Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Ở NƯỚC NGOÀI VÀ VIỆT NAM 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về lợi ích, lợi ích kinh tế, lợi ích của nông dân Glen Weishbrod, David Simmonds, “Defining economic impact and benefit metrics from multiple perspectives: lessons to be learned from both sides of the Atlantic” (Xác định tác động kinh tế và tham số lợi ích từ nhiều cách nhìn: bài học kinh nghiệm từ hai bờ Đại Tây Dương) [129]. Glen Weisbrod và David Simmonds cho rằng, lợi ích kinh tế bao gồm cả những lợi ích biểu hiện bằng tiền và cả những lợi ích không được biểu hiện bằng tiền.
Có thể thấy, cách hiểu này rộng hơn so với các khái niệm về lợi ích kinh tế trước đó. Theo nhóm tác giả, hiểu lợi ích kinh tế theo phương diện là một khoản tiền thu được, tức là xem xét những tác động kinh tế đối với một khu vực nhất định; hiểu lợi ích kinh tế theo phương diện là những lợi ích không được biểu hiện bằng tiền, tức là bao gồm cả những phúc lợi đạt được sẽ có thể đánh giá cho toàn bộ nền kinh tế.man-kin, “Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội” [124]. Tác giả đã trình bày những quan điểm về lợi ích kinh tế một cách khoa học thông qua việc đưa ra khái niệm lợi ích kinh tế. Theo đó, lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó.
Điều đó đồng nghĩa với việc, cần phải xác định được những nhu cầu kinh tế cụ thể khi nghiên cứu lợi ích kinh tế. Theo tác giả, nhu cầu kinh tế là một dạng của nhu cầu vật chất, đáp ứng sự tồn tại và phát triển của con người. Mặc dù nhu cầu về vật chất thường được đồng nhất với nhu cầu kinh tế, nhưng chúng không phải là hai khái niệ m giống nhau. Nhu cầu kinh tế là khía cạnh kinh tế của nhu cầu, không phải là nhu cầu hiện vật, do vậy, nhu cầu kinh tế là khái niệm ban đầu để định nghĩa lợi ích kinh tế.
Trong công trình này, tác giả còn đi sâu phân tích các loại lợi ích kinh tế và quá trình tái sản xuất lực lượng sản xuất, làm rõ tính khách quan của các loại lợi ích kinh tế. Hoàng Văn Luận, “Lợi ích động lực của sự phát triển xã hội bền vững” [53]. Tác giả làm rõ vấn đề lợi ích trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát nhu cầu và các hoạt động của con người để thỏa mãn nhu cầu. Theo tác giả, lợi ích là một khái niệm mang tính lịch sử - xã hội, xuất hiện trong mối quan hệ giữa các chủ thể có nhu cầu giống nhau và có chung đối tượng thỏa mãn nhu cầu.
Lợi ích chỉ phần giá trị của nhu cầu được thỏa mãn thông qua trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện lịch sử nhất định. Hai hoạt động (tạo ra của cải vật chất cụ thể và trao đổi của cải vật chất) là hai hoạt động giúp nhu cầu của con người được đáp ứng đầy đủ nhất. Tác giả khẳng định, lợi ích chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của con người và quá trình phát triển xã hội. Các lợi ích có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra mâu thuẫn lợi ích, do đó, lợi ích đóng vai trò là động lực đối với sự phát triển xã hội bền vững.
Để lợi ích trở thành động lực phát triển xã hội, cần định hướng đúng các quan hệ lợi ích và giải quyết đúng quy luật các mâu thuẫn lợi ích. Công trình cũng đã xác định một số nguyên tắc, biện pháp và công cụ điều chỉnh các quan hệ lợi ích. Nguyễn Danh Sơn, “Lợi ích của nông dân trong đổi mới và phát triển đất nước” [90]. Theo tác giả, trong thời gian qua, lợi ích của nông dân dường như không được chú ý đầy đủ.
Nông dân là chủ thể phát triển và được hưởng các lợi ích từ thành quả của sự phát triển. Tuy nhiên, có những thời điểm và tại những địa bàn, lợi ích của chủ thể này bị xem nhẹ và không tương xứng với công sức đóng góp. Bài viết đã phân tích các chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước ta liên quan đến lợi ích của nông dân. Bên cạnh các tác động tích cực góp phần bảo đảm lợi ích của nông dân, các chủ trương và chính sách còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Thực tế này làm giảm, thậm chí làm triệt tiêu động lực đối với nông dân. Từ cách nhìn nhận và đánh giá đó, tác giả đã phân tích những vấn đề đặt ra và đề cập hướng thay đổi, điều chỉnh chính sách liên quan nhằm gia tăng hiệu quả bảo đảm lợi ích cho nông dân. Đặng Quang Định, “Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay” [27]. Tác giả đưa ra nhận định, giai cấp nông dân là giai cấp chiếm số lượng lớn nhất, là những người lao động nông nghiệp và có đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Công trình đã làm sáng tỏ các loại lợi ích chủ yếu mà nông dân thu được, đó là: thu nhập từ sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản (nguồn thu nhập chủ yếu); mua, bán, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thu nhập từ sản xuất kinh doanh công nghiệp, xây dựng; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu nhập từ các nguồn khác. Bên cạnh đó, một bộ phận nông dân còn nhận được một số lợi ích kinh tế khác qua hình thức phân phối lại của Nhà nước dưới dạng phúc lợi xã hội (chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội…). Trên cơ sở làm rõ lợi ích của nông dân, tác giả đề cập đến các hình thức thể hiện sự thống nhất và thiếu thống nhất trong lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức. Trần Thị Lan, “Quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới của Hà Nội” [51].
Tác giả cho rằng, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, được quy định bởi các quan hệ kinh tế nhất định, phản ánh phần giá trị để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Nó được biểu hiện dưới dạng các khoản thu nhập, quyền sử dụng các nguồn lực, yếu tố vật chất cần thiết để duy trì hoạt động và tái tạo thu nhập. Tác giả cũng đi sâu làm rõ các vấn đề lý luận về lợi ích kinh tế, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết các mối quan hệ lợi ích kinh tế nảy sinh giữa các chủ thể trong thu hồi đất của nông dân và đề xuất các giải pháp để giải quyết mối quan hệ này. Nguyễn Linh Khiếu, “Lợi ích kinh tế của nông dân trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [48].
Theo tác giả, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một quá trình biến đổi sâu sắc, toàn diện, ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống xã hội nông thôn. Quá trình biến đổi đó đã tác động đến nông dân - chủ nhân kinh tế nông thôn theo hai chiều (tích cực và tiêu cực). Tác động tích cực thể hiện ở chỗ, nó là con đường nhanh nhất để nông dân tiếp cận các nguồn lực phát triển và khoa học, công nghệ tiên tiến hiện đại; cải thiện rõ rệt thu nhập của người nông dân, nâng cao đời sống, thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được xây dựng, góp phần mang lại cho đời sống nông thôn bước phát triển toàn diện; làm thay đổi một căn bản người dân nông thôn, thay đổi cách tổ chức đời sống nông dân, xã hội nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại. Tác động tiêu cực là đặt ra những thách thức, nguy cơ với lợi ích kinh tế của nông dân do diện tích sản xuất nông nghiệp giảm, nông dân bị mất đất canh tác, mất việc làm tại chỗ; xu hướng phát triển tự phát của kinh tế nông thôn, bị dẫn dắt bởi thị trường tự do; đẩy nhanh quá trình phân hóa thu nhập, giàu nghèo, phân tầng xã hội; những hậu quả của đời sống kinh tế, xã hội nông thôn do sự thiếu đồng bộ, bất cập của hệ thống chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Từ việc xem xét những tác động đó, tác giả chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với lợi ích của nông dân và đề xuất các giải pháp lâu dài, trước mắt nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người nông dân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái, phát triển nông nghiệp sinh thái; lợi ích của nông dân trong phát triển nông nghiệp và trong phát triển nông nghiệp sinh thái Fred Magdoff, “Ecological agriculture: Principles, practices, and constraints” (Nông nghiệp sinh thái: Nguyên tắc, thực hành và sự thúc ép) [128]. Tác giả phân tích, lý do lựa chọn sản xuất NNST bởi những lợi ích của nó trong việc tạo lập hệ sinh thái tự nhiên khỏe mạnh. Phát triển NNST gắn liền với các chiến lược tổng thể bằng những phương pháp như trồng các loại cây khỏe mạnh, có khả năng thích nghi và phòng vệ, ngăn chặn dịch hại, gia tăng quần thể sinh vật có lợi.
Các nguyên tắc của NNST được tác giả làm sáng tỏ như điểm mạnh của hệ sinh thái tự nhiên (tính hiệu quả, tính đa dạng, tính tự túc, tự điều chỉnh, khả năng phục hồi); xây dựng các đặc điểm của hệ sinh thái khỏe mạnh vào hệ thống nông nghiệp…Tác giả cũng thảo luận nguyên nhân các phương pháp sản xuất NNST không được ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tiễn và những thách thức lớn mà NNST phải đối mặt ở các quốc gia nghèo đói. Từ đó tác giả cho rằng, sự tham gia hỗ trợ tích cực đối với nền nông nghiệp của chính phủ là hết sức quan trọng, góp phần tháo gỡ những khó khăn nông dân đang phải đối mặt ở các quốc gia nghèo.Funes-Monzote and Paulo Petersen, “Agroecologically eficient agricultural systems for smallholder famers: contribution to food sovereignty” (Hệ thống nông nghiệp hiệu quả về mặt thổ nhưỡng học cho nông dân sản xuất nhỏ: đóng góp cho chủ quyền lương thực) [135].