nhiều tác giả đã ghi nhận bò tót phân bố ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai thượng, Vĩnh Long, Lâm Đồng (núi Lang Biang), Buôn Đôn (Đắc Lắc), Thừa thiên, Quảng Nam – Đà Nẵng. Nhưng do tác động mạnh mẽ của con người, chặt phá rừng, làm mất nơi sống của chúng, vì vậy ngày nay bò tót chỉ phân bố ở trong một số VQG và khu BTTN. Hiện nay theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Cần và cs (2008) bò tót phân bố ở 27 khu vực thuộc 15 tỉnh trong cả nước [13].
Một số tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và phần lớn các tỉnh Tây Bắc trước khi có ghi nhận về bò tót nay đã không có thông tin về sự tồn tại của chúng [13]. Các vùng phân bố bò tót theo các vùng địa lý như sau: Tây Bắc: Lai Châu: Mường Nhé (Mường Tè); Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa: Pù Hu (Mường Lát), Xuân Liên (Thường Xuân); Nghệ An: Pù Hoạt (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông); Hà Tĩnh: Vũ Quang (Vũ Quang); Quảng Bình: Thượng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị: Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (Đắk Rông). Tây Nguyên: Kon Tum: Chư Mom Rây (Sa Thầy), Gia Lai: Chư Prông; Đắc Lắc: Yok Đôn (Buôn Đôn, Cư Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Chư Yang 7 Sin (Krông Bông, Lắc); Đắc Nông: Tà Đùng (Đắc Lấp), Nam Nung (Đắc Min); Lâm Đồng: Bi Đúp – Núi Bà (Lạc Dương), Bảo Lộc. Đông Nam Bộ: Bình Phước: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập (Phước Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú, Vĩnh Cửu), La Ngà; Ninh Thuận: Phước Bình (Bác Ái), Ninh Sơn.
Khu vực phân bố của bò tót tập trung nhất là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong các khu vực phân bố, có 19/27 khu vực phân bố quần thể bò tót tồn tại chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng (70,4%), có 3/27 khu vực là diện tích các lâm trường (11,1%). Chỉ có 5/27 khu vực phân bố của bò tót chưa được bảo vệ (18,5%) [34]. Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Bò tót Bò tót (Bos gaurus) là loài thú móng guốc, ngón chẵn, cỡ lớn, có thân hình to khỏe.
Bò tót trưởng thành có đầu to, trán dẹp hơi lõm, có đốm trắng vàng trên đỉnh; vùng trán giữa 2 sừng nhô cao; cặp sừng rỗng lớn, gốc sừng to, màu vàng xám và cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt; mút sừng nhọn đen bóng. Bò tót có bộ lông ngắn và mượt, màu lông thay đổi theo từng cá thể, từ nâu đen (con đực) và màu nâu vàng (con cái). Ở phần bụng lông dài hơn, màu nâu nhạt. Mông đen, bốn chân từ kheo trở xuống bàn chân màu trắng nhạt.
Đuôi dài màu đen. Ở điểm chính giữa của hai gốc sừng có phủ lớp lông dài màu nâu nhạt hoặc xám trắng. Bò tót non mới sinh màu vàng với đám lông sẩm dọc sống lưng, sau 4 - 5 tháng chuyển dần sang màu nâu đỏ. Bò tót đực có u thịt lớn, khá đặc trưng chạy từ gáy đến giữa lưng, được tạo bởi sự phát triển của gờ đốt sống thứ 3 đến 11.
Lớp da ở cổ và trước ngực dài tạo thành yếm nhỏ. Bò tót cái cũng có u thịt và yếm nhưng không phát triển như bò tót đực. Bò tót cũng là loài duy nhất trong họ Trâu bò có các 8 tuyến tiết dầu ở da, có tác dụng để chống côn trùng, ký sinh trùng trên da và có thể có tác dụng đánh dấu sinh học. Đặc điểm tiết dầu trên da có thể quan sát rõ ở các cá thể bò tót đực vào mùa khô.
Bò đực trưởng thành có thể đạt khối lượng trên 1.000kg, con cái thường nhỏ hơn con đực. Các kích thước cơ bản của bò tót như sau: dài thân: 250 - 300cm, đuôi: 70 - 105cm, tai: 30 - 35cm, cao vai: 130 - 180cm. Bò tót thường sinh sống ở các vùng tương đối bằng phẳng, độ cao dưới 1.800m, trong các kiểu rừng khác nhau (rừng khộp, rừng thường xanh, rừng hỗn giao tre nứa, … ) và khu vực đồng cỏ (Schaller, 1967). Chúng hoạt động trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên hơn trong các khu rừng thường xanh và những khu vực cao hơn vào mùa khô (Prayurasiddhi, 1997).
Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, trong đó có những bãi cỏ mọc sau khi bị đốt cháy là những nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất. Bò tót có thể sống trong vùng sinh cảnh bị suy thoái do hoạt động của con người. Chúng thường kiếm ăn trong khu vực canh tác của người dân. Bò tót ăn đồng thời cả cỏ và lá cây.
Chúng ăn lá cây nhiều hơn các loài bò hoang dã khác.