Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 1 - 5 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn hành 1997 ---o0o--- Nguồn http://www.com Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 1 - 5 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Lời Nói Đầu. 7 Duyên Khởi Luận. 7 PHẨM TỰA ĐẦU .21 GIẢI THÍCH: NHƢ THỊ, NGÃ VĂN, NHẤT THỜI .32 GIẢI THÍCH: TỒNG THUYẾT NHƢ THỊ NGÃ VĂN .45 GIẢI THÍCH: BÀ-GIÀ-BÀ .64 GIẢI THÍCH: TRÚ VƢƠNG-XÁ THÀNH .76 GIẢI THÍCH: CỌNG MA-HA TỲ-KHEO TĂNG .93 GIẢI THÍCH: "NGHĨA BA CHÚNG" .95 GIẢI THÍCH: BỔ-TÁT .127 GIẢI THÍCH: "MA-HA TÁT-ĐỎA" .132 GIẢI THÍCH: "BỔ-TÁT CÔNG ĐỨC".132 Lời Nói Đầu Kinh Bát-Nhã (Prajna) đƣợc lƣu hành rất sớm tại Ấn độ. Khoảng 700 năm sau khi Phật diệt độ (cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III Tây lịch), lúc Bồ-tát Long Thọ (Nagarjuna) ra đời đã có hai bộ kinh Bát-Nhã hoàn thiện là Tiểu Phẩm Bát Nhã, còn gọi là Bát-Nhã 8.000 bài tụng (Astasàhasrikà - Prajnãpàramità) gồm 10 cuốn 29 Phẩm và bộ Đại Phẩm Bát-Nhã 25.000 bài tụng (Pancavimsati - Sàhasrikà - Prajnãpàramita) gồm 27 hay 30, 40 cuốn 9 Phẩm.
Bồ-tát Long Thọ viết luận giải thích kinh Đại Phẩm Bát-Nhã đề tên là Maha Prajnãpàramità sastra, gồm có 100 cuốn 90 Phẩm. Năm 402 Tây lịch, Tam tạng Pháp sƣ Cƣu-ma-la-thập (Kumarajva) đến Trung hoa dịch kinh Đại Phẩm Bát-Nhã ra Hán văn đề là Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa kinh (tƣơng đƣơng Hội thứ hai trong kinh Đại Bát-nhã của ngài Huyền Trang dịch) và dịch Luận Maha Prajnãpàramità ra Hán văn tên là Đại Trí Độ luận hay Đại Trí Độ kinh luận, Trí luận, Đại luận, gồm 100 cuốn 90 Phẩm, từ Phẩm Tựa Đầu cho đến Phẩm Chúc Lụy cuối. Có hai thể luận là Tôn Luận và Thích Luận. Lấy một ý nào trong Kinh nêu làm tôn chỉ rồi diễn dịch, hệ thống thành luận gọi là Tôn Luận, nhƣ luận Thập Nhị Môn, Trung luận, Du Già Sƣ Địa luận v.v… Còn viết luận giải thích Kinh nhƣ luận Đại Trí Độ gọi là Thích Luận.
Căn cứ theo luận Đại Trí Độ thì trong 90 Phẩm, 66 Phẩm đầu của Kinh là nói về Bát-nhã đạo, còn 24 Phẩm sau của Kinh là nói về Phƣơng tiện đạo. Nếu căn cứ theo sách Đại Phẩm Kinh Nghĩa Lƣợc Tự của ngài Cát Tạng thì trong 90 Phẩm của Kinh, 6 Phẩm đầu Phật nói cho hạng thƣợng căn nhƣ Xá-lợi-phất v.v… Phẩm thứ 7 đến Phẩm thứ 14 Phật sai ngài Tu-bồ-đề nói cho hàng trung căn; từ Phẩm 45 đến Phẩm 90 là Phật nói cho hàng hạ căn nhƣ chƣ thiên, loài ngƣời. Luận Đại Trí Độ là một bộ luận lớn, bộ luận căn bản của Phật pháp, giảng giải bao quát nhiều vấn đề liên quan đến học thuyết, tƣ tƣởng, truyền thuyết, lịch sử, địa lý, các quy định thực tiễn, giới luật Tăng già; dẫn dụng nhiều Kinh sách bao hàm cả kinh A-hàm, luận A-tỳ-đàm của các Bộ phái, các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy- ma-cật, A-di-đà, luôn cả tƣ tƣởng của phái Thắng luận… Cho nên ví nó nhƣ là một bộ Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thƣ. Tác phẩm của Bồ-tát Long Thọ có nhiều nhƣ Trung luận, Thập Nhị Môn luận, Đại Trí Độ luận, Thập Trụ Tỳ-bà-sa luận, Bồ-đề Tƣ lƣơng luận, Hồi Tránh luận v.v… nhƣng trong đó chủ yếu nhất phải kể là Trung luận và luận Đại Trí Độ.
Ở Trung luận thì nhấn mạnh về mặt giảng lý chơn không, còn ở luận Đại Trí Độ giải thích kinh Đại Phẩm Bát-nhã thì nhấn mạnh về mặt thuyết giảng lý thật tƣớng diệu hữu. Không thấu triệt tính chơn không của hiện hữu thì hữu ấy là vọng hữu, thấu triệt đƣợc tính chơn không của hiện hữu thì hữu ấy là diệu hữu. Tƣ tƣởng "Không" của Bát-nhã là cốt gạt bỏ mọi quan niệm vọng tƣởng cố định, luôn luôn nhìn thế giới theo hai mặt (nhị biên) là sinh diệt, có không, thƣờng đoạn, một khác, hữu biên, vô biên v.v… Vì vậy mà chơn tánh của thế giới bị bóp méo, bị che lấp. Chỉ có thể nói chơn tánh của thế giới là không, là vô tƣớng, không sanh không diệt, không đi không lại, không có không không v.v… trong đó không có thể thêm vào một thuộc tánh nào nữa đƣợc Đễ thấu triệt "Không tánh" ấy ngƣời ta thƣờng theo hai lối quán là Tích không quán và Thể không quán.
Quán pháp phân tích thấy các pháp không tự có mà phải do nhân duyên hòa hợp mới có, có một cách giả tạo, trống rỗng, không có thật tánh; nhƣ vậy gọi là Tích không quán. Nếu không thông qua sự quán sát phân tích nhân duyên, mà chỉ thể nhận trực tiếp "Không tính" thấy sự vật nhƣ thấy trăng dƣới nƣớc, bóng trong gƣơng v.v…; nhƣ vậy gọi là Thể không quán. Bát-nhã chứng chơn không, không phải là dùng tƣ tƣởng để hƣ vô hóa sự vật, hƣ vô hóa thế giới, mà là để thấy rõ thật tánh của sự vật, của thế giới là Không. Dù cho khi ta đang do vọng tƣởng thấy sự vật có thì tánh nó vẫn là Không, một cái Không tuyệt đối, không vƣớng một tƣớng gì; nó nhƣ một luồng gió mạnh thổi tan đi bao nhiêu đám mây mù lởn vởn che lấp tâm trí, làm cho mọi hành động bị lúng túng, vƣớng vấp, hạn hẹp.
Và khi tâm trí đã ra khỏi mây mù vọng tƣởng thì mọi sinh hoạt sẽ tự tại vô ngại không vƣớng vào danh tƣớng ngã nhân. Khi đã có lối nhìn của Bát-nhã thì các pháp môn tu hành đều đƣợc thành cứu kính Ba- la-mật. Cái Không theo Bát-nhã là cái không tức nơi có mà không, chứ không phải diệt có thành không; cái Không theo Bát-nhã là cái Không tuyệt đối, chứ không phải cái Không đối đãi, không đối với có. Các pháp tánh không mà chấp cho là thật có ấy là vọng tƣởng lý luận.
Nhƣng nếu lại chấp tƣớng không mà phá hủy tất cả, thì lại rơi vào tà kiến. Vì vậy mà trong luận này đã cảnh tỉnh nhƣ sau: "Ngƣời tà kiến nói các pháp không, lại chấp thủ tƣớng không của các pháp. Ngƣời tà kiến tuy miệng nói hết thảy không, mà ở nơi tham ái thì sanh tham ái, nơi sân giận thì sanh sân giận, nơi kiêu mạn thì sanh kiêu mạn, nơi ngu si thì sanh ngu si, chỉ tự dối mình nhƣ vậy. Còn ngƣời chơn thật biết không, thì tâm không lay động, nơi tất cả các chỗ kiết sử sanh không còn sanh lại đƣợc.
Ví nhƣ hƣ không, khói lửa không làm nhơ, mƣa lớn không làm ƣớt. Quán không đƣợc nhƣ vậy, các phiền não không còn dính tâm". Và một đoạn khác nói: "Ngƣời quán Chơn không, trƣớc hết thực hành bố thí, trì giới, thiền định, tâm đƣợc mềm dịu, các kiết sử mỏng, vậy sau mới đắc Chơn không. Còn ngƣời tà kiến thì không có các việc nhƣ vậy, họ chỉ muốn dùng ức tƣởng phân biệt, tà kiến thủ không.
Ví nhƣ ngƣời chƣa hề biết muối, khi thấy ngƣời khác nêm muối vào thức ăn, ngƣời ấy hỏi lý do thì đƣợc ngƣời kia trả lời là muối sẽ làm cho đồ ăn ngon lành. Ngƣời ấy suy nghĩ, nhƣ vậy thì muối càng nhiều càng ngon, liền lấy toàn muối bỏ vào đầy miệng mà ăn, bị muối làm lở miệng, trở lại trách hỏi ngƣời kia, ngƣời kia nói sao anh ngu vậy, phải biết trù lƣợng nhiều ít hòa hợp mới ngon, chứ sao lại ăn cả toàn muối! Cũng nhƣ vậy, ngƣời vô trí nghe nói "Không giải thoát môn", liền bỏ hết không chịu thực hành các công việc công đức mà chỉ muốn chứng đƣợc Không. Thế là ngƣời tà kiến, dứt bỏ các thiện căn". Tôi ƣớc nguyện dịch bộ luận Đại Trí Độ này từ lâu nhƣng nay mới đủ duyên thực hiện đƣợc bƣớc đầu.
Luận dẫn dụng nhiều Kinh luận, trong đó có các luận A-tỳ-đàm, đƣợc dẫn ra để chỉ chỗ sai lầm hoặc để giải thích tinh thần Bát-nhã. Nếu muốn hiểu cho hết thì phải có thì giờ đọc các luận A-tỳ-đàm mới đƣợc. Luận này đã đƣợc ông Étienne Lamotte dịch ra tiếng Pháp nhan đề là Le Traité de la Grande vertu de Sagesse và Trƣờng Đại học Louvain xuất bản tập đầu năm 1944, tập 3 năm 1970, tập 5 năm 1980. Các tập khác không rõ xuất bản năm nào vì hiện trƣớc mắt tôi chƣa có đƣợc.
Tôi nghĩ rằng bản chữ Hán, chữ Pháp và bản chữ Việt đối chiếu với nhau thì có thể giúp ngƣời đọc hiểu dễ dàng hơn. Phật lịch 2541 Từ Đàm, tháng 9 năm 1997 Thích Thiện Siêu --o0o-- Cuốn 1 Duyên Khởi Luận "Đƣờng lớn Trí Độ, Phật khéo đến, Biển lớn Trí Độ, Phật thấu suốt, Nghĩa, tƣớng Trí Độ, Phật vô ngại Kính lễ Phật, Trí Độ vô đẳng. Hạt kiến có không, dứt không còn, Thật tƣớng các pháp, Phật đã nói, Thƣờng trụ bất hoại, sạch phiền não. Kính lễ Pháp, mà Phật tôn trọng.
Biển cả Thánh chúng làm ruộng phƣớc, Bậc học, vô học để trang nghiêm, Đã sạch giống ái của đời sau, Ngã sở đã dứt, căn đã trừ. Đã xả các sự nghiệp thế gian, Là trú xứ của các công đức. Tối thƣợng giữa tất cả chúng hội, Kính lễ chân tịnh Đại đức Tăng. Đã nhất tâm cung kính Tam Bảo, Các bậc cứu thế: Ngài Di-lặc (Maitreya) Trí tuệ đệ nhất: Xá-lợi-phất (Sàriputta), Vô tránh không hạnh: Tu-bồ-đề (Subhùti) Tôi nay theo sức muốn diễn nói, Nghĩa thật tƣớng đại trí bờ kia.
Nguyện các Đại đức, bậc Thánh trí, Nhất tâm khéo thuận nghe tôi nói". Hỏi: * Vì nhân duyên gì mà Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật? Phép tắc của chƣ Phật không vì vô sự và nhân duyên nhỏ mà tự giảng pháp; cũng nhƣ núi Tu-di (Sumeru) cũng không vì vô sự và nhân duyên nhỏ mà rung động. Vậy, nay có nhân duyên to lớn gì mà Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật? Đáp: * Ở trong Tam Tạng, Phật dùng đủ loại thí dụ để thuyết pháp cho hàng Thanh-văn mà không thuyết đến Bồ-tát đạo. Duy trong kinh Bản-mạt (Pùrvaparàntàka sutra) của Trung-A-hàm (Madhyamà), Phật tuy có thọ ký cho Bồ-tát Di-lặc rằng: "Đời sau ông sẽ đƣợc thành Phật hiệu là Di-lặc", mà cũng không nói đến Bồ-tát hạnh.
Nay Phật muốn giảng đủ các Bồ-tát hạnh cho Di-lặc v.v… cho nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. * Lại nữa, có vị Bồ-tát tu Niệm Phật tam muội, Phật muốn khiến họ đối với Tam muội này đƣợc tăng ích, nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Nhƣ Phẩm đầu trong kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật nói: "Phật hiện thần túc, phóng ra ánh sáng sắc vàng chiếu khắp mƣời phƣơng thế giới nhiều nhƣ cát sông Hằng. Thị hiện thân lớn, sáng suốt trong sạch, đủ các thứ sắc đẹp đầy khắp hƣ không, Phật ở giữa chúng, đoan chánh thù diệu không ai sánh kịp; thí nhƣ núi chúa Tu-di nổi giữa biển cả, các Bồ-tát nhờ thấy sự thần biến của Phật, nên tăng thêm lợi ích đối với Niệm Phật tam muội.