đặt vấn đề: “Phát triển con người để có nguồn nhân lực chất lượng cao trở 16 thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta hiện nay. Con người là trung tâm của sự phát triển mà giáo dục và đào tạo là nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển để có nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, giáo dục và đào tạo cần được chú trọng ngay từ trong các chính sách, chủ trương”. Để đảm bảo cho GD&ĐT đáp ứng tốt với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo tác giả cần giải quyết 4 vấn đề cơ bản: “Trước hết, công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo cần đổi mới theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu đang đặt ra và phù hợp với phương thức quản lý công mới.
Hai là, Nhà nước cần sớm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp thành cơ chế, chính sách cụ thể. Ba là, Nhà nước cần coi việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp, đặc biệt quan tâm đến lực lượng hiện đang công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc, vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo làm động lực để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo. Bốn là, Đảng và Nhà nước cần cụ thể hóa trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các địa phương trong triển khai thực hiện quan điểm đổi mới toàn diện nền GD&ĐT” [88]. Khai thác một nội dung cụ thể của CSXH trong phát triển giáo dục đại học, tác giả Nguyễn Cúc có nghiên cứu về “Phát triển nguồn nhân lực: Cần sự gắn kết trong chiến lược quy hoạch và chính sách” [13].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động đối với thị trường lao động; Chỉ rõ những vấn đề cần đặt ra trong đổi mới đào tạo và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4. Để giải quyết được những vấn đề này, tác giả đã gợi ý 3 giải pháp và một số gợi ý về chính sách ở nước ta, cụ thể: 17 Một là, cần tiếp tục gia cố những yếu tố nền móng, đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia. Hai là, nâng cao vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ tương tác với thị trường, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ, trước mắt ưu tiên đối với các lĩnh vực nước ta có thế mạnh, như công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học.
Ba là, các cơ sở giáo dục đại học cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp, các trường đại học quốc tế để xây dựng các phòng thí nghiệm theo hình thức hợp tác công - tư” [13]. Nghiên cứu CSXH dựa trên cơ sở các tiếp cận bao trùm và bền vững, năm 2017, tác giả Lê Ngọc Hùng có công trình nghiên cứu bàn về “Chính sách giáo dục ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững” [45]. Trong nghiên cứu này, tác giả khái quát về lý thuyết phát triển bao trùm, bền vững: các giai đoạn, mô hình và chiều cạnh; chỉ ra tình hình giáo dục qua tỷ lệ đi học đúng tuổi của Việt Nam; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực Việt Nam. Từ đó, tác giả đã đặt ra hai vấn đề và thảo luận về chính sách, cụ thể: “tại sao giáo dục của Việt Nam đạt thành tích cao không thua kém các nước phát triển nhưng Việt Nam vẫn nghèo? Tại sao Việt Nam đã chi tiêu rất nhiều cho giáo dục, vậy có cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục?” Từ những vấn đề đặt ra trên, tác giả đã giải quyết lần lượt từng vấn đề cụ thể và đưa ra nhận định mang tính khái quát: “Sự phát triển bao trùm và bền vững, thể hiện ở xu thế chuyển đổi các mô hình phát triển từ chiều rộng sang hiệu quả đến sáng tạo đòi hỏi phải mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao gồm trung học phổ thông và cao đẳng, đại học cho tất cả mọi người.
Cần cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình đi học đúng tuổi và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động để có thể đổi mới tư duy và chính sách giáo dục bậc cao vì phát triển bao trùm, bền vững của đất nước”. 18 Nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cụ thể trong CSXH đối với phát triển GD&ĐT, tác giả Cao Thu Hằng đã chủ biên cuốn sách chuyên khảo về “Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [trích theo 52]. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 3 chương, kết cấu trong dung lượng 227 trang, cụ thể: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng việc thực hiện CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam. Đối với CSXH hóa giáo dục, trong chương này theo tác giả Đảng, Nhà nước cần phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; nâng cao nhận thức và vai trò của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện xã hội hóa giáo dục như góp ý, viết sách giáo khoa, kiểm định độc lập.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, ở nước ta còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh khác nhau xung quanh đến CSXH đối với sự phát triển GD&ĐT. Những công trình này là cuốn sách, dự án, đề tài NCKH các cấp; các bài báo khoa học được đăng trong các kỷ yếu hội thảo, các tạp chí khoa học chuyên ngành… tiêu biểu như: Cuốn sách “Chính sách đổi mới về giáo dục - đào tạo, nghiên cứu và vận dụng hiệu quả ở trường học” [68] do Nxb Thế giới ban hành; “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [40] của tác giả Đặng Xuân Hoan; “Một số ý kiến về đổi mới chính sách giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức” [17] của tác giả Lê Văn Cường; “Đổi mới giáo dục ở Việt Nam nhằm tạo công bằng xã hội và phát triển bền vững” [44] của tác giả Lê Ngọc Hùng; “Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua và các giải pháp đồng bộ cần thực hiện thời gian tới” [38] của tác giả Nguyễn Vinh Hiển. Những công trình này, mặc dù nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung đều khẳng định được vị 19 trí, vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT; coi đó là yếu tố góp phần quan trọng vào phát triển nền giáo dục nước ta hiện nay. Một số công trình đã đi vào khái quát và chỉ rõ được những yêu cầu, giải pháp trong đổi mới CSXH nhằm phát triển GD&ĐT theo từng góc độ, phạm vi nghiên cứu nhất định.
Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội và vai trò của chính sách xã hội đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, trước xu hướng phát triển mạnh mẽ, toàn diện mọi mặt về đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội. đã làm cho nhu cầu nguồn nhân lực ở TPHCM không ngừng tăng nhanh về số lượng, đòi hỏi cao về chất lượng. Điều này cũng đặt ra những yêu cầu mới trong phát triển GD&ĐT ở Thành phố. Để giải quyết được vấn đề này, việc nghiên cứu về CSXH và vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Nghiên cứu trực tiếp đến CSXH và vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM dựa trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, năm 2014, tác giả Võ Thị Kim Loan có công trình luận án tiến sĩ về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Thành phố Hồ Chí Minh” [55]. Trong công trình này, khi đề cập đến CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM tác giả khẳng định: “Để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, trước hết cần thực hiện chính sách ưu đãi đối với đội ngũ giảng viên, nhất là chính sách đầu tư cho giáo dục và chính sách tiền lương. Thành phố cần kịp thời đưa ra những chính sách khuyến khích và động viên tất cả mọi người đi học, học thường xuyên và học suốt đời, tạo ra cơ hội học tập bình đẳng với tất cả mọi người. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh giải pháp về chính sách giáo dục là một nội dung quan trọng của Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác giả cho rằng: “giáo dục nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là lĩnh 20 vực ưu tiên trong chiến lược phát triển của TPHCM. Mục tiêu của phát triển giáo dục được thể hiện thông qua chính sách ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước, bên cạnh đó cần mở rộng nguồn đầu tư cho giáo dục ngoài ngân sách nhà nước; thực hiện phát triển các chương trình trọng điểm đối với nguồn nhân lực chất lượng cao” [55, tr.139] Tiếp cận dưới góc độ coi CSXH hóa giáo dục là yếu tố quan trọng thúc đẩy giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong bài viết “Mấy vấn đề xã hội hóa giáo dục từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh [50], tác giả Nguyễn Gia Kiệm đã chỉ ra sự xuất hiện của các CSXH hóa giáo dục đã ảnh hưởng không nhỏ đến GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết đã phân tích một số thành tựu và hạn chế trong công tác xã hội hóa giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 - 2012, từ đó làm cơ sở thực tiễn đề xuất những mục tiêu, nhiệm vụ nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục của thành phố trong giai đoạn tiếp theo [50].