Tổng quan luận án

Sản xuất nông nghiệp là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính chủ yếu, làm gia tăng tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Dẫn số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tác giả nêu rõ hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam đóng góp khoảng 30% tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia. Nhằm kiểm soát các tác động bất lợi này, phát triển nông nghiệp sinh thái (NNST) đã trở thành định hướng chiến lược. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương: "Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh" với mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Tại khu vực ngoại thành Hà Nội, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế. Địa bàn này sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi: khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa; thổ nhưỡng phù hợp canh tác đa dạng; hệ thống thủy lợi, giao thông, lưới điện được nâng cấp; trung tâm khoa học và công nghệ quy mô lớn; thị trường nội thành có sức mua cao đối với nông sản an toàn. Trên cơ sở đó, nhiều mô hình NNST đã hình thành: nông nghiệp hữu cơ (NNHC), chuyển đổi hữu cơ, thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP), hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), mô hình kết hợp trồng trọt - chăn nuôi (lúa - cá) và NNST gắn với du lịch sinh thái.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ vị trí chủ thể trung tâm của người nông dân. Mặc dù các cấp chính quyền đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, nông dân tại ngoại thành Hà Nội vẫn đối mặt với sự mất cân đối về lợi ích:

  • Thu nhập từ sản phẩm hữu hình (nông sản sinh thái) chưa tương xứng với chi phí đầu tư và công sức lao động; thị trường tiêu thụ gặp trở ngại do giá bán cao hơn nông sản thông thường, trong khi thói quen tiêu dùng nông sản sinh thái chưa phổ biến; phần lớn nông hộ sản xuất cá thể, quy mô nhỏ lẻ.
  • Nông dân hoàn toàn chưa thu được lợi ích kinh tế từ các sản phẩm vô hình do NNST kiến tạo (hệ sinh thái cân bằng, lưu trữ carbon, cảnh quan du lịch) do các giá trị này chưa được hạch toán và chưa được thị trường hóa.
  • Chính sách hỗ trợ NNST hiện hành còn thiếu đồng bộ, nhiều quy định chưa sát thực tiễn sản xuất.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ thực trạng lợi ích của nông dân trong phát triển NNST tại các huyện ngoại thành thành phố Hà Nội giai đoạn 2017-2022; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích của nông dân trong phát triển NNST đến năm 2030.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài, xác định khoảng trống khoa học cần giải quyết.
  2. Xây dựng khung lý luận về lợi ích của nông dân trong phát triển NNST; đúc kết bài học kinh nghiệm từ một số địa phương trong nước có khả năng vận dụng vào Hà Nội.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng lợi ích của nông dân trong phát triển NNST tại các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017-2022; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các quan điểm và nhóm giải pháp chủ yếu bảo đảm lợi ích của nông dân trong phát triển NNST ở ngoại thành Hà Nội đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những vấn đề lý luận về lợi ích của nông dân trong phát triển NNST được hiểu như thế nào? Làm thế nào để nông dân nhận được các lợi ích đó? Kinh nghiệm về bảo đảm lợi ích của nông dân trong phát triển NNST ở một số địa phương trong nước mà các huyện ngoại thành Hà Nội có thể tham khảo là gì?
  2. Phát triển NNST ở các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017-2022 mang lại cho nông dân những lợi ích gì? Lợi ích nông dân nhận được có tương xứng với chi phí đầu tư và giá trị tạo ra cho xã hội, môi trường không?
  3. Giải pháp nào cần được triển khai thực hiện để bảo đảm lợi ích của nông dân trong phát triển NNST ở các huyện ngoại thành Hà Nội đến năm 2030? Nhà nước, chính quyền Hà Nội và các chủ thể tham gia (doanh nghiệp, hợp tác xã) cần làm gì để bảo đảm lợi ích của nông dân?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợi ích của nông dân trong phát triển NNST (bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích phi kinh tế) tiếp cận dưới góc độ ngành Kinh tế chính trị.
  • Phạm vi nội dung: Lợi ích của nông dân trong phát triển NNST thuộc lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; không bao gồm lâm nghiệp), tập trung vào các hình thức biểu hiện: thu nhập, môi trường làm việc, môi trường sống và chính sách hỗ trợ.
  • Phạm vi không gian: Các huyện ngoại thành thành phố Hà Nội, tập trung khảo sát sâu tại 04 huyện: Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh và Chương Mỹ.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2017-2022 và đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc thành hai nhóm công trình chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về lợi ích, lợi ích kinh tế và lợi ích của nông dân

Nghiên cứu của Glen Weisbrod và David Simmonds (2011) phân tích tác động kinh tế và tham số lợi ích, xác định lợi ích kinh tế bao gồm cả phần biểu hiện bằng tiền tệ lẫn các phúc lợi phi tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế. V.I. O-man-kin tiếp cận lợi ích kinh tế từ cơ sở nhu cầu kinh tế khách quan của chủ thể trong quá trình tái sản xuất. Hoàng Văn Luận (2004) xác định lợi ích là phần giá trị nhu cầu được thỏa mãn qua trao đổi hoạt động, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Ở phạm vi trong nước, Nguyễn Danh Sơn (2012) chỉ ra việc lợi ích của nông dân đôi lúc bị xem nhẹ và các chính sách hỗ trợ còn bộc lộ bất cập. Đặng Quang Định (2015) phân loại 5 nguồn thu nhập chính của nông dân (sản xuất nông - lâm - thủy sản; đất đai; công nghiệp - xây dựng; dịch vụ; nguồn khác) cùng phúc lợi xã hội thông qua phân phối lại. Trần Thị Lan (2016) làm rõ các quan hệ lợi ích kinh tế phát sinh khi thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội. Nguyễn Linh Khiếu (2012) cùng Trần Thanh Giang (2017) phân tích tác động hai chiều của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nông dân: mở rộng cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập nhưng đồng thời làm giảm diện tích đất canh tác, nảy sinh rủi ro mất việc và phân hóa giàu nghèo. Vũ Văn Phúc và Trần Thị Minh Châu (2008) hệ thống hóa 5 nội dung chính sách hỗ trợ nông dân trong điều kiện hội nhập WTO. Phạm Quốc Quân (2019) nêu nghịch lý giữa tăng trưởng sản lượng nông sản và mức độ cải thiện giá trị gia tăng cho nông dân trong chuỗi giá trị. Trần Hoàng Hiểu (2018) nghiên cứu quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình cánh đồng lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhóm 2: Các nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái và lợi ích của nông dân trong NNST

Trên phương diện quốc tế, Fred Magdoff (2007) phân tích các nguyên tắc sinh thái học nông nghiệp và chỉ rõ sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ từ chính phủ đối với nông dân quy mô nhỏ. Fernando R. Funes-Monzote và Paulo Petersen (2016) dẫn chứng các điển hình tại Cuba, Brazil, Philippines và Châu Phi để khẳng định mô hình nông nghiệp sinh thái giúp nông dân sản xuất nhỏ tiếp cận tài nguyên và nâng cao thu nhập. Claire Kremen và Albie Miles (2012) phân tích các dịch vụ hệ sinh thái trong canh tác đa dạng sinh học so với canh tác thông thường, chỉ ra các lợi ích về chất lượng đất, giảm ngoại ứng tiêu cực và bù đắp cho mức giảm năng suất ban đầu. Stephen R. Gliessman (2015) luận giải sinh thái học nông nghiệp dưới góc độ hệ thống lương thực bền vững, bao hàm cả các chiều kích kinh tế, sinh thái, văn hóa và chính trị. Rahul Katiyar, Arun Kumar Pal và Brij Mohan (2019) khảo sát thực nghiệm 120 nông dân tại huyện Kanpur Dehat (Ấn Độ), phản ánh mức độ ứng dụng các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại sinh thái của nông dân còn ở mức thấp. Angelika Hilbeck và Bernadette Oehen (2015) khẳng định tính ưu việt của NNHC và vai trò của khoa học công nghệ đối với nông dân. Harri Ram Prajapati (2022) phân tích hiệu quả kinh tế và 4 nguyên tắc NNHC quốc tế tại Ấn Độ và châu Á.

Tại Việt Nam, Linh Pham và Gerald Shively (2019) sử dụng mô hình hồi quy lượng tử khảo sát 95 hộ tại huyện Tân Lạc (Hòa Bình), ghi nhận 1 ha rau hữu cơ có lợi nhuận thấp hơn khoảng 41% so với rau truyền thống do sự chênh lệch năng suất của một số ít hộ thâm canh cao. Marie Phamova, Jan Banout, Vladimir Verner, Tatiana Ivanova và Jana Mazancova (2020) tiến hành điều tra 312 hộ tại Gia Lâm (tiểu khu Cự Khôi) và Sóc Sơn (xã Thanh Xuân), áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập tiền mặt: hệ thống nông nghiệp, lao động gia đình, học vấn và kinh nghiệm mang lại tác động cùng chiều; quy mô trang trại và tư cách thành viên hiệp hội mang tác động ngược chiều. Tỷ lệ hợp tác đạt 74% ở nhóm canh tác an toàn và 100% ở nhóm canh tác hữu cơ.

Nghiên cứu về địa bàn Hà Nội, Phạm Văn Khôi (2004) và Trần Thị Hồng Việt (2007) tổng kết thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ngoại thành giai đoạn 1991-2005. Nguyễn Thị Mai (2020) chỉ ra khó khăn về vốn đầu tư ban đầu và tiêu chuẩn chứng nhận tại các huyện ngoại thành. Phạm Thị Huyền và Ngô Thế Nam (2018) đánh giá tính nhỏ lẻ, phân tán trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản hữu cơ. Trương Đình Chiến (2014, 2017) đề xuất các mô hình chuỗi cung ứng nông sản hữu cơ cho Hà Nội (chuỗi 3F, chuỗi do nhà bán lẻ dẫn dắt, chuỗi do hợp tác xã dẫn dắt). Đào Thế Anh (2022), Nguyễn Minh Quang và các cộng sự (2021), Cao Đức Phát (2022), Nguyễn Văn Thanh (2022), Bùi Thị Tiến (2021) phân tích khía cạnh phát triển NNST thích ứng với biến đổi khí hậu, kinh tế tuần hoàn và cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị.

Nhóm nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Trọng tâm nội dung công bố
Lý luận lợi ích kinh tế Glen Weisbrod, David Simmonds (2011); V.I. O-man-kin; Hoàng Văn Luận (2004) Bản chất lợi ích bằng tiền và phi tiền tệ; nhu cầu kinh tế khách quan; lợi ích là động lực xã hội.
Lợi ích nông dân tại Việt Nam Nguyễn Danh Sơn (2012); Đặng Quang Định (2015); Trần Thị Lan (2016); Nguyễn Linh Khiếu (2012); Trần Thanh Giang (2017) Phân loại nguồn thu nhập; đánh giá tác động của CNH-HĐH và thu hồi đất đến nông dân.
NNST trên thế giới Fred Magdoff (2007); Funes-Monzote & Petersen (2016); Kremen & Miles (2012); Gliessman (2015); Katiyar et al. (2019); Prajapati (2022) Nguyên tắc sinh thái học nông nghiệp; dịch vụ hệ sinh thái; quản lý dinh dưỡng và dịch hại; phân tích hiệu quả kinh tế.
Thực nghiệm NNST tại Việt Nam Linh Pham & Gerald Shively (2019); Marie Phamova và CS (2020) Hồi quy lượng tử tại Hòa Bình (95 hộ); hồi quy tuyến tính bội tại Hà Nội (312 hộ tại Gia Lâm, Sóc Sơn).
Phát triển NNST tại Hà Nội Phạm Văn Khôi (2004); Trần Thị Hồng Việt (2007); Nguyễn Thị Mai (2020); Trương Đình Chiến (2014, 2017); Bùi Thị Tiến (2021) Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ven đô; rào cản chi phí sản xuất; cấu trúc chuỗi cung ứng nông sản.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án: Các công trình đã công bố chủ yếu phân tích kỹ thuật canh tác, đánh giá hiệu quả kinh tế đơn thuần ở phạm vi vi mô hẹp, hoặc đề cập lợi ích nông dân trong mối quan hệ đất đai, chuỗi giá trị nông nghiệp thông thường. Chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện, toàn diện lợi ích của nông dân trong phát triển NNST trên cả hai phương diện lợi ích kinh tế và phi kinh tế dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị trên địa bàn thành phố Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Nền tảng phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
  • Khái niệm NNST: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ Lê Văn Khoa (kết hợp nông nghiệp hóa học và hữu cơ), Hồ Ngọc Sơn (áp dụng nguyên tắc sinh thái quản lý bền vững), IFOAM (hệ thống duy trì sức khỏe đất, hệ sinh thái và con người), Trần Trung, và định nghĩa của FAO (2015) được 175 quốc gia thông qua. Từ đó, luận án xác định: Nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp triển khai các hệ thống canh tác kết hợp giữa phương pháp truyền thống phù hợp và ứng dụng phương pháp hiện đại trên cơ sở thành tựu khoa học, công nghệ mới nhằm duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên, cung cấp nông sản an toàn cho sức khỏe con người và tạo lập nền nông nghiệp bền vững.
  • Đặc điểm của NNST: Căn cứ vào 10 thành tố của FAO (2019), luận án khái quát 4 đặc điểm:
    1. Tính đa dạng: Đa dạng mô hình (hữu cơ, VietGAP, SRI, IPM, lúa - cá), đa dạng cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mức độ tuần hoàn (từ tuần hoàn thấp như luân canh đến tuần hoàn cao như Aquaponics, VAC, lúa - cá, lúa - vịt).
    2. Kết hợp tri thức bản địa với công nghệ hiện đại: Tận dụng kỹ thuật làm đất, ủ phân hữu cơ, luân canh truyền thống kết hợp công nghệ sinh học, máy bay không người lái, camera giám sát từ xa.
    3. Tính minh bạch, trách nhiệm và tính liên kết: Ghi chép nhật ký sản xuất, ứng dụng hệ thống cùng tham gia bảo đảm chất lượng (PGS), mở rộng liên kết theo chuỗi giá trị.
    4. Tính bền vững: Thể hiện đồng thời trên ba phương diện kinh tế (sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí vật tư hóa học), xã hội (chuyên nghiệp hóa lao động nông dân, việc làm an toàn) và môi trường (giảm phát thải khí nhà kính, phục hồi dinh dưỡng đất, bảo tồn nguồn nước).
  • Vai trò của NNST: Nâng cao thu nhập thông qua gia tăng giá trị sản phẩm; chuyển dịch tính chất lao động của nông dân từ giản đơn sang lao động phức tạp, có kỹ thuật và kỹ năng thị trường; tái tạo hệ sinh thái và gia tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm gạt bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, biểu hiện kỹ thuật bề ngoài để định hình các phạm trù: bản chất NNST, nội hàm lợi ích kinh tế và lợi ích phi kinh tế của nông dân.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Ứng dụng tại Chương 2 và Chương 3 để làm rõ các tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng và phân tích dữ liệu thứ cấp về phát triển NNST tại Hà Nội giai đoạn 2017-2022.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Được thực hiện tại Chương 3 và Chương 4 để thu thập số liệu sơ cấp.
    • Mẫu khảo sát: Phát ra 400 phiếu hỏi cho 400 nông dân sản xuất NNST tại 04 huyện ngoại thành Hà Nội (100 phiếu/huyện).
    • Đối tượng khảo sát: Nông dân thuộc các mô hình hợp tác xã (HTX), trang trại, nông hộ canh tác theo tiêu chuẩn hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ và VietGAP.
    • Xử lý số liệu: Dữ liệu sau khi kiểm đếm, làm sạch được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20 để lập các bảng tần số, tính toán tỷ lệ phần trăm và đối sánh dữ liệu.
  • Phương pháp thống kê - so sánh: So sánh thực trạng lợi ích (thu nhập, điều kiện làm việc, môi trường sống) giữa nông dân sản xuất NNST với nông dân sản xuất theo phương thức truyền thống; so sánh các chỉ tiêu lợi ích giữa 04 huyện điều tra.
Địa bàn khảo sát Số phiếu phân bổ Mô hình sản xuất khảo sát Công cụ phân tích
Huyện Sóc Sơn 100 phiếu HTX, trang trại, hộ sản xuất hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ, VietGAP Phần mềm SPSS phiên bản 20
Huyện Thường Tín 100 phiếu HTX, trang trại, hộ sản xuất hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ, VietGAP Phần mềm SPSS phiên bản 20
Huyện Đông Anh 100 phiếu HTX, trang trại, hộ sản xuất hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ, VietGAP Phần mềm SPSS phiên bản 20
Huyện Chương Mỹ 100 phiếu HTX, trang trại, hộ sản xuất hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ, VietGAP Phần mềm SPSS phiên bản 20
Tổng cộng 400 phiếu Đại diện các mô hình NNST chủ lực Phân tích thống kê mô tả, so sánh

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu thành 4 chương và 10 tiết, phản ánh các nội dung cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai trục chính: lý luận về lợi ích của nông dân và thực tiễn phát triển NNST. Tác giả luận chứng tính tất yếu của việc chuyển dịch từ nền nông nghiệp thâm dụng hóa chất sang NNST. Từ việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó, chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào đánh giá toàn diện lợi ích của nông dân trong NNST trên giác độ phân phối giá trị và quan hệ kinh tế chính trị, từ đó xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi ích của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái

Chương 2 trình bày quá trình hình thành khái niệm NNST gắn với sự phát triển của phong trào sinh thái học nông nghiệp từ thập niên 1960 và sáng kiến kinh tế xanh của UNEP (2011). Luận án làm rõ nội hàm lợi ích của nông dân gồm hai cấu phần: lợi ích kinh tế (thu nhập trực tiếp từ bán nông sản sinh thái, chi phí sản xuất tiết kiệm được nhờ tận dụng phế phụ phẩm, giá trị hỗ trợ từ các chính sách của Nhà nước) và lợi ích phi kinh tế (môi trường lao động an toàn do không tiếp xúc hóa chất độc hại, môi trường sống cải thiện, sự nâng cao về vị thế xã hội và kỹ năng sản xuất). Tác giả thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá và các yếu tố chi phối lợi ích của nông dân: thể chế, chính sách hỗ trợ; trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; cấu trúc liên kết chuỗi giá trị; nhận thức và quy mô canh tác của nông hộ. Đồng thời, chương 2 tổng kết kinh nghiệm bảo đảm lợi ích nông dân ở một số địa phương trong nước nhằm rút ra bài học cho Hà Nội.

Chương 3: Thực trạng lợi ích của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở các huyện ngoại thành, thành phố Hà Nội giai đoạn 2017-2022

Nội dung chương 3 tập trung phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra 400 mẫu tại 4 huyện: Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh, Chương Mỹ bằng phần mềm SPSS 20. Tác giả đánh giá thực trạng các hình thức biểu hiện lợi ích của nông dân:

  • Lợi ích kinh tế: Nông sản sinh thái bước đầu đạt mức giá tiêu thụ cao hơn nông sản truyền thống, bù đắp phần hao hụt về năng suất. Tuy nhiên, mức thu nhập ròng còn biến động lớn do khó khăn trong khâu tiêu thụ; tỷ lệ nông dân tham gia vào chuỗi liên kết bao tiêu còn thấp; sản phẩm vô hình (bảo vệ nguồn nước, hấp thụ carbon, cảnh quan du lịch) hoàn toàn chưa mang lại nguồn thu trực tiếp cho người sản xuất.
  • Lợi ích phi kinh tế: Nông dân tham gia mô hình ghi nhận sự cải thiện rõ nét về sức khỏe nhờ giảm thiểu tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật hóa học; môi trường không khí và nguồn nước khu vực nông thôn được bảo vệ; kiến thức và kỹ năng thực hành sinh thái được nâng cao qua các khóa khuyến nông.
  • Đánh giá nguyên nhân: Hạn chế về lợi ích bắt nguồn từ quy mô canh tác nhỏ lẻ; thiếu hụt nguồn vốn đầu tư ban đầu; hạ tầng giao thông và thủy lợi phục vụ vùng sản xuất tập trung chưa đồng bộ; chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai và xúc tiến thương mại còn chậm triển khai.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp chủ yếu bảo đảm lợi ích của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở các huyện ngoại thành, thành phố Hà Nội đến năm 2030

Dựa trên các tồn tại và nguyên nhân chỉ ra tại Chương 3, chương 4 xác định các quan điểm định hướng bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế và sinh thái, giữ vững vai trò chủ thể của người nông dân. Các nhóm giải pháp chủ yếu được xây dựng bao gồm:

  • Hoàn thiện cơ chế, chính sách của chính quyền thành phố: Quy hoạch các vùng sản xuất NNST tập trung; hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho nông hộ chuyển đổi hữu cơ; thiết lập cơ chế định giá và thí điểm cơ chế chi trả cho các dịch vụ hệ sinh thái (giá trị vô hình).
  • Phát triển chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ: Mở rộng các mô hình liên kết khép kín giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối nội thành; chuẩn hóa việc dán tem truy xuất nguồn gốc, đẩy mạnh ứng dụng hệ thống bảo đảm cùng tham gia (PGS).
  • Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo: Tăng cường khuyến nông sinh thái; chuyển giao công nghệ sinh học và số hóa quản lý sản xuất; nâng cao năng lực quản trị, năng lực thị trường cho thế hệ nông dân mới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án xây dựng khái niệm và xác định rõ nội hàm lợi ích của nông dân trong phát triển NNST dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị, làm rõ tính thống nhất và các biểu hiện đặc thù giữa lợi ích kinh tế (hữu hình) và lợi ích phi kinh tế (vô hình).
  2. Hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá mức độ thụ hưởng lợi ích của nông dân, đồng thời chỉ ra cơ chế tác động của các nhân tố thị trường, thể chế và liên kết chuỗi đến lợi ích của người sản xuất nông nghiệp sinh thái.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Phân tích thực trạng thụ hưởng lợi ích của nông dân sản xuất NNST tại các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017-2022 thông qua bộ dữ liệu điều tra thực địa 400 mẫu tại Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh, Chương Mỹ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.
  2. Nhận diện các điểm nghẽn thực tiễn: nông dân chưa được hưởng lợi từ các giá trị vô hình do thiếu cơ chế thị trường hóa; thị trường tiêu thụ nông sản sinh thái chưa bền vững do chi phí cao và chuỗi liên kết lỏng lẻo.
  3. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi đến năm 2030 nhằm bảo đảm và gia tăng lợi ích của nông dân, phân định rõ vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, chính quyền Hà Nội, doanh nghiệp, hợp tác xã và bản thân hộ nông dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khu vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản), không bao gồm lâm nghiệp.
    • Số liệu khảo sát thực địa sơ cấp tập trung tại 04 huyện (Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh, Chương Mỹ) với dung lượng 400 phiếu, chưa bao phủ toàn bộ các huyện ngoại thành khác của Hà Nội.
    • Vấn đề hạch toán và thương mại hóa các giá trị vô hình của NNST (như định giá hấp thụ carbon, chi trả dịch vụ cảnh quan) mới dừng ở mức nhận diện lý luận và đề xuất nguyên tắc chung, chưa thể mô hình hóa lượng lượng giá chi tiết do thiếu cơ chế thị trường chính thức tại Việt Nam giai đoạn nghiên cứu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phân tích sang các mô hình nông lâm kết hợp sinh thái tại các vùng bán sơn địa.
    • Thiết kế các mô hình kinh tế lượng định giá cụ thể các dịch vụ hệ sinh thái (PES) và cơ chế tín chỉ carbon nông nghiệp nhằm tạo nguồn thu bổ sung trực tiếp cho nông dân sản xuất sinh thái.

Giá trị tham khảo

Bản luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Ủy ban nhân dân các huyện ngoại thành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc rà soát, điều chỉnh chính sách khuyến khích NNST, thiết kế cơ chế hỗ trợ chi phí chuyển đổi và phát triển thị trường nông sản an toàn.
  • Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế nông nghiệp có thể sử dụng chương 2 và chương 3 làm tài liệu tham khảo cho các chuyên đề về lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích và phát triển nông thôn bền vững.
  • Chủ thể sản xuất và doanh nghiệp: Ban quản trị các hợp tác xã, chủ trang trại tham khảo các mô hình liên kết chuỗi giá trị và phương thức chứng nhận PGS để tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng cao giá trị thương phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng và phạm vi không gian cụ thể của luận án được xác định như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lợi ích của nông dân trong phát triển NNST (gồm lợi ích kinh tế và lợi ích phi kinh tế) dưới góc độ Kinh tế chính trị. Phạm vi không gian nghiên cứu tại các huyện ngoại thành thành phố Hà Nội, trong đó tập trung khảo sát sâu tại 04 huyện: Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh và Chương Mỹ.

2. Tại sao nông dân sản xuất NNST tại ngoại thành Hà Nội chưa nhận được thu nhập từ các sản phẩm vô hình?
Theo tác giả, các sản phẩm vô hình do NNST tạo ra (hệ sinh thái tự nhiên cân bằng, môi trường sống trong lành do giảm thiểu phát thải carbon, cảnh quan thiên nhiên phục vụ du lịch) rất khó hạch toán chi phí - lợi ích và chưa được thị trường hóa theo các cơ chế giao dịch chính thức. Do đó, nông dân chưa có cơ chế thu tiền từ các giá trị sinh thái này.

3. Phương pháp điều tra xã hội học của luận án được triển khai với cỡ mẫu và công cụ kỹ thuật nào?
Tác giả đã phát 400 phiếu khảo sát cho 400 nông dân tại 04 huyện (Sóc Sơn, Thường Tín, Đông Anh, Chương Mỹ - mỗi huyện 100 phiếu) tham gia các mô hình HTX, trang trại, hộ sản xuất hữu cơ, chuyển đổi hữu cơ và VietGAP. Dữ liệu được làm sạch, nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.

4. Nghiên cứu của Marie Phamova và các cộng sự (2020) được tác giả điểm lại rút ra kết luận gì về thu nhập của nông dân ngoại thành Hà Nội?
Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính bội của Marie Phamova và CS (2020) trên 312 mẫu tại Gia Lâm và Sóc Sơn cho thấy: hệ thống nông nghiệp, lao động gia đình, học vấn và kinh nghiệm canh tác tác động tích cực đến thu nhập tiền mặt hàng năm; trong khi quy mô trang trại và việc tham gia hiệp hội có tác động tiêu cực. Nghiên cứu cũng chỉ ra hệ thống canh tác càng sinh thái thì thu nhập tiền mặt của nông dân càng cao nhờ giá trị gia tăng của nhãn sản phẩm an toàn.

5. Luận án khái quát những đặc điểm cốt lõi nào của nông nghiệp sinh thái dựa trên khung của FAO?
Căn cứ vào 10 thành tố của FAO (2019), luận án khái quát 4 đặc điểm chính của NNST: (1) Tính đa dạng trong triển khai mô hình, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và các mức độ tuần hoàn; (2) Kết hợp tập quán sản xuất truyền thống với hệ thống canh tác tiên tiến, thân thiện môi trường; (3) Tính minh bạch, trách nhiệm và sự liên kết, hợp tác theo chuỗi giá trị; (4) Tính bền vững đồng thời trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.


Kết luận

Luận án tiến sĩ ngành Kinh tế chính trị của nghiên cứu sinh đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi ích của người nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái. Thông qua việc phân tích dữ liệu điều tra thực địa 400 mẫu tại 4 huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2017-2022 bằng phần mềm SPSS 20, công trình chỉ rõ những bất cập giữa chi phí đầu tư với thu nhập nhận được, đặc biệt là tình trạng chưa thị trường hóa được các giá trị sinh thái vô hình. Trên cơ sở nhận diện các nguyên nhân chủ quan và khách quan, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2030 nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế và xã hội cho nông dân. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp sinh thái thủ đô.