Luận Văn Bài Giảng Văn Hóa Dân Gian Người Việt - Tìm Hiểu Chi Tiết

Bài giảng về Luận văn bài giảng văn hóa dân gian người việt, trình bày ngắn gọn nội dung chính, minh họa ví dụ thực tế, phù hợp học viên chuyên ngành.

Trường đại học

Trường Đại học Đồng Tháp

Chuyên ngành

Văn hóa dân gian người Việt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài giảng

2020

165
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM

1.1. Khái niệm văn hóa dân gian

1.2. Những thành tố của văn hóa dân gian Việt Nam

1.3. Các tính chất của văn hóa dân gian Việt Nam

1.4. Các giai đoạn phát triển của văn hóa dân gian Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT

2.1. Văn học dân gian

2.2. Nghệ thuật tạo hình dân gian

2.3. Nghệ thuật biểu diễn dân gian

2.4. Tri thức dân gian

2.5. Trò chơi dân gian

2.6. Ứng xử dân gian

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

3.1. Vai trò của văn hóa dân gian trong xã hội hiện đại

3.2. Văn hóa dân gian với phát triển kinh tế

3.3. Văn hóa dân gian với phát triển du lịch

3.4. Văn hóa dân gian trước những thách thức của biến đổi văn hóa

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát về văn hóa dân gian Việt Nam

Văn hóa dân gian Việt Nam là cội nguồn của mọi nền văn hóa, phản ánh đời sống và tâm tư của người Việt. Khái niệm văn hóa dân gian được hiểu là những sáng tạo của dân, phục vụ cho cuộc sống của dân. Các thành tố của văn hóa dân gian bao gồm truyền thống, nghệ thuật dân gian, và tri thức dân gian. Văn hóa dân gian không chỉ là những câu chuyện, bài hát mà còn là những phong tục tập quán, nghi lễ, và các giá trị tinh thần. Theo nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, văn hóa dân gian bao gồm cả văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình, và nghệ thuật biểu diễn. Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng của văn hóa dân gian Việt Nam, từ những câu ca dao, tục ngữ đến các loại hình nghệ thuật biểu diễn như hát dân cahội hè.

1.1. Khái niệm văn hóa dân gian

Khái niệm văn hóa dân gian được định nghĩa là những giá trị vật chất và tinh thần do người dân sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa dân gian không chỉ bao gồm nghệ thuật mà còn phản ánh cách sống, ứng xử của người Việt với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, văn hóa dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp, nơi các thành tố như huyền thoại, truyền thuyết, và nghệ thuật biểu diễn hòa quyện với nhau. Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố trong văn hóa dân gian, tạo nên một bức tranh tổng thể về đời sống và tâm hồn của người Việt.

II. Những thành tố của văn hóa dân gian người Việt

Văn hóa dân gian người Việt bao gồm nhiều thành tố quan trọng như văn học dân gian, nghệ thuật biểu diễn, và tri thức dân gian. Văn học dân gian là một phần không thể thiếu, bao gồm các thể loại như truyền thuyết, huyền thoại, và ca dao. Những tác phẩm này không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng tri thức và kinh nghiệm sống của người Việt. Nghệ thuật biểu diễn như hát dân ca, múa rối, và sân khấu dân gian cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải văn hóa và lịch sử. Bên cạnh đó, tri thức dân gian về môi trường tự nhiên và xã hội cũng rất phong phú, phản ánh sự hiểu biết và ứng xử của người Việt với thế giới xung quanh.

2.1. Văn học dân gian

Văn học dân gian là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn hóa dân gian. Nó bao gồm các thể loại như truyền thuyết, huyền thoại, và ca dao. Những tác phẩm này không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng tri thức và kinh nghiệm sống của người Việt. Chúng phản ánh tâm tư, tình cảm và những giá trị đạo đức của cộng đồng. Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, văn học dân gian là một phần không thể thiếu trong việc hiểu biết về văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc.

III. Vai trò của văn hóa dân gian trong xã hội hiện đại

Văn hóa dân gian giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc và giáo dục thế hệ trẻ. Trong bối cảnh hiện đại hóa, văn hóa dân gian không chỉ là di sản mà còn là nguồn cảm hứng cho các hoạt động sáng tạo và phát triển kinh tế. Văn hóa dân gian giúp người Việt kết nối với nguồn cội, đồng thời tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian là cần thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế.

3.1. Văn hóa dân gian và giáo dục

Văn hóa dân gian có vai trò quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ. Nó không chỉ giúp các em hiểu biết về nguồn cội, lịch sử và truyền thống của dân tộc mà còn hình thành nhân cách và giá trị sống. Các hoạt động như hội hè, nghi lễ, và trò chơi dân gian là những phương tiện hiệu quả để truyền tải tri thức và giá trị văn hóa. Theo các nhà nghiên cứu, việc đưa văn hóa dân gian vào giáo dục sẽ giúp các em phát triển toàn diện, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho kỉ nguyên độc lập thời tự chủ của quốc gia Đại Việt. Thời kì này thường được gọi là thời nghìn năm Bắc thuộc, song có lẽ đúng hơn là thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vì người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục. Thành tựu văn hoá Ngay trong khi vay mượn, nhân dân ta vẫn thể hiện được tinh thần sáng tạo. Về văn hoá vật chất, từ chỗ tiếp thu được kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc, nhân dân ta đã biết tìm tòi, khai thác nguyên liệu địa phương (gỗ trầm, rêu biển) để chế tác những loại giấy chất lượng.

Trong khi chịu ảnh hưởng của kĩ thuật gốm sứ Trung Quốc, ta vẫn sản xuất ra các mặt hàng độc đáo như sanh hai quai, ống nhổ, bình con tiện đầu voi, bình gốm có nạm hạt đá ở chung quanh cổ. Về văn hoá tinh thần, trước tiên là sự đấu tranh thường xuyên chống âm mưu đồng hoá của kẻ thù để bảo tồn nòi giống Việt. Biểu hiện rõ rệt của sự bảo tồn giống nòi và văn hoá Việt là sự bảo tồn tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của dân tộc. Tiếng nói là một thành tựu văn hoá, là một thành phần của văn hoá.

Khi bị đế chế Trung Hoa chinh phục và kiểm soát chặt chẽ, tiếng Hán và chữ Hán được du nhập ồ ạt vào nước ta. Song nó không thể tiêu diệt được tiếng Việt bởi một lí do rất 15 đơn giản là chỉ một lớp người thuộc tầng lớp trên học. Nhân dân lao động trong các xóm làng Việt cổ vẫn sống theo cách sống riêng của mình, cho nên họ duy trì tiếng nói của tổ tiên, tiếng nói biểu hiện cuộc sống và tâm hồn người Việt. Dĩ nhiên, dưới ách thống trị lâu năm của người ngoài, trong cuộc sống đã xảy ra những biến đổi về vật chất và tinh thần, đã nảy sinh những nhu cầu mới.

Cho nên tiếng Việt cũng phải biến đổi và phát triển. Trải qua nhiều thế kỉ, tiếng Việt ngày càng xa với trạng thái ban đầu của nó. Nó đã hấp thu những yếu tố ngôn ngữ Hán. Tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán.

Ta thấy nhiều từ gốc Hán ngay cả trong vốn từ vị cơ bản và trong các hư từ. Nhưng nhân dân ta đã hấp thu ảnh hưởng của Hán ngữ một cách độc đáo, sáng tạo, đã Việt hoá những từ ngữ ấy bằng cách dùng, cách đọc, tạo thành một lớp từ mới mà sau này người ta gọi là từ Hán - Việt. Trước và trong thời Bắc thuộc, tiếng Việt cũng tiếp thu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ Mã Lai, Tạng- Miến và nhất là Ấn Độ (các từ chỉ cây trồng như mít, lài. và đặc biệt là các từ thuộc về Phật giáo như Bụt, bồ đề, bồ tát, phù đồ, chùa, tháp, tăng già…).

Điều đó khiến vốn từ tiếng Việt thêm phong phú. Từ thời Hùng Vương, đã có một nền phong hoá riêng của người Việt cổ tuy còn giản dị, chất phác. Bọn đô hộ cố sức đưa vào xã hội Việt cổ nhiều thứ lễ giáo Trung Hoa (chủ yếu là lễ giáo của đạo Nho). Điều đó ảnh hưởng đến phong hoá Việt Nam.

Đó là điều không tránh khỏi. Và nhân dân ta có khả năng thích ứng vô hạn với mọi loại tình thế trong khi những truyền thống dân tộc và dân gian của nền phong hoá Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát triển. Nếu một mặt lễ giáo Trung Hoa ít nhiều đã tăng cường sự áp chế trong gia đình và củng cố chế độ phụ quyền thì mặt khác nó không thể ngăn cản được sự củng cố ở một mức nhất định những truyền thống tích cực của xã hội làng xóm của ta, như lòng tôn kính và biết ơn đối với cha mẹ tổ tiên, đặc biệt là lòng tôn trọng phụ nữ của phong hoá Việt cổ. Lễ giáo Trung Hoa có đặc trưng là sự khinh miệt phụ nữ, cố sức thắt chặt họ vào cỗ xe “tam tòng, tứ đức” nhưng vẫn không ngăn cản được truyền thống dũng cảm đánh giặc và lãnh đạo nhân dân đánh giặc của Hai Bà Trưng, Bà triệu…Vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội vẫn được đề cao.

Từ thời Hán, nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã đạt đến trình độ cao và có ảnh hưởng lớn ở vùng Đông Á. Nền văn học nghệ thuật ấy cũng dần được du nhập vào nước ta và cũng để lại dấu ấn trên sự phát triển của nền văn hoá Việt. Thời 16 Văn Lang, Âu Lạc, ta chưa có một nền văn học chính thức và thành văn tuy vẫn có một đời sống văn hoá khá cao. Nét đặc trưng của nó là văn hoá ngôn từ với phương thức thông tin truyền miệng.

Nền văn nghệ dân gian của ta khá giàu có và tiếp tục phát triển dưới dạng các huyền thoại, cao dao, tục ngữ. Cuộc sống của nông dân còn hạn chế trong khuôn khổ xóm làng, vùng địa phương, với những điều kiện còn chật hẹp, cho nên sự sáng tạo về nghệ thuật còn mang tính chất giản dị. Sự du nhập nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã có một tác dụng tích cực nhất định đối với đời sống văn hoá Việt Nam, nhất là ở một số trung tâm chính trị và buôn bán tập trung như Luy Lâu, Long Biên… Về âm nhạc, bên cạnh một số nhạc cụ có chịu ảnh hưởng Trung Hoa như khánh, chuông…chịu ảnh hưởng Ấn Độ và Trung Á như trống cơm, hồ cầm, vẫn tồn tại những nhạc cụ độc đáo của nền nhạc Việt như trống, khèn, cồng chiêng… Trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, đất nước ta không bị diệt vong, dân tộc ta không bị đồng hoá, mà còn lớn lên về mọi mặt để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần chiến thắng ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. Mặt khác, nhân dân ta biết bảo tồn và phát huy những tinh hoa của văn hoá cổ truyền, nhưng cũng biết hấp thu có chọn lọc những nhân tố văn hoá ngoại lai để làm phong phú cho nền văn hoá dân tộc và tăng thêm tiềm lực cho mọi mặt của đất nước.

Trên cơ sở văn minh nông nghiệp và xóm làng, nhân dân ta tiếp thu một số yếu tố văn hoá Trung Quốc, Ấn Độ và vùng biển phương Nam như giống cây trồng mới (kê, cao lương, một số loại đậu…); kĩ thuật nông nghiệp mới (bón phân bắc, guồng nước…); kĩ thuật thủ công (dệt lụa gấm, làm đồ sứ, làm giấy…); và cả một số tập quán trong ăn, mặc, ở, cách đặt tên họ… Đối lập với sức mạnh của một đế chế lớn mạnh, đông dân, nhiều của, đông quân, nhân dân ta đã tạo lập nên sức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc là khởi nghĩa nhân dân, có tính quần chúng rộng rãi, mau chóng phát triển thành chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc. Nhờ đó, trong cuộc đấu tranh trường kì chống Bắc thuộc, lực lượng dân tộc về tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá…đều trưởng thành. Và cuối cùng, thế kỉ X với chiến thắng lịch sử Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo, cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang.

Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ a. Bối cảnh lịch sử Thời kì này bắt đầu từ khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa cho đến năm 1858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lước nước ta ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Thành tựu văn hóa - Thế kỉ XI - XV và thành tựu văn hoá triều đại Lý - Trần, Hồ: Sau khi dời đô, tại Thăng long, nhà Lý cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài, thành luỹ. Thành Thăng Long là một công trình xây dựng thành luỹ lớn nhất trong các triều đại phong kiến.

Kiến trúc thời Lý phát triển rất mạnh. Những di tích thời Lý còn lại đến nay như Chùa Giạm, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Dọi - Hà Nam); tháp Chương Sơn (Ý Yên - Nam Định)… đều là những công trình có quy mô lớn. Các công trình này đều có sự hoà hợp với thiên nhiên xung quanh. Vì vậy, nói đến mĩ thuật thời kì này chủ yếu là kiến trúc các ngôi chùa và tượng Phật.

Nghệ thuật điêu khắc trên đá, trên gốm thể hiện một phong cách đặc sắc và một tay nghề khá thuần thục. Cùng với kiến trúc, các nghề thủ công rất phát triển ở thời Lý như dệt, gốm, mĩ nghệ… Nghề dệt đã có nhiều thành tựu. Từ vải, lụa đến những loại gấm đoạn với đủ các màu sắc và hoạ tiết trang trí đặc sắc đã được những người thợ dệt khéo tay và thông minh nhà Lý làm ra. Nghề gốm là nghề có bước phát triển khá dài và đạt trình độ cao.

Những lò gốm thời kì này làm ra khá nhiều gạch, ngói đặc biệt là loại ngói bằng sứ trắng, ngói tráng men và những loại gạch khổ lớn có trang trí và khắc niên hiệu đời Lý. Thời Trần, nghề thủ công còn có những bước phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất một mặt hàng nhất định, như làng Ma Lôi (Hải Hưng). Kinh thành Thăng Long mở rộng chia thành 61 phường. Tại đây không chỉ có chợ mà còn có phường thủ công và phố xá buôn bán.

Nền văn học chữ viết được hình thành với một đội ngũ tác giả hùng hậu. Đội ngũ này được tạo ra từ hai nguồn: một là các trí thức Phật giáo, hai là các trí thức Nho giáo. Phần chủ yếu trong văn học thời Lý là thơ, mà phần lớn lại là thơ của các nhà sư, do đó, nội dung liên quan đến triết học và giáo lí Thiền tông. 18 Tuy thế, nhiều bài thơ có ý nghĩa nhân sinh và giá trị văn hoá.

Đáng lưu ý nhất là Nam quốc sơn hà của Lý thường Kiệt, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Ở thời nhà Trần, đa số thi nhân đều khác thi nhân thời Lý, họ đều là các nho sĩ. Các tác giả như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh… còn để lại các tập thơ ở đời, đều xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Bên cạnh dòng văn học viết bằng chữ Hán, thời kì này chứng kiến sự hình thành của văn học chữ Nôm.

Sử sách có nhắc đến các tác giả có tác phẩm bằng chữ Nôm thời kì này là Trần Nhân Tông với Cư trần lạc đạo phú, Đắc thử lâm tuyền thành đạo ca; Mạc Đĩnh Chi với Giáo tử phú; Huyền Quang với Vịnh hoa Yên Tử phú; … Ngoài ra, thời kì này các tác giả văn Nôm khác như Nguyễn Sĩ Cồ, Chu Văn An, Hồ Quý Ly.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này không có tiêu đề cụ thể, nhưng có thể cung cấp những thông tin hữu ích cho độc giả về các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước, kinh tế và pháp luật. Độc giả sẽ tìm thấy những điểm nổi bật về cách thức quản lý và các giải pháp trong việc chống buôn lậu, gian lận thương mại, cũng như các nghiên cứu về thực vật và dược phẩm. Những thông tin này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về các lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, hãy tham khảo các tài liệu sau: Khóa luận tốt nghiệp kinh tế quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai để hiểu rõ hơn về các biện pháp quản lý trong lĩnh vực này. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Khóa luận tốt nghiệp luật kinh doanh những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam để nắm bắt các vấn đề pháp lý liên quan đến doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật về bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động và hôn nhân gia đình sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề quan trọng trong xã hội hiện nay.