CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHỐNG BUÔN LẬU, HÀNG GIẢ VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề về buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại 1. Khái niệm về buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại 1. Buôn lậu Theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đưa ra khái niệm: Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép hàng cấm qua biên giới hoặc buôn bán hàng hoá nói chung qua biên giới mà trốn thuế, chưa qua sự kiểm tra của hải quan.
Trong đó, “hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam. Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP, “Hàng hóa nhập lậu” gồm: - Hàng hóa cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật; - Hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu có điều kiện mà không có giấy phép nhập khẩu hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định kèm theo hàng hóa khi lưu thông trên thị trường; - Hàng hóa nhập khẩu không đi qua cửa khẩu quy định, không làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật hoặc gian lận số lượng, chủng loại hàng hóa khi làm thủ tục hải quan; - Hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ kèm theo theo quy định của pháp luật hoặc có hóa đơn, chứng từ nhưng hóa đơn, chứng từ là không hợp pháp theo quy định của pháp luật về quản lý hóa đơn; - Hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật phải dán tem nhập khẩu nhưng không có tem dán vào hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc có tem dán nhưng là tem giả, tem đã qua sử dụng. Hàng giả Hàng giả, hàng giả hiệu hay hàng nhái là hàng tiêu dùng vi phạm luật bản quyền giả hiệu chính tông với mẫu mã giống những thương hiệu có tiếng rồi bán ra thị trường để gạt người tiêu thụ bằng cách bán giá cao để có lợi nhuận tốt. Khái niệm hàng giả theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP, gồm các loại sau: 7 - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; - Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; - Tem, nhãn, bao bì giả.
Gian lận thương mại Trong Việt Nam hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào đề cập một cách tổng quát và đầy đủ nhất khái niệm về gian lận thương mại. Tại một số văn bản pháp quy, gian lận thương mại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở các Bộ, ngành, các nhà quản lý khác nhau với mục đích phục vụ cho yêu cầu quản lý; nhận diện những hành vi khác nhau của gian lận thương mại cụ thể trên từng lĩnh vực như: trong lĩnh vực Hải quan, tài chính, bảo hiểm,… với những chế tài xử phạt khác nhau. Căn cứ khoản 2, Điều 71, Mục 2, Chương II của Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2006 về hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá không được thực hiện các hành vi sau: - Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn; 8 - Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hoá mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa; - Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở giao dịch hàng hoá; - Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật. Gian lận thương mại là hành vi dối trá, sử dụng mánh khóe, lừa đảo trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính.
Chủ thể tham gia hành vi lừa đảo, gian lận thương mại bao gồm: người mua, người bán, hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hóa, dịch vụ. Nói tóm lại, từ các khái niệm trên, hoạt động buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại được hiểu là hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá trái phép. Từ những sản phẩm hàng hoá sản xuất ra giống với những sản phẩm nhà nước công nhận và cho phép sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trên thị trường không có nguồn gốc rõ ràng hoặc giả mạo các thương hiệu hàng hoá trên thị trường với mục đích lợi nhuận bất chính sẽ mang lại những tổn thất lớn cho nền kinh tế. Vì vậy, việc này đòi hỏi các Bộ, cơ quan về luật pháp cần có những bộ luật, nghị định, các văn bản quy phạm pháp luật để đi sâu trong việc phát hiện và xử phạt đối với những hành vi vi phạm này.
Đặc điểm về buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại Hoạt động buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại luôn tồn tại trong mọi nền kinh tế. Khi nền kinh càng mở cửa thì hoạt động này diễn ra ngày càng tinh vi với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, những hoạt động về buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đều có những đặc điểm chung như sau: - Hoạt động buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại thường diễn ra lén lút nhằm qua mặt các cơ quan quản lý Nhà nước. Vì hoạt động này là một hoạt động phi pháp do mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng lậu đều tiến hành ở những nơi có ít sự quản lý của các cơ quan chức năng, hoặc những nơi thưa dân, giao thông đi lại khó khăn nhằm hạn chế sự rà soát, kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước nói chung và Sở Công Thương cùng các cơ quan ban ngành liên quan khác nói riêng.
- Hoạt động buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại diễn ra sôi nổi vào thời điểm cuối năm, đặc biệt trong giai đoạn Tết nguyên đán. Nguyên nhân do tại thời điểm này, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng cao bởi vậy dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hoá. Lợi dụng tình hình hoạt động mua bán sôi nổi trên thị trường các đối tượng xấu nhanh chóng tăng cường hoạt động buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. - Cùng với sự phát triển của công nghệ, hoạt động sản xuất và buôn bán hàng lậu, hàng giả và gian lận thương mại cũng trở nên ngày càng nhiều hơn.
Rất khó để 9 phân biệt hàng thật, hàng giả từ những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho đến mặt hàng tiêu dùng cao cấp. Hàng lậu, hàng giả không chỉ đa dạng hoá về mặt mẫu mã, chủng loại, công nghệ sản xuất mà còn cả về mã vạch giống hệt các loại hàng hoá thật trên thị trường mà mắt thường khó phát hiện được. - Các hàng hoá buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại phần lớn là những hàng hoá kém chất lượng, không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn,… sau đó được làm giả các đặc điểm, tính chất giống như hàng thật có thương hiệu và chất lượng tốt. Hoặc cá biệt cũng có thể là hàng hoá chất lượng tốt nhưng vì không muốn tốn kém chi phí và thời gian quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại để sản phẩm ngày được tin dùng và tồn tại lâu dài nên chủ kinh doanh đã tìm cách để sản phẩm của mình ẩn náu, núp dưới nhãn hiệu nổi tiếng của hàng hoá cùng loại.
Nhờ những thủ đoạn như vậy mà chủ kinh doanh đốt cháy được giai đoạn tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng và thu về lợi nhuận bất chính từ hoạt động này. Nhìn chung, các mặt hàng buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đều được mô phỏng giống hàng thật nên rất dễ có sự nhầm lẫn. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước cần có biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng trong việc phân biệt hàng lậu và hàng giả từ đó bảo vệ quyền lợi và lợi ích cho nhà sản xuất và người tiêu dùng. Tổng quan quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại 1.