Tổng quan luận án

Đề tài luận án nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) tại tỉnh Tuyên Quang, được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mỹ thuật học).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tranh thờ và tranh Tết là hai dòng tranh dân gian có lịch sử lâu đời tại Việt Nam. Trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, tranh thờ phản ánh hệ tư tưởng, quan niệm về vũ trụ, nhân sinh gắn liền với hệ thống thần linh Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa. Đối với cộng đồng người Sán Chay (nhóm Cao Lan) tại tỉnh Tuyên Quang, tranh thờ là đồ thờ giữ vai trò quan trọng trong các nghi lễ vòng đời và nghi lễ nông nghiệp. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình khoa học chủ yếu tiếp cận tộc người này từ góc độ dân tộc học, văn hóa học hoặc lịch sử. Các vấn đề về nghệ thuật tạo hình dân gian, ngôn ngữ thị giác và phong cách tạo hình của hệ thống tranh thờ người Sán Chay (nhóm Cao Lan) dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật chưa được khảo sát, nghiên cứu một cách chuyên biệt, chi tiết và có hệ thống. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát tiến trình lưu truyền, cách thức sử dụng và nghệ thuật tạo hình dân gian được biểu đạt trong tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang; nhận diện đặc trưng, giá trị nghệ thuật và các xu hướng biến đổi của hệ thống tranh thờ, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn, lưu giữ.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu chính:

  1. Tổng hợp, thu thập nguồn tư liệu, tài liệu và hiện vật liên quan đến tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
  2. Nhận diện nghệ thuật tạo hình dân gian thông qua các bộ tranh thờ; xác định bản sắc tạo hình của nhóm Cao Lan tại Tuyên Quang trong mối tương quan với các dòng tranh dân gian khác.
  3. Đánh giá đặc trưng, giá trị nghệ thuật và phân tích các xu hướng biến đổi về công đoạn vẽ, kỹ thuật và hình thức biểu đạt tạo hình trong tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) tại địa bàn nghiên cứu.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang được lưu truyền, sử dụng như thế nào?
  2. Nghệ thuật tạo hình dân gian của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) được biểu đạt ra sao qua các lớp nhân vật thần linh?
  3. Đặc trưng, giá trị nghệ thuật và xu hướng biến đổi nghệ thuật tạo hình tranh thờ người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay?

Tương ứng với các câu hỏi trên, ba giả thuyết nghiên cứu được xác định:

  • Giả thuyết 1: Tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang được lưu truyền qua nhiều thế hệ trong cộng đồng và sử dụng thường xuyên trong hoạt động tín ngưỡng. Hệ thống tranh bao gồm các bộ tranh chính, phụ với tên gọi và mục đích sử dụng khác nhau; cách thức sắp đặt, trưng bày từng bộ tranh trong từng nghi lễ tạo nên nét riêng biệt trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng địa phương.
  • Giả thuyết 2: Các yếu tố tạo hình (bố cục, hình mảng, màu sắc, đường nét, tổ chức không gian) được diễn đạt để thiết lập chặt chẽ hình ảnh các nhân vật thần linh với nhiều lớp nhân vật, tầng hình ảnh và không gian; đồng thời tồn tại những điểm tương đồng và dị biệt giữa tranh thờ của người Cao Lan ở Tuyên Quang với tranh thờ của chính tộc người này ở vùng tiếp giáp và tranh thờ của các dân tộc láng giềng.
  • Giả thuyết 3: Tồn tại những đặc trưng tạo nên phong cách nghệ thuật tạo hình mang giá trị nhân văn; trải qua tiến trình lưu truyền, hoạt động sáng tạo dân gian đã hình thành các xu hướng biến đổi về công đoạn vẽ và hình thức biểu đạt nghệ thuật tạo hình tranh thờ hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tạo hình tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang.
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát thực địa tại tỉnh Tuyên Quang, gồm 4 địa bàn hành chính: huyện Hàm Yên, huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang; kết hợp mở rộng so sánh với tranh thờ của các dân tộc khác và tranh thờ Cao Lan tại các địa phương lân cận như tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các bộ tranh thờ cũ có niên đại từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và các bộ tranh thờ mới được vẽ từ năm 2000 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án phân loại nguồn nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chuyên đề:

Nhóm nghiên cứu về lịch sử Đạo giáo và tộc người Sán Chay (nhóm Cao Lan)

Nghiên cứu của học giả người Pháp Bonifacy gồm Chuyên khảo về người Mán Quần cộc (1904) và Giản chí người Mán Cao Lan (công bố trên Revue Indochinoise, tr. 899-928) là những khảo tả thực địa sớm nhất về nguồn gốc lịch sử, địa bàn cư trú, tập quán canh tác, hoạt động thờ cúng và việc sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ của người Cao Lan tại miền núi phía Bắc Việt Nam.

Công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam - Các tỉnh phía Bắc (1978) do Viện Dân tộc học xuất bản, trong đó tác giả Nguyễn Nam Tiến xác định người Cao Lan - Sán Chỉ từng cư trú đông đảo tại vùng Thập Vạn Đại Sơn - Bạch Vân Sơn (khu vực biên giới Việt - Trung) trước khi di cư vào trung du Bắc Bộ cách đây khoảng bốn thế kỷ. Công trình Văn hóa Cao Lan (2004) của tác giả Lâm Quý dẫn văn bản thư tịch cổ ghi nhận nguồn gốc địa bàn xuất phát của người Cao Lan tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) vào thời nhà Minh và làm rõ quá trình di cư, định cư tại Tuyên Quang cách đây hơn 300 năm.

Về lịch sử và hệ thống thần linh Đạo giáo, cuốn sách Đạo giáo nhập môn (2011) của Trương Đạo Quả phân tích chín vấn đề cốt lõi của Đạo giáo (nguồn gốc, giáo nghĩa, tông phái, kinh điển, thần tiên, tiên cảnh, đạo thuật, nghi thức, văn hóa); cuốn sách 100 câu chuyện về Đạo giáo (2012) của Trương Tùng Quân phân tích nguồn gốc và tên gọi các vị thần; cuốn sách Đạo giáo (2019, 180 trang) của Trần Trọng Kim tóm thuật tư tưởng phái Đạo gia (Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử), đạo thần tiên thời Tần Hán và hiện tượng Tam giáo đồng nguyên tại Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu về văn hóa và tín ngưỡng của người Sán Chay (nhóm Cao Lan)

Công trình Lễ hội các dân tộc Hoa, Sán Dìu ở Việt Nam (2002) của Diệp Trung Bình khảo tả các nghi lễ Cấp sắc, Đại Phàn, Tháo Khoán, Kỳ Yên có sử dụng tranh thờ; Văn hóa Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật (tập 2, 2002) của Chu Quang Trứ phân tích mảng tranh thờ cúng dân gian trong mối liên hệ với tín ngưỡng Tam giáo và nghi lễ hầu đồng; Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam (2006) của Ngô Đức Thịnh tiếp cận văn hóa vùng núi qua nhóm ngôn ngữ và thư tịch cổ; Lễ hội truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang (2014) của Đặng Chí Thông khảo tả chi tiết sự biến đổi lễ hội truyền thống địa phương; luận án tiến sĩ Văn học dân gian Cao Lan nhìn từ văn hóa tộc người (2018) của Nguyễn Văn Ba tiếp cận truyện cổ, tục ngữ, sình ca.

Nhóm nghiên cứu về mỹ thuật dân gian và tranh thờ

Tác phẩm Tranh dân gian Việt Nam Sưu tầm và nghiên cứu (1960) của Maurice Durand thu thập tư liệu về tranh dân gian, bước đầu nhận diện tranh thờ miền núi trong dòng chảy văn hóa Đạo giáo Đông Nam Á; Tranh dân gian Việt Nam (1984) của Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ khảo sát tranh thờ các dòng Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng và so sánh với tranh miền núi; công trình Văn hóa truyền thống Cao Lan (1999, 170 trang) của Phù Ninh và Nguyễn Thịnh khảo tả cụ thể hai bộ tranh thờ chính của người Cao Lan gồm bộ 11 bức dùng trong tang lễ và bộ Tam Thanh 6 bức dùng trong lễ cầu chay; công trình Tranh đạo giáo ở Bắc Việt Nam (2001) của Phan Ngọc Khuê khảo tả hệ thống thần linh Đạo giáo, dịch nghĩa phần chữ Hán (lạc khoản) trên các bộ tranh thờ của các dân tộc Dao, Cao Lan, Tày, Nùng; công trình Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền Việt Nam (2007) của Ngô Đức Thịnh tuyển chọn bài viết về tranh thờ vùng núi; Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (tập 5, 2011) với bài viết của Cung Khắc Lược về tranh dân gian Việt Bắc và Trần Mai Thanh về tranh Hàng Trống nêu các kỹ thuật vẽ, sử dụng bút, chất liệu; luận văn thạc sĩ Tranh thờ của người Cao Lan xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (2014) của Hà Thu Huyền tiếp cận tranh thờ dưới góc độ văn hóa học; tác phẩm Tập tục đời người (2017) của Phan Cẩm Thượng phân tích hệ thần Đạo giáo trong tang ma; luận án tiến sĩ Nghệ thuật tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái (2022) của Nguyễn Sinh Phúc nghiên cứu ngôn ngữ tạo hình và tiếp biến văn hóa của tranh thờ người Dao.

Bên cạnh đó là các bài báo học thuật của Phù Vân (2002), Đặng Nghiêm Vạn (2004), Khổng Diễn (2004), Lê Ngọc Thắng và Trần Văn Ái (2004), Đỗ Đức (2007), Nguyễn Sinh Phúc (2019) thảo luận về thành phần tộc người và giá trị tranh thờ cúng dân gian.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã cung cấp bức tranh đa diện về lịch sử, dân tộc học và tín ngưỡng, song mảng nghệ thuật tạo hình trong tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) tại tỉnh Tuyên Quang chưa từng được nghiên cứu độc lập như một chuyên luận mỹ thuật học hoàn chỉnh. Luận án lấp đầy khoảng trống này bằng việc khảo cứu hệ thống tranh thờ, giải mã ngôn ngữ tạo hình (bố cục, hình mảng, đường nét, màu sắc, không gian) và nhận diện phong cách tạo hình từ góc nhìn lý luận và lịch sử mỹ thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

Luận án áp dụng lý thuyết Ảnh tượng học (Iconography) của nhà lịch sử nghệ thuật Erwin Panofsky làm khung lý thuyết nền tảng để phân tích các tầng nghĩa biểu hiện trong tranh thờ thông qua 3 cấp độ:

  • Cấp độ 1: Phân tích sơ cấp (nội dung tự nhiên, nhận diện đối tượng tạo hình).
  • Cấp độ 2: Phân tích thông thường (nội dung quy ước, đối chiếu với tích truyện, bối cảnh lịch sử, văn hóa Đạo giáo).
  • Cấp độ 3: Phân tích nội tại (ý nghĩa biểu tượng, giải mã quan niệm thẩm mỹ và thế giới quan bản địa).

Luận án làm rõ nội hàm bốn khái niệm cơ bản:

  • Nghệ thuật tạo hình: Hoạt động sáng tạo hình ảnh dựa trên kỹ năng, kỹ thuật và cảm xúc nhằm tạo nên các hình tượng nghệ thuật trên mặt phẳng không gian hai chiều hoặc ba chiều.
  • Các yếu tố tạo hình (nguyên lý tạo hình): Công cụ tư duy và ngôn ngữ biểu đạt gồm bố cục (sắp xếp ngôn ngữ tạo hình), hình khối/hình mảng (diện tích xác định qua đường biên), đường nét (chuyển động của điểm với các sắc thái đậm, nhạt, cứng, mềm), màu sắc (hòa sắc, tương phản sắc độ nóng, lạnh), hình dạng và tổ chức không gian (chiều sâu, khoảng cách trước sau, trên dưới).
  • Tranh dân gian: Thể loại tranh do các nghệ nhân, họa công, thầy Tào khuyết danh sáng tạo, lưu truyền qua nhiều thế hệ trong cộng đồng, phản ánh tư duy thẩm mỹ và đời sống hiện thực kết hợp tâm linh.
  • Tranh thờ: Dòng tranh phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo kết hợp tín ngưỡng dân gian bản địa), được sử dụng trong các không gian thiêng và nghi lễ thờ cúng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án vận dụng hướng tiếp cận liên ngành (văn hóa dân gian, dân tộc học nghệ thuật, sử học và mỹ thuật học) kết hợp các phương pháp chuyên môn:

  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa, tham dự trực tiếp các nghi lễ thờ cúng; quan sát thực địa bằng hình thức công khai và gián tiếp; phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn nhóm cộng đồng Cao Lan tại Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và TP Tuyên Quang; phỏng vấn sâu các nghệ nhân, họa công, nhà sưu tập và thầy Tào lưu giữ tranh thờ.
  • Phương pháp nghiên cứu nghệ thuật học: Phân tích các yếu tố tạo hình (bố cục, nét, mảng, màu, không gian) trên từng bộ tranh và bức tranh cụ thể nhằm đúc kết đặc trưng phong cách tạo hình.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu tư liệu thư tịch với dữ liệu điền dã; so sánh đồng đại và lịch đại giữa tranh thờ Cao Lan với tranh thờ của các dân tộc Dao, Tày tại vùng núi phía Bắc và tranh dân gian đồng bằng Bắc Bộ (Đông Hồ, Hàng Trống).
  • Phương pháp thống kê: Vận dụng thống kê mô tả tại Chương 1 để phân loại, tổng hợp số liệu về hiện trạng và hệ thống tranh thờ khảo sát được; vận dụng thống kê suy luận tại Chương 2 và Chương 3 để làm căn cứ đánh giá quy luật tạo hình và các chiều hướng biến đổi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu thực địa được thu thập từ các đợt điền dã từ năm 2018 đến cuối năm 2021 tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên) và trực tiếp tại các tư gia thuộc tỉnh Tuyên Quang:

  • Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam: Bộ sưu tập 22 bức tranh thờ cũ khổ vừa (chiều rộng 27–30cm, chiều dài 60–82cm).
  • Gia đình ông Trần Văn Quý (TP Tuyên Quang): Bộ sưu tập 23 bức tranh cũ thế kỷ XIX (gồm 22 bức khổ vừa và 1 bức khổ lớn Dẫn Hương Lộ).
  • Gia đình ông Hoàng Văn Khương (thôn Gò Gianh, xã Lưỡng Vượng, TP Tuyên Quang): Bộ sưu tập 26 bức (tranh cũ cuối thế kỷ XIX và tranh mới, gồm 2 bức khổ lớn, 4 bức Mặt Nạ Thần khổ nhỏ và 16 bức Thập Điện nhỏ).
  • Gia đình ông Âu Xuân Chiến (thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú, TP Tuyên Quang): 13 bức tranh vẽ mới năm 2010 (chất liệu màu nước trên giấy).
  • Gia đình ông Lý Văn Xuyên (thôn Phúc Bình, xã Đông Lợi, huyện Sơn Dương): 28 bức tranh cũ thế kỷ XIX (chất liệu phẩm màu trên giấy bản, có 4 bức Mặt Nạ Thần khổ nhỏ).
  • Gia đình ông Phan Hồng Vân (thôn Đá Chơn, xã Đông Thọ, huyện Sơn Dương): 27 bức tranh thờ mới vẽ từ năm 2006 (gồm 2 bức khổ lớn Dẫn Hương Lộ, Ngọc Hàm Minh Kinh và 3 bức Mặt Nạ Thần).

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có dung lượng gồm phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang), Phụ lục (116 trang) và 3 chương nội dung chính:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, khái quát về người và tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang (36 trang)

Chương 1 khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Tuyên Quang (gồm 6 huyện, 1 thành phố; nơi sinh sống của 22 dân tộc anh em), làm rõ người Sán Chay tại Tuyên Quang gồm hai nhóm Cao Lan (nói ngôn ngữ Tày - Thái) và Sán Chỉ (nói tiếng Hán Quảng Đông). Nhóm Cao Lan chiếm khoảng 61% dân số Sán Chay toàn quốc, định cư chủ yếu tại các xã vùng núi thuộc huyện Hàm Yên (xã Thành Long, Hùng Đức, Bằng Cốc), huyện Yên Sơn (xã Đội Bình, Thắng Quân), huyện Sơn Dương (xã Đại Phú, Đông Lợi, Đông Thọ, Hồng Lạc, Hợp Hòa...) và thành phố Tuyên Quang (xã Kim Phú, Lưỡng Vượng).

Về đời sống vật chất, người Cao Lan thực hành nông nghiệp trồng trọt (lúa nước, lúa nương, ngô, khoai), chăn nuôi, nghề đan lát mây tre và hái lượm; cư trú nhà sàn gỗ lớn (kết cấu ba gian hai trái kèm sàn bếp phụ); trang phục nữ dệt nhuộm chàm xẻ ngực đắp vải đỏ, trang trí họa tiết hoa trám, lục lăng, chữ thập. Về đời sống tinh thần, người Cao Lan lưu giữ truyện cổ, sình ca, các điệu múa nghi lễ (múa phát đường, múa thắp đèn, múa chim gâu, múa Tam Thanh) và hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên kết hợp thần tiên Đạo giáo.

Tranh thờ được sử dụng trong các nghi lễ lớn:

  • Tang ma: Gồm các đàn cúng trong lễ Cúng Phật, lễ Khâm liệm, lễ Cấp nhà xe (treo tranh Phật, Pháp, Tăng, Thập Điện Diêm Vương, Tứ Đại Nguyên Sư, Thổ Phủ).
  • Cúng Chay (Đám Chay): Nghi lễ cầu an, giải hạn, trừ tà; lập hai đàn thờ để treo hệ thống tranh thờ Tam Thanh và chư thần.
  • Lễ cúng Năm mới (Tết): Treo toàn bộ tranh thờ tại gian giữa từ ngày 28 tháng Chạp đến rằm tháng Giêng, thực hiện lễ động thổ từ ngày mùng 2 Tết.
  • Các nghi lễ khác: Cấp sắc, Cúng thổ địa, Thần rừng.

Quy tắc treo tranh tuân thủ ba nguyên tắc nghiêm ngặt:

  1. Nghi thức mở tranh: Phải làm lễ cúng xin phép tổ tiên và thần linh trước bàn thờ gia tiên mới được mở tranh ra sử dụng.
  2. Quy định số lượng: Số lượng và loại tranh treo tùy thuộc vào tính chất từng nghi lễ và quy định riêng của từng dòng họ.
  3. Thứ bậc chức vị: Thần có phẩm hàm, chức vị tối cao treo ở vị trí trung tâm phía trên cao; thần cấp thấp hơn treo thấp dần hoặc bố trí sang hai bên cánh.

Hệ thống tranh thờ của người Cao Lan tại Tuyên Quang được phân loại thành ba nhóm khổ tranh chính với chất liệu giấy bản, giấy dó, vải kết hợp phẩm màu tự nhiên hoặc bột màu:

Nhóm khổ tranh Kích thước phổ biến Các bức/bộ tranh tiêu biểu Chất liệu chủ yếu
Khổ lớn Chiều dài: 250 – 320 cm;
Chiều rộng: khoảng 30 cm
Dẫn Hương Lộ, Ngọc Hàm Minh Kinh, Long Ngâm Hổ Tiếu Giấy bản, vải, phẩm màu, bột màu
Khổ vừa Chiều dài: 54 – 78 cm;
Chiều rộng: 24 – 40 cm
Bộ Tam Thanh (Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh), Ngọc Hoàng, Bộ Tứ Đại Nguyên Sư (Đặng, Triệu, Mã, Quan Nguyên Sư), Thần Nông, Địa Trạch, Tổ Tiên 1 & 2, Bản Tinh, Nam Đường, Hữu Thập Vương Lâu Điện, Tả Thập Vương Ngũ Điện, Thổ Phủ, Địa Tạng, Linh Tiền, Lộc Tướng, Rồng Xanh, Rồng Vàng, Phượng, Hổ Dưới Trăng, Quan Âm, Phật Nam Hoa, Công Tào, Hoành Trà, Thượng Lâu Giấy bản, giấy dó, vải, bột màu, phẩm màu tự nhiên
Khổ nhỏ Chiều dài: 10 – 30 cm;
Chiều rộng: 5 – 25 cm
Bộ Mặt Nạ Thần (4 bức chân dung), Bộ Thập Điện (16 bức thu nhỏ dạng thẻ) Giấy bản, bột màu, phẩm màu

Chương 2: Nội dung và hình thức nghệ thuật tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang (47 trang)

Chương 2 đi sâu phân tích hai thành tố cốt lõi của mỹ thuật học:

  • Về nội dung biểu đạt: Luận án phân tích nội dung các lớp nhân vật thần linh thuộc hệ thống thần điện Đạo giáo được bản địa hóa. Nhóm thần chủ tối cao Tam Thanh biểu đạt cõi giới thanh tịnh, hóa thân của vũ trụ; nhóm Tứ Đại Nguyên Sư biểu đạt sức mạnh hộ pháp, trừ ma diệt ác; nhóm thần nông nghiệp và gia trạch như Thần Nông, Địa Trạch biểu đạt sự che chở mùa màng, chăn nuôi; nhóm Bản Tinh, Nam Đường bảo hộ sản phụ, trẻ nhỏ và tinh tú; nhóm Thập Điện Diêm Vương, Địa Tạng, Thổ Phủ, Linh Tiền tái hiện quan niệm luân hồi, thưởng phạt công minh nơi âm giới và dẫn dắt vong linh về trời.
  • Về hình thức nghệ thuật tạo hình:
    • Bố cục: Vận dụng bố cục ước lệ nhiều tầng, nhiều lớp không gian đồng hiện trên mặt phẳng; sắp xếp nhân vật theo nguyên tắc tôn ti trật tự (nhân vật chính có kích thước lớn ở vị trí trung tâm, nhân vật tùy tùng, quỷ tốt có tỷ lệ nhỏ hơn ở phía dưới hoặc đường viền).
    • Hình mảng và nét: Nét vẽ sử dụng lối viền nét ước lệ dân gian, đường nét chắc khỏe, linh hoạt giữa nét thẳng dứt khoát và nét cong mềm mại ở nếp áo xiêm y; hình mảng mang tính biểu trưng cao, giản lược giải phẫu thực tế để nhấn mạnh tính thiêng.
    • Màu sắc: Sử dụng hệ màu sắc nguyên bản, độ tương phản mạnh giữa các sắc độ nóng (đỏ, vàng) và lạnh (chàm, đen, xanh lá); hòa sắc phản ánh thị hiếu thẩm mỹ rực rỡ, giàu cảm xúc của cư dân miền núi.
    • Tổ chức không gian: Không gian trong tranh không tuân theo luật viễn cận phương Tây mà thiết lập không gian tâm linh đa chiều (phối cảnh chim bay kết hợp bình đồ), cho phép nhiều thời khắc và cảnh giới hiện hữu đồng thời.

Chương 3: Đặc trưng, giá trị nghệ thuật và xu hướng biến đổi nghệ thuật tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay (39 trang)

Chương 3 tập trung khái quát các đặc trưng tạo hình và sự tiếp biến văn hóa:

  • Đặc trưng phong cách nghệ thuật: Sự kết hợp giữa quy chuẩn tạo hình tôn giáo Đạo giáo với lối tư duy mộc mạc, phóng khoáng của nghệ thuật dân gian miền núi; tạo hình khuôn mặt thần linh vừa trang nghiêm vừa mang nét nhân từ gần gũi với con người trần thế.
  • Giá trị nghệ thuật và nhân văn: Giá trị thẩm mỹ phản ánh quan niệm cái đẹp gắn liền với sự cân bằng âm dương; giá trị nhân văn thể hiện triết lý đạo đức hướng thiện, răn đe cái ác, cầu mong mưa thuận gió hòa, bảo vệ gia tộc và cộng đồng.
  • Mối tương quan so sánh: Đối chiếu chỉ ra những nét tương đồng về hệ thần Đạo giáo với tranh thờ người Dao, Tày, nhưng tranh thờ Cao Lan tại Tuyên Quang có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ khuôn hình (dáng tranh thon dài ở các dải tranh khổ lớn), cách thức tạo hình diện mặt thần linh và sự hiện diện của các vị thần nông nghiệp, thổ trạch gắn với canh tác nương rẫy bản địa.
  • Xu hướng biến đổi nghệ thuật tranh thờ hiện nay:
    • Về công đoạn và kỹ thuật: Sự chuyển dịch từ việc sử dụng các chất liệu tự nhiên (giấy bản thủ công, phẩm màu bào chế từ vỏ cây, khoáng thạch, keo da trâu) sang các chất liệu công nghiệp (bột màu công nghiệp, màu nước, giấy ngoại nhập).
    • Về ngôn ngữ tạo hình: Tranh thờ vẽ mới sau năm 2000 có xu hướng sử dụng đường nét trơn nhẵn, màu sắc tươi sáng hơn nhưng độ sâu trầm tích của màu tự nhiên bị suy giảm; một số chi tiết trang trí trang phục thần linh có xu hướng đơn giản hóa nhằm rút ngắn thời gian tạo tác.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tiếp cận hệ thống tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) tại tỉnh Tuyên Quang một cách hệ thống dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật (mỹ thuật học).
  • Đóng góp vào việc bổ sung và làm phong phú hệ thống tư liệu khoa học về mỹ thuật dân gian Việt Nam nói chung, mỹ thuật các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng.
  • Vận dụng thành công lý thuyết Ảnh tượng học (Iconography) của Erwin Panofsky vào việc khảo tả, phân tích hình tượng mỹ thuật cổ trong tín ngưỡng dân tộc thiểu số, cung cấp phương pháp luận tham khảo cho việc giải mã các biểu tượng tạo hình dân gian.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát, thống kê và phác dựng được danh mục bảng phân loại 37 tác phẩm/bộ tranh thờ cụ thể (về kích thước, niên đại, nội dung, chất liệu, khổ tranh) đang được lưu giữ trong các gia đình nghệ nhân, thầy Tào và các bảo tàng tại Tuyên Quang, Thái Nguyên.
  • Định vị vị trí, bản sắc riêng của dòng tranh thờ Sán Chay (nhóm Cao Lan) trong mối tương quan so sánh với tranh thờ dân gian người Dao, người Tày và các dòng tranh dân gian đồng bằng Bắc Bộ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn cấp thiết đối với các bộ tranh thờ cổ có niên đại thế kỷ XIX đang bị xuống cấp do điều kiện khí hậu và ẩm mốc tại các hộ gia đình.
  • Kiến nghị ngành văn hóa địa phương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang) đẩy mạnh công tác số hóa, sưu tầm, bảo quản phục chế và phát huy giá trị tranh thờ trong không gian văn hóa di sản của đồng bào Sán Chay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi khảo sát: Do điều kiện phân bố dân cư vùng núi chia cắt, luận án tập trung khảo sát thực địa trọng điểm tại 4 địa bàn thuộc tỉnh Tuyên Quang (Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương, thành phố Tuyên Quang), chưa thể bao quát toàn bộ các thôn bản vùng sâu khác có người Cao Lan cư trú.
  • Hạn chế về nguồn tư liệu thư tịch: Các tư liệu chữ Hán cổ (lạc khoản, văn bản cúng tế) đi kèm các bộ tranh cũ thế kỷ XIX bị mủn rách, thất lạc qua thời gian, gây khó khăn cho việc tra cứu toàn vẹn năm khởi tạo và danh tính tuyệt đối của mọi họa công.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điền dã so sánh sâu hơn với tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan và nhóm Sán Chỉ) tại các tỉnh lân cận như Yên Bái, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn; nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật hóa học phân tích thành phần chất kết dính và sắc tố tự nhiên trong tranh thờ cổ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu hữu ích đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Mỹ thuật tạo hình: Tham khảo trực tiếp khung lý thuyết Ảnh tượng học ứng dụng, phương pháp phân tích bố cục, đường nét, màu sắc và bảng phân loại hệ thống tranh thờ tôn giáo dân gian.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học và nhân học: Khai thác nguồn dữ liệu điền dã thực tế về nghi lễ vòng đời, tang ma, đám chay, tập quán sinh hoạt và quy tắc treo tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan).
  • Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tàng và chuyên viên bảo tồn di sản: Vận dụng bảng thống kê hiện trạng, kích thước và phân loại chất liệu để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể, phương án bảo quản hiện vật giấy dó, giấy bản và kế hoạch trưng bày bảo tàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở Tuyên Quang gồm những nhóm kích thước nào? Hệ thống tranh thờ được phân làm 3 nhóm khổ chính: nhóm khổ lớn có chiều dài từ 250cm đến 320cm, chiều rộng khoảng 30cm (như tranh Dẫn Hương Lộ, Ngọc Hàm Minh Kinh, Long Ngâm Hổ Tiếu); nhóm khổ vừa có chiều dài từ 54cm đến 78cm, chiều rộng từ 24cm đến 40cm (như bộ Tam Thanh, Tứ Đại Nguyên Sư, Thần Nông, Địa Trạch...); nhóm khổ nhỏ có kích thước từ 10x5cm (thẻ tranh Thập Điện) đến 30x25cm (bộ Mặt Nạ Thần).

2. Người Cao Lan ở Tuyên Quang treo tranh thờ vào những dịp nghi lễ cụ thể nào? Tranh thờ được sử dụng trong các nghi lễ lớn: nghi lễ Tang ma (lễ Cúng Phật, lễ Khâm liệm, lễ Cấp nhà xe); nghi lễ Cúng Chay (lễ cầu an, cầu lộc, giải hạn, trừ tà); lễ cúng Năm mới (Tết Nguyên đán, treo từ 28 Tết đến 15 tháng Giêng); và các lễ Cấp sắc, Cúng thổ địa, Thần rừng.

3. Nguyên tắc bắt buộc trước khi mở tranh thờ để sử dụng là gì? Nguyên tắc bất biến bắt buộc là trước khi mở tranh, gia chủ và thầy cúng phải thực hiện nghi lễ cúng trước bàn thờ gia tiên để cầu xin tổ tiên, thần linh về chứng kiến, phù trợ và cho phép mở tranh thờ ra sử dụng trong không gian thiêng.

4. Sự khác biệt về chất liệu giữa các bộ tranh thờ cổ và tranh thờ vẽ mới trong luận án là gì? Các bộ tranh thờ cổ (có niên đại từ thế kỷ XIX trở về trước) được tạo tác trên nền giấy bản, giấy dó hoặc vải, sử dụng phẩm màu tự nhiên bào chế thủ công từ thảo mộc, khoáng thạch; trong khi các bộ tranh mới (vẽ từ năm 2000 trở lại đây) chủ yếu sử dụng bột màu công nghiệp, màu nước và các loại giấy thương mại hiện đại.

5. Luận án sử dụng lý thuyết nào làm cơ sở lý luận trung tâm để giải mã tranh thờ? Luận án sử dụng lý thuyết Ảnh tượng học (Iconography) của Erwin Panofsky thông qua 3 cấp độ phân tích: phân tích sơ cấp (nội dung), phân tích thông thường (bối cảnh lịch sử) và phân tích nội tại (biểu tượng) để giải mã các yếu tố tạo hình và giá trị biểu đạt tâm linh trong tranh thờ.


Kết luận

Luận án "Nghệ thuật tạo hình tranh thờ của người Sán Chay (nhóm Cao Lan) ở tỉnh Tuyên Quang" đã nghiên cứu một cách có hệ thống nguồn gốc, hiện trạng, ngôn ngữ thị giác và tiến trình lưu truyền của hệ thống tranh thờ từ góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã nhân học mỹ thuật với lý thuyết Ảnh tượng học của Erwin Panofsky, công trình đã làm sáng rõ cấu trúc tạo hình, quy tắc thực hành nghi lễ và đặc trưng phong cách của dòng tranh thờ dân gian bản địa. Các kết quả thống kê mô tả 37 tác phẩm và việc chỉ ra xu hướng biến đổi chất liệu từ tự nhiên sang công nghiệp sau năm 2000 cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc nghiên cứu mỹ thuật các dân tộc thiểu số. Đây là tài liệu học thuật có giá trị thiết thực phục vụ công tác nghiên cứu mỹ thuật học, giảng dạy văn hóa dân gian và xây dựng giải pháp bảo tồn di sản văn hóa truyền thống tại khu vực miền núi phía Bắc.