Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan. Chương 2: Kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan trong pháp luật hiện hành và trong các Điều lệ của công ty đang hoạt động Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan. 8 PHẦN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan của các tác giả Việt Nam Giao dịch giữa công ty với người liên quan là một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam và chưa thu hút được sự quan tâm của các học giả.
Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến loại giao dịch này và gọi tên các giao dịch này là giao dịch dễ phát sinh tư lợi hoặc là một dạng của giao kết trục lợi. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này có thể kể đến như sau: 1. Thông tin của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp số 11/1998, chuyên đề về “Chống các giao kết trục lợi trong kinh doanh” Đây là công trình của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm được đăng trên Thông tin của Viện Khoa học pháp lý. Công trình này nghiên cứu một loại giao dịch mang lại lợi ích riêng cho một số người mà làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp mình hoặc chủ thể khác.
Theo tác giả, là đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, thông thường các chủ thể tham gia vào việc ký kết hợp đồng phải quan tâm đầy đủ và trước hết đến lợi ích của doanh nghiệp mình, tìm kiếm lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp trong phạm vi có thể. Nhưng trên thực tế giao kết và thực hiện hợp đồng trong kinh doanh, có những người đã không có ý thức và mục đích như vậy. Ngược lại, họ tìm cách lợi dụng, thông đồng, thỏa thuận để thực hiện các giao kết nhằm chiếm hưởng những lợi ích của doanh nghiệp. Đó là những giao kết trục lợi.
Tác giả chuyên đề đã bình luận, phân tích về giao kết trục lợi dưới các khía cạnh sau: Thứ nhất, một số vấn đề lí luận chủ yếu về giao kết trục lợi: bản chất pháp lý và đặc điểm của giao kết trục lợi; Những khó khăn, phức tạp của việc phòng chống giao kết trục lợi; Hậu quả của các giao dịch trục lợi: hậu quả về kinh tế, hậu quả về chính trị, hậu quả về xã hội; Thứ hai, một số dạng giao kết trục lợi chủ yếu: giao kết trục lợi qua các hợp đồng giả tạo; các hợp đồng kinh doanh mà sự thiệt hại, thua lỗ nghiêng về phía doanh nghiệp nhà nước; giao kết trục lợi thông qua các hợp đồng mua bán tài sản có giá trị lớn cho doanh nghiệp; các hợp đồng tín dụng trá hình; hợp đồng giữa doanh nghiệp 9 với một doanh nghiệp khác mà giám đốc có cổ phần hay lợi ích tài chính; giao kết trục lợi qua các hợp đồng tín dụng ngân hàng; giao kết trục lợi trong các hợp đồng góp vốn thành lập công ty hoặc liên doanh, liên kết. Thứ ba, nguyên nhân phát sinh giao kết trục lợi: nguyên nhân chủ quan trong nội bộ các doanh nghiệp và nguyên nhân khách quan. Một số giải pháp chống giao kết trục lợi: xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế, đổi mới quản lý của Nhà nước với doanh nghiệp và tăng cường các biện pháp quản lý tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những nội dung được đề cập ở trên chủ yếu phân tích các vụ việc thực tế về hành vi chiếm dụng vốn của giám đốc doanh nghiệp.
Các dạng giao dịch mà tác giả nghiên cứu là giao kết trục lợi từ khối tài sản của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước. Xét về phạm vi nghiên cứu thì giao dịch giữa công ty với người liên quan cũng là một dạng thức của giao kết trục lợi. Bởi vì các giao dịch này có thể phát sinh yếu tố trục lợi là mang lại cho người có liên quan những lợi ích lẽ ra thuộc về doanh nghiệp. Công trình“Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật doanh nghiệp” Bài viết của tác giả Lê Đình Vinh đăng trên Tạp chí Luật học số 1/2004 là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đầu tiên đề cập đến giao dịch giữa công ty với người có liên quan trong các loại hình doanh nghiệp và gọi tên chúng là một dạng của giao dịch tư lợi.
Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến 3 vấn đề chính: Thứ nhất, khái niệm giao dịch tư lợi và phân biệt khái niệm giao dịch tư lợi với hành vi buôn bán nội gián. Qua đó, tác giả nhấn mạnh, giao dịch tư lợi là những giao dịch có sự tham gia của công ty mà có nguy cơ bị trục lợi bởi một hoặc một nhóm thành viên hay cổ đông của công ty. Sở dĩ các giao dịch này chứa đựng nguy cơ bị trục lợi vì những người quản lý, điều hành hoặc những cổ đông lớn trong công ty có thể trực tiếp hoặc gián tiếp dùng ảnh hưởng hay địa vị của họ chi phối cách giao dịch đó để phục vụ lợi ích của bản thân hoặc gia đình. Tác giả cũng chỉ ra 2 nhóm giao dịch 10 thường có nguy cơ bị trục lợi bao gồm: giao dịch có giá trị lớn và giao dịch được ký kết giữa người quản lý công ty hoặc những người liên quan của họ.
Thứ hai, phân tích lý do phải giám sát giao dịch tư lợi. Tác giả đã đề cập được người quản lý công ty là người được sự ủy thác của các thành viên, cổ đông còn lại trong việc quản lý, điều hành công ty. Những người này phải thực hiện sự ủy thác một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích của công ty và các thành viên. Tuy nhiên, họ đã thực hiện một số giao dịch tư lợi để thu vén lợi ích riêng cho mình.
Tác giả cũng liệt kê một số thiệt hại khi công ty để xảy ra những giao dịch tư lợi như các cổ đông nhỏ sẽ rút ra khỏi công ty, công ty bị thiệt hại kéo theo việc quản lý công ty không tốt. Thứ ba, phân tích việc giám sát và ngăn chặn hiệu quả các giao dịch tư lợi. Trong nội dung này, tác giả phân tích quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999. “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005” Đây là công trình nghiên cứu khoa học khá toàn diện dưới cấp độ luận văn thạc sỹ của tác giả Ngô Thị Bích Phương về giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi được bảo vệ năm 2007.
Luận văn của tác giả Ngô Thị Bích Phương đề cập đến các nội dung sau: Một là, một số vấn đề lý luận về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi. Trong nội dung này, người viết đã trình bày khái quát về các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty có bản chất là các giao dịch chứa đựng khả năng “xung đột” về quyền lợi và là sự lạm dụng quyền lực được trao của những người đại diện cho công ty. Trong phần nội dung của kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, tác giả đề cập đến pháp luật về kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi của Việt Nam và một số nước trên thế giới. Hai là, tác giả đã đưa ra nội dung của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi gồm có các căn cứ pháp lý xác định thế nào là giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, nội dung kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi và đánh giá các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty.
11 Trong phần này, 3 căn cứ để xác định giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là (i) chủ thể tham gia quan hệ là “người có liên quan”, (ii) người đại diện tiến hành giao dịch và (iii) giá trị của giao dịch. Trong căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch thì luận văn đã xác định nhóm các chủ thể tham gia giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là những tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp. Như vậy, góc độ nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Bích Phương rộng hơn rất nhiều so với đề tài luận án mà nghiên cứu sinh đang nghiên cứu. Qua việc phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 trong việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty, luận văn đã làm rõ những mặt tích cực và còn hạn chế cũng như để xuất hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật.
Luận văn còn nêu được những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong vấn đề kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong chương 3 gồm có: (i) hoàn thiện các khái niệm về giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty; (ii) hoàn thiện các quy định về quyền của thành viên, cổ đông trong công ty; (iii) hoàn thiện các quy định về công khai hóa thông tin; (iv) hoàn thiện các quy định về quản trị công ty; (v) hoàn thiện các quy định về cơ chế xác lập các giao dịch giữa công ty với những đối tượng có liên quan; (vi) xây dựng cơ chế, chế tài mạnh trong các quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty; (vii) xây dựng những quy định kiểm soát khác. Có thể nói, tác giả Ngô Thị Bích Phương đã có rất nhiều đóng góp nổi bật tại chương 3 khi đưa ra vấn đề hoàn thiện pháp luật về giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi. “Giao kết trục lợi trong nền kinh tế thị trường ở nước ta và những giải pháp pháp lý nhằm hạn chế, khắc phục” Công trình khoa học dưới hình thức luận án tiến sỹ này nghiên cứu một cách công phu, tổng thể những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với giao kết hợp đồng, làm rõ khái niệm, đặc trưng của hành vi giao kết trục lợi.