mở đầu cho kỉ nguyên độc lập thời tự chủ của quốc gia Đại Việt. Thời kì này thường được gọi là thời nghìn năm Bắc thuộc, song có lẽ đúng hơn là thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vì người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục. Thành tựu văn hoá Ngay trong khi vay mượn, nhân dân ta vẫn thể hiện được tinh thần sáng tạo. Về văn hoá vật chất, từ chỗ tiếp thu được kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc, nhân dân ta đã biết tìm tòi, khai thác nguyên liệu địa phương (gỗ trầm, rêu biển) để chế tác những loại giấy chất lượng.
Trong khi chịu ảnh hưởng của kĩ thuật gốm sứ Trung Quốc, ta vẫn sản xuất ra các mặt hàng độc đáo như sanh hai quai, ống nhổ, bình con tiện đầu voi, bình gốm có nạm hạt đá ở chung quanh cổ. Về văn hoá tinh thần, trước tiên là sự đấu tranh thường xuyên chống âm mưu đồng hoá của kẻ thù để bảo tồn nòi giống Việt. Biểu hiện rõ rệt của sự bảo tồn giống nòi và văn hoá Việt là sự bảo tồn tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của dân tộc. Tiếng nói là một thành tựu văn hoá, là một thành phần của văn hoá.
Khi bị đế chế Trung Hoa chinh phục và kiểm soát chặt chẽ, tiếng Hán và chữ Hán được du nhập ồ ạt vào nước ta. Song nó không thể tiêu diệt được tiếng Việt bởi một lí do rất 15 đơn giản là chỉ một lớp người thuộc tầng lớp trên học. Nhân dân lao động trong các xóm làng Việt cổ vẫn sống theo cách sống riêng của mình, cho nên họ duy trì tiếng nói của tổ tiên, tiếng nói biểu hiện cuộc sống và tâm hồn người Việt. Dĩ nhiên, dưới ách thống trị lâu năm của người ngoài, trong cuộc sống đã xảy ra những biến đổi về vật chất và tinh thần, đã nảy sinh những nhu cầu mới.
Cho nên tiếng Việt cũng phải biến đổi và phát triển. Trải qua nhiều thế kỉ, tiếng Việt ngày càng xa với trạng thái ban đầu của nó. Nó đã hấp thu những yếu tố ngôn ngữ Hán. Tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán.
Ta thấy nhiều từ gốc Hán ngay cả trong vốn từ vị cơ bản và trong các hư từ. Nhưng nhân dân ta đã hấp thu ảnh hưởng của Hán ngữ một cách độc đáo, sáng tạo, đã Việt hoá những từ ngữ ấy bằng cách dùng, cách đọc, tạo thành một lớp từ mới mà sau này người ta gọi là từ Hán - Việt. Trước và trong thời Bắc thuộc, tiếng Việt cũng tiếp thu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ Mã Lai, Tạng- Miến và nhất là Ấn Độ (các từ chỉ cây trồng như mít, lài. và đặc biệt là các từ thuộc về Phật giáo như Bụt, bồ đề, bồ tát, phù đồ, chùa, tháp, tăng già…).
Điều đó khiến vốn từ tiếng Việt thêm phong phú. Từ thời Hùng Vương, đã có một nền phong hoá riêng của người Việt cổ tuy còn giản dị, chất phác. Bọn đô hộ cố sức đưa vào xã hội Việt cổ nhiều thứ lễ giáo Trung Hoa (chủ yếu là lễ giáo của đạo Nho). Điều đó ảnh hưởng đến phong hoá Việt Nam.
Đó là điều không tránh khỏi. Và nhân dân ta có khả năng thích ứng vô hạn với mọi loại tình thế trong khi những truyền thống dân tộc và dân gian của nền phong hoá Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát triển. Nếu một mặt lễ giáo Trung Hoa ít nhiều đã tăng cường sự áp chế trong gia đình và củng cố chế độ phụ quyền thì mặt khác nó không thể ngăn cản được sự củng cố ở một mức nhất định những truyền thống tích cực của xã hội làng xóm của ta, như lòng tôn kính và biết ơn đối với cha mẹ tổ tiên, đặc biệt là lòng tôn trọng phụ nữ của phong hoá Việt cổ. Lễ giáo Trung Hoa có đặc trưng là sự khinh miệt phụ nữ, cố sức thắt chặt họ vào cỗ xe “tam tòng, tứ đức” nhưng vẫn không ngăn cản được truyền thống dũng cảm đánh giặc và lãnh đạo nhân dân đánh giặc của Hai Bà Trưng, Bà triệu…Vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội vẫn được đề cao.
Từ thời Hán, nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã đạt đến trình độ cao và có ảnh hưởng lớn ở vùng Đông Á. Nền văn học nghệ thuật ấy cũng dần được du nhập vào nước ta và cũng để lại dấu ấn trên sự phát triển của nền văn hoá Việt. Thời 16 Văn Lang, Âu Lạc, ta chưa có một nền văn học chính thức và thành văn tuy vẫn có một đời sống văn hoá khá cao. Nét đặc trưng của nó là văn hoá ngôn từ với phương thức thông tin truyền miệng.
Nền văn nghệ dân gian của ta khá giàu có và tiếp tục phát triển dưới dạng các huyền thoại, cao dao, tục ngữ. Cuộc sống của nông dân còn hạn chế trong khuôn khổ xóm làng, vùng địa phương, với những điều kiện còn chật hẹp, cho nên sự sáng tạo về nghệ thuật còn mang tính chất giản dị. Sự du nhập nền văn học nghệ thuật Trung Quốc đã có một tác dụng tích cực nhất định đối với đời sống văn hoá Việt Nam, nhất là ở một số trung tâm chính trị và buôn bán tập trung như Luy Lâu, Long Biên… Về âm nhạc, bên cạnh một số nhạc cụ có chịu ảnh hưởng Trung Hoa như khánh, chuông…chịu ảnh hưởng Ấn Độ và Trung Á như trống cơm, hồ cầm, vẫn tồn tại những nhạc cụ độc đáo của nền nhạc Việt như trống, khèn, cồng chiêng… Trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, đất nước ta không bị diệt vong, dân tộc ta không bị đồng hoá, mà còn lớn lên về mọi mặt để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần chiến thắng ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. Mặt khác, nhân dân ta biết bảo tồn và phát huy những tinh hoa của văn hoá cổ truyền, nhưng cũng biết hấp thu có chọn lọc những nhân tố văn hoá ngoại lai để làm phong phú cho nền văn hoá dân tộc và tăng thêm tiềm lực cho mọi mặt của đất nước.
Trên cơ sở văn minh nông nghiệp và xóm làng, nhân dân ta tiếp thu một số yếu tố văn hoá Trung Quốc, Ấn Độ và vùng biển phương Nam như giống cây trồng mới (kê, cao lương, một số loại đậu…); kĩ thuật nông nghiệp mới (bón phân bắc, guồng nước…); kĩ thuật thủ công (dệt lụa gấm, làm đồ sứ, làm giấy…); và cả một số tập quán trong ăn, mặc, ở, cách đặt tên họ… Đối lập với sức mạnh của một đế chế lớn mạnh, đông dân, nhiều của, đông quân, nhân dân ta đã tạo lập nên sức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc là khởi nghĩa nhân dân, có tính quần chúng rộng rãi, mau chóng phát triển thành chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc. Nhờ đó, trong cuộc đấu tranh trường kì chống Bắc thuộc, lực lượng dân tộc về tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá…đều trưởng thành. Và cuối cùng, thế kỉ X với chiến thắng lịch sử Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo, cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang.
Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ a. Bối cảnh lịch sử Thời kì này bắt đầu từ khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa cho đến năm 1858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lước nước ta ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Thành tựu văn hóa - Thế kỉ XI - XV và thành tựu văn hoá triều đại Lý - Trần, Hồ: Sau khi dời đô, tại Thăng long, nhà Lý cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài, thành luỹ. Thành Thăng Long là một công trình xây dựng thành luỹ lớn nhất trong các triều đại phong kiến.
Kiến trúc thời Lý phát triển rất mạnh. Những di tích thời Lý còn lại đến nay như Chùa Giạm, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Dọi - Hà Nam); tháp Chương Sơn (Ý Yên - Nam Định)… đều là những công trình có quy mô lớn. Các công trình này đều có sự hoà hợp với thiên nhiên xung quanh. Vì vậy, nói đến mĩ thuật thời kì này chủ yếu là kiến trúc các ngôi chùa và tượng Phật.
Nghệ thuật điêu khắc trên đá, trên gốm thể hiện một phong cách đặc sắc và một tay nghề khá thuần thục. Cùng với kiến trúc, các nghề thủ công rất phát triển ở thời Lý như dệt, gốm, mĩ nghệ… Nghề dệt đã có nhiều thành tựu. Từ vải, lụa đến những loại gấm đoạn với đủ các màu sắc và hoạ tiết trang trí đặc sắc đã được những người thợ dệt khéo tay và thông minh nhà Lý làm ra. Nghề gốm là nghề có bước phát triển khá dài và đạt trình độ cao.
Những lò gốm thời kì này làm ra khá nhiều gạch, ngói đặc biệt là loại ngói bằng sứ trắng, ngói tráng men và những loại gạch khổ lớn có trang trí và khắc niên hiệu đời Lý. Thời Trần, nghề thủ công còn có những bước phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất một mặt hàng nhất định, như làng Ma Lôi (Hải Hưng). Kinh thành Thăng Long mở rộng chia thành 61 phường. Tại đây không chỉ có chợ mà còn có phường thủ công và phố xá buôn bán.
Nền văn học chữ viết được hình thành với một đội ngũ tác giả hùng hậu. Đội ngũ này được tạo ra từ hai nguồn: một là các trí thức Phật giáo, hai là các trí thức Nho giáo. Phần chủ yếu trong văn học thời Lý là thơ, mà phần lớn lại là thơ của các nhà sư, do đó, nội dung liên quan đến triết học và giáo lí Thiền tông. 18 Tuy thế, nhiều bài thơ có ý nghĩa nhân sinh và giá trị văn hoá.
Đáng lưu ý nhất là Nam quốc sơn hà của Lý thường Kiệt, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Ở thời nhà Trần, đa số thi nhân đều khác thi nhân thời Lý, họ đều là các nho sĩ. Các tác giả như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh… còn để lại các tập thơ ở đời, đều xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Bên cạnh dòng văn học viết bằng chữ Hán, thời kì này chứng kiến sự hình thành của văn học chữ Nôm.
Sử sách có nhắc đến các tác giả có tác phẩm bằng chữ Nôm thời kì này là Trần Nhân Tông với Cư trần lạc đạo phú, Đắc thử lâm tuyền thành đạo ca; Mạc Đĩnh Chi với Giáo tử phú; Huyền Quang với Vịnh hoa Yên Tử phú; … Ngoài ra, thời kì này các tác giả văn Nôm khác như Nguyễn Sĩ Cồ, Chu Văn An, Hồ Quý Ly.