Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 11 - 15 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn hành 1997 ---o0o--- Nguồn http://www.com Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 11 - 15 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Cuốn 11. 4 GIẢI THÍCH: XÁ-LỢI-PHẤT NHÂN DUYÊN .14 GIẢI THÍCH: ÐÀN BA-LA-MẬT .17 GIẢI THÍCH: TÁN THÁN ÐÀN BA-LA-MẬT .19 GIẢI THÍCH: TƢỚNG CỦA ÐÀN BA-LA-MẬT.29 GIẢI THÍCH: ÐÀN BA-LA-MẬT PHÁP THÍ .60 GIẢI THÍCH: THI BA-LA-MẬT .65 GIẢI THÍCH: NGHĨA CỦA GIỚI TƢỚNG .87 GIẢI THÍCH: TÁN THÁN NGHĨA THI-LA BA-LA-MẬT .91 GIẢI THÍCH: THI-LA BA-LA-MẬT .98 GIẢI THÍCH: SẰN-ÐỀ BA-LA-MẬT.112 GIẢI THÍCH: SẰN-ÐỀ BA-LA-MẬT PHÁP NHẪN .125 GIẢI THÍCH: TỲ-LÊ-GIA BA-LA-MẬT .125 Cuốn 11 CHƢƠNG 16 GIẢI THÍCH: XÁ-LỢI-PHẤT NHÂN DUYÊN KINH: Phật bảo Xá-Lợi-Phất. LUẬN: Hỏi: Bát-nhã Ba-la-mật là pháp của Bồ-tát Ma-ha-tát, vì sao Phật bảo Xá- Lợi-Phất mà không bảo Bồ-tát? Ðáp: Xá-Lợi-Phất là vì trí tuệ bậc nhất trong tất cả đệ tử, nhƣ Phật có bài kệ nói: "Trí hết thảy chúng sanh, Chỉ trừ Phật Thế Tôn, Muốn sánh Xá-Lợi-Phất Trí tuệ và đa văn, Ở trong mười sáu phần, Còn không bằng được một". Lại nữa, Xá-Lợi-Phất có trí tuệ đa văn và công đức lớn.
Năm mới tám tuổi đã tụng mƣời tám bộ kinh, thông hiểu hết thảy kinh sách nghĩa lý. Khi ấy ở nƣớc Ma-kiệt-đà có anh em Long vuơng, một tên là Cật-Lợi, một tên là A-già-hòa-la. Trời mƣa xuống đúng thời, nƣớc không bị mất mùa, nhân dân cảm phục, thƣờng chọn tháng trọng xuân, tất cả họp lại để đi đến chỗ ở của Rồng, mở đại hội, tấu nhạc, luận nghĩa trọn một ngày. Từ xƣa đến nay, sự tập hội ấy chƣa bõ, bèn lấy tên Rồng để đặt tên hội này.
Lệ thƣờng trong ngày ấy, trải bốn tòa cao, một cho Quốc vƣơng, một cho Thái tử, một cho Ðại thần, một cho Luận sƣ. Bấy giờ Xá- Lợi-Phất với cái thân tám tuổi, hỏi mọi ngƣời rằng: "Bốn tòa cao ấy đặt cho ai?" Mọi ngƣời đáp: "Cho Quốc vƣơng, thái tử, đại thần, luận sĩ". Khi ấy Xá-Lợi-Phất quán sát ngƣời đƣơng thời Bà-la-môn v. thấy thần tình, đởm lƣợc, chí hƣớng của họ, không ai hơn mình, bèn bƣớc lên tòa dành cho luận sĩ, kiết già phu tọa.
Mọi ngƣời thấy vậy nghi ngờ lấy làm lạ, hoặc bảo đó là nhỏ dại vô tri, hoặc bảo là có trí tuệ hơn ngƣời. Tuy khen cho là thần dị, nhƣng vẫn ôm lòng kiêu căng, sợ xấu hổ với tuổi nhỏ kia, không tự mình nói với; mà sai đệ tử niên thiếu chuyển lời để hỏi. Xá-Lợi-Phất đáp lại đúng chỉ thú, lời lẽ nghĩa lý siêu tuyệt. Khi ấy các Luận sƣ tán thán là chƣa từng có.
Không luận kẻ ngu ngƣời trí, lớn nhỏ tất cả đều phục. Vua rất hoan hỷ, liền ra lệnh quan Hữu ty phong tặng một làng để cung cấp thƣờng xuyên. Vua cỡi xe Voi, rung lịnh tuyên cáo cho tất cả đều rõ. Trong mƣời sáu đại quốc, sáu đại thành thảy đều vui mừng.
Khi ấy, với ngƣời con thầy bói tên là Câu-luật-đà, họ Ðại Mục-kiền-liên, Xá-Lợi- Phất kết làm bạn thân. Xá-Lợi-Phất thì tài trí thông minh đƣợc quý, Mục-kiền- liên thì sáng suốt khoát đạt đƣợc trọng. Hai ngƣời này tài trí ngang nhau, đức hạnh tƣơng đồng, đi thì cùng đi, ở thì cùng ở, nhỏ lớn quyến luyến, giao ƣớc chung thủy. Về sau cả hai nhàm chán việc đời, xuất gia học đạo, làm đệ tử của Phạm-chí.
Tinh cần cầu đạo, đã lâu mà chẳng có chứng nghiệm, mới đem hỏi Thầy. Thầy tên là Sằn-xà-gia (Sànjaya) trả lời rằng: "Từ khi Ta cầu đạo, trải bao nhiêu năm, chẳng biết là đạo quả không có chăng hay Ta không phải là ngƣời cầu đạo chăng mà Ta cũng chẳng đƣợc gì?" Một ngày kia ông Thầy mắc bệnh, Xá-Lợi-Phất đứng ở phía trên đầu, Mục-kiền- liên đứng ở phía dƣới chân, thấy thở hổn hển, mạng sắp chết, thƣơng xót mà cƣời. Hai ngƣời đồng lòng cùng hỏi cƣời vì ý gì? Ông Thầy trả lời: "Ngƣời đời không có mắt, bị ân ái bức bách, Ta thấy vua nƣớc Kim Ðịa chết, đại phu nhân của ông tự nhảy vào đống lửa, mong cùng ở một chỗ, nhƣng hai ngƣời ấy hành nghiệp và quả báo khác nhau, nơi sanh đến cũng khác nhau. Khi ấy hai ngƣời lấy viết ghi lại ý thầy, muốn để nghiệm xem hƣ thật".
Sau có ngƣời khách buôn nƣớc Kim Ðịa, từ xa đi đến nƣớc Ma-kiệt-đà, hai ngƣời lấy sự thật xét nghiệm, quả đúng nhƣ lời Thầy nói, mới bùi ngùi than rằng: "Chúng ta chẳng phải là hạng ngƣời cầu đạo chăng? Hay là Thầy còn giấu chúng ta chăng?" Hai ngƣời cùng nhau thề rằng: "Nếu ai gặp đƣợc vị cam lồ trƣớc, phải cho nhau cùng nếm!". Lúc ấy, Phật đã độ cả ngàn anh em ông Ca-diếp, đang lần lƣợt đi qua các nƣớc, đến thành Vƣơng-xá, dừng chân lại ở vƣờn Trúc. Hai thầy Phạm-chí nghe Phật ra đời, cùng nhau đi vào thành Vƣơng-xá để biết tin tức. Bấy giờ có một Tỳ- kheo tên là A-thuyết-thị (Assaji - một trong năm thầy Tỳ-kheo đƣợc Phật độ đầu tiên) mặc y cầm bát, vào thành khất thực.
Xá-Lợi-Phất trông thấy dung nghi y phục khác thƣờng, các căn tịch tịnh, trầm mặc, đi đến hỏi rằng: "Ngài đệ tử ai? Ngƣời nào là thầy của ngài?" Ðáp: "Thái tử dòng họ Thích nhàm chán sự khổ, già, bệnh, chết, xuất gia học đạo, chứng đƣợc Vô thƣợng Chánh đẳng Chánh giác, là Thầy của tôi". Xá-Lợi-Phất nói: "Thầy ông dạy thế nào nói cho tôi biết với?" Tỳ-kheo đáp kệ: "Tuổi tôi còn trẻ nhỏ, Ngày thọ giới mới mẻ, Ðâu thể diễn chí chơn, Nói rộng nghĩa Như Lai". Xá-Lợi-Phất nói: "Xin ngài hãy lƣợc nói nghĩa cốt yếu". Bấy giờ Tỳ-kheo A- thuyết-thị nói kệ: "Các pháp nhân duyên sanh, Pháp ấy là nhân duyên, Pháp ấy nhân duyên diệt, Ðại sư nói như vậy".
Xá-Lợi-Phất nghe kệ xong liền chứng đƣợc sơ quả, trở về để báo lại với Mục-- liên. Mục-liên trông thấy nhan sắc từ hòa vui vẻ, nghinh tiếp và hỏi: "Anh đƣợc vị cam lồ ƣ? Nói cho tôi biết?" Xá-Lợi-Phất liền nói lại bài kệ vừa đƣợc nghe. Mục-liên nói: "Hãy nói lại cho lần nữa", liền nói lại. Mục-liên nghe xong cũng chứng đƣợc Sơ quả.
Hai Thầy cùng hai trăm năm mƣơi đệ tử, đều đi đến chỗ Phật. Phật từ xa thấy hai ngƣời đi đến, bảo các Tỳ-kheo rằng: "Các ông đã từng thấy hai ngƣời ấy ở trƣớc các Phạm-chí chăng?" Các Tỳ-kheo thƣa: "Bạch Thế Tôn, đã thấy", Phật nói: "Hai ngƣời ấy là đệ tử đệ nhất và thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta". Hai ngƣời cùng chúng đệ tử đi dần đến gần Phật, đến rồi cúi đầu đứng qua một bên, cùng bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn đƣợc xuất gia thọ giới ở trong Phật pháp". Phật nói: "Thiện tai Tỳ-kheo!", tức thời râu tóc tự rụng, áo pháp mặc vào thân, y bát đầy đủ thọ giới thành tựu.
Qua nửa tháng sau, lúc Phật thuyết pháp cho Trƣờng Trão Phạm-chí, Xá-Lợi- Phất chứng đắc đạo quả A-la-hán. Sở dĩ nửa tháng sau mới đắc đạo là vì ngƣời sẽ làm Thầy theo Phật chuyển pháp luân, thì phải ở Học địa, phải hiện tiền tự chứng nhập các pháp, mỗi mỗi biết đầy đủ, thế nên nửa tháng sau mới chứng đắc đạo quả A-la-hán. Có các thứ công đức nhƣ vậy rất nhiều, thế cho nên Xá-Lợi-Phất tuy là A-la-hán, mà Phật đem pháp Bát-nhã Ba-la-mật sâu xa để nói cho. Hỏi: Nếu vậy, tại sao lúc đầu ít vì Xá-Lợi-Phất nói, về sau nhiều vì Tu-bồ-đề nói? Nếu vì trí tuệ bậc nhất, thì nên vì Xá-Lợi-Phất nói nhiều; cớ sao lại vì Tu- bồ-đề nói nhiều? Ðáp: Xá-Lợi-Phất là vị trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, Tu-bồ-đề là vị đƣợc Vô tránh tam muội đệ nhất trong hàng đệ tử Phật.
Tƣớng trạng của Vô tránh tam muội là thƣờng quán sát chúng sanh, không để tâm sinh phiền não, phần nhiều hành theo tâm lân mẫn. Các Bồ-tát là ngƣời mở rộng thệ nguyện lớn để độ chúng sanh, thƣơng xót đồng đều, thế nên Phật sai nói Bát-nhã Ba-la-mật. Lại nữa, Tu-bồ-đề ƣa tu Không tam muội. Nhƣ Phật ở cung trời Ðao-lợi, hạ an cƣ, thọ tuế xong, trở xuống lại Diêm-phù-đề.
Bấy giờ Tu-bồ-đề đang ở trong hang đá, tự suy nghĩ: "Phật từ trời Ðao-lợi đi xuống, ta nên đi đến chỗ Phật ƣ? Hay không nên đi đến chỗ Phật ƣ?" Lại nghĩ: "Phật thƣờng nói, nếu ngƣời dùng con mắt trí tuệ để quán Phật pháp thân, thời trong sự thấy Phật đó là hơn cả". Lúc ấy, vì Phật từ trời Ðao-lợi xuống, cho nên bốn bộ chúng trong Diêm-phù-đề tập họp, do đó mà chƣ thiên thấy ngƣời, ngƣời cũng thấy chƣ thiên. Ngồi ở giữa có Phật và Chuyển luân Thánh vƣơng, chƣ thiên, đại chúng. Chúng hội trang nghiêm, từ trƣớc chƣa từng có.
Tâm Tu-bồ-đề suy nghĩ: "Nay đại chúng này tuy là thù diệu đặc biệt, nhƣng thế không thể lâu bền, pháp sanh diệt đều trở về vô thƣờng". Nhân bƣớc đầu của phép quán vô thƣờng này, mà biết đƣợc tất cả đều là không, không có thật. Khi tu phép quán ấy, liền đƣợc chứng đạo. Bấy giờ, tất cả mọi ngƣời đều mong muốn thấy Phật để lễ kính cúng dƣờng.
Có Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc muốn trừ sự xấu của cái tiếng nữ, bèn hóa làm Chuyển luân Thánh vƣơng và bảy báu, ngàn đứa con. Mọi ngƣời trông thấy đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Hóa vƣơng đi đến chỗ Phật xong, trở lại thân nhƣ cũ làm Tỳ- kheo-ni trƣớc tiên đảnh lễ Phật. Khi ấy, Phật nói với Tỳ-kheo-ni: "Chẳng phải ngƣơi trƣớc tiên đảnh lễ Ta, mà chính Tu-bồ-đề trƣớc tiên đảnh lễ Ta, vì cớ sao? Vì Tu-bồ-đề quán các pháp Không, ấy là thấy Phật pháp thân, thành chơn cúng dƣờng, hơn hết trong các cúng dƣờng , chẳng phải do cung kính sanh thân là cúng dƣờng vậy.
Vì vậy, nên nói Tu-bồ-đề thực hành Không tam muội, cùng tƣơng ứng với tƣớng Không Bát-nhã Ba-la-mật. Thế nên Phật sai Tu-bồ-đề thuyết Bát-nhã Ba-la-mật. Lại nữa, vì chúng sanh tin kính vị A-la-hán, các lậu đã sạch hết, nên Phật sai thuyết, để chúng sanh tâm tịnh tín. Các Bồ-tát, chƣa hết lậu, nếu vì các ngƣời mà nói thì họ không tin.
Vì vậy, nên Phật đối với cả Xá-Lợi-Phất và Tu-bồ-đề mà thuyết Bát-nhã Ba-la-mật. Hỏi: Sao gọi là Xá-Lợi-Phất? Ðó là tên cha mẹ đặt? Hay dựa vào hành vi công đức mà đặt? Ðáp: Ðó là tên do cha mẹ đặt. Ở trong Diêm-phù-đề, nơi an lạc nhất có nƣớc Ma-kiệt-đà, trong nƣớc đó có thành lớn tên là Vƣơng-xá, vua tên là Tần-bà-sa- la, có vị luận sƣ dòng Bà-la-môn tên là Ma-đà-la. Vì ngƣời ấy luận nghị giỏi nên vua phong cho một ấp, cách thành lớn không xa.
Ma-đà-la còn có gia đình, vợ sanh một ngƣời con gái, có con mắt giống chim Xá-lợi, liền đặt tên con gái ấy là Xá-lợi.