Vai trò của chính sách xã hội đối với phát triển giáo dục và đào tạo tại TP.HCM hiện nay

Luận án tiến sĩ giáo dục nghiên cứu triết học chính sách xã hội và vai trò của nó đối với phát triển giáo dục và đào tạo ở thành phố hồ, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

207
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Luận án tiến sĩ của Phan Văn Thành tập trung vào chính sách xã hội (CSXH) và vai trò của nó trong phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Phần tổng quan nghiên cứu đã khảo sát các công trình tiêu biểu liên quan đến CSXHGD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu sâu hơn về vai trò của CSXH trong bối cảnh hiện đại. Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến CSXH từ nhiều góc độ, nhưng vẫn còn thiếu sự tập trung vào mối quan hệ giữa CSXHGD&ĐT tại TP.HCM.

1.1. Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội

Các nghiên cứu về CSXH đã được thực hiện từ lâu, cả trong và ngoài nước. Các công trình như 'Chính sách xã hội trong xã hội chủ nghĩa phát triển' của V.Z RôGôVin và 'Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hóa' của Palier Bruno đã làm rõ vai trò của CSXH trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Ở Việt Nam, CSXH được nghiên cứu từ thập niên 80, với các công trình như 'Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp' của Phạm Xuân Nam, nhấn mạnh sự cần thiết của việc đổi mới CSXH trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới.

1.2. Những công trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo

Các nghiên cứu về GD&ĐT tập trung vào vai trò của giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực và kinh tế - xã hội. Các công trình như 'Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020' đã chỉ rõ tầm quan trọng của CSXH trong việc hỗ trợ GD&ĐT. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu vào mối quan hệ giữa CSXHGD&ĐT tại TP.HCM, một địa bàn có đặc thù kinh tế - xã hội phức tạp.

II. Chính sách xã hội và vai trò của nó đối với phát triển giáo dục và đào tạo

Luận án làm rõ khái niệm và đặc điểm của CSXH, cũng như mối quan hệ giữa CSXHGD&ĐT. CSXH được xem là công cụ quan trọng để định hướng và hỗ trợ GD&ĐT, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Luận án cũng phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của CSXH trong GD&ĐT, bao gồm yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị.

2.1. Quan niệm và đặc điểm của chính sách xã hội

CSXH được định nghĩa là hệ thống các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo công bằng và phát triển bền vững. Đặc điểm của CSXH bao gồm tính toàn diện, linh hoạt và gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Luận án nhấn mạnh rằng CSXH không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là động lực thúc đẩy GD&ĐT.

2.2. Vai trò của chính sách xã hội đối với giáo dục và đào tạo

CSXH đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện và động lực cho GD&ĐT phát triển. Các chính sách như miễn giảm học phí, hỗ trợ học sinh nghèo và đãi ngộ giáo viên đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt là sự thiếu đồng bộ và hiệu quả chưa cao.

III. Thực trạng và nguyên nhân của chính sách xã hội đối với giáo dục và đào tạo tại TP

Luận án phân tích thực trạng CSXH và vai trò của nó trong GD&ĐT tại TP.HCM. TP.HCM là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của cả nước, với hệ thống giáo dục đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, việc thực hiện CSXH trong GD&ĐT còn nhiều bất cập, như sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật và hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao.

3.1. Đặc điểm và yêu cầu phát triển giáo dục tại TP.HCM

TP.HCM có mật độ dân cư cao và hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến đại học. Điều này đặt ra yêu cầu cao về việc hoàn thiện CSXH để đảm bảo sự phát triển đồng đều và bền vững của GD&ĐT. Tuy nhiên, các chính sách hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, đặc biệt là trong việc hỗ trợ học sinh nghèo và cải thiện chất lượng giáo dục.

3.2. Thực trạng và nguyên nhân của các hạn chế

Các hạn chế trong việc thực hiện CSXH tại TP.HCM bao gồm sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp và sự chồng chéo trong các chính sách. Nguyên nhân chính là do sự thiếu hợp lý trong việc phân bổ ngân sách và sự thiếu đồng bộ trong quản lý. Điều này dẫn đến chất lượng GD&ĐT tại TP.HCM còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước.

IV. Giải pháp phát huy vai trò của chính sách xã hội đối với giáo dục và đào tạo tại TP

Luận án đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của CSXH trong GD&ĐT tại TP.HCM. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Các giải pháp này được áp dụng đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của GD&ĐT tại TP.HCM.

4.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội

Các giải pháp hoàn thiện CSXH bao gồm việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật, tăng cường sự đồng bộ và minh bạch trong quản lý. Luận án cũng đề xuất việc tăng cường đầu tư ngân sách cho GD&ĐT, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ học sinh nghèo và cải thiện điều kiện làm việc của giáo viên.

4.2. Nhóm giải pháp phát huy vai trò của chính sách xã hội

Các giải pháp phát huy vai trò của CSXH bao gồm việc tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của CSXH trong GD&ĐT. Luận án cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá và giám sát thường xuyên để đảm bảo hiệu quả của các chính sách.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ triết học chính sách xã hội và vai trò của nó đối với phát triển giáo dục và đào tạo ở thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề: “Phát triển con người để có nguồn nhân lực chất lượng cao trở 16 thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta hiện nay. Con người là trung tâm của sự phát triển mà giáo dục và đào tạo là nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển để có nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, giáo dục và đào tạo cần được chú trọng ngay từ trong các chính sách, chủ trương”. Để đảm bảo cho GD&ĐT đáp ứng tốt với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo tác giả cần giải quyết 4 vấn đề cơ bản: “Trước hết, công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo cần đổi mới theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu đang đặt ra và phù hợp với phương thức quản lý công mới.

Hai là, Nhà nước cần sớm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp thành cơ chế, chính sách cụ thể. Ba là, Nhà nước cần coi việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp, đặc biệt quan tâm đến lực lượng hiện đang công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc, vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo làm động lực để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo. Bốn là, Đảng và Nhà nước cần cụ thể hóa trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các địa phương trong triển khai thực hiện quan điểm đổi mới toàn diện nền GD&ĐT” [88]. Khai thác một nội dung cụ thể của CSXH trong phát triển giáo dục đại học, tác giả Nguyễn Cúc có nghiên cứu về “Phát triển nguồn nhân lực: Cần sự gắn kết trong chiến lược quy hoạch và chính sách” [13].

Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động đối với thị trường lao động; Chỉ rõ những vấn đề cần đặt ra trong đổi mới đào tạo và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4. Để giải quyết được những vấn đề này, tác giả đã gợi ý 3 giải pháp và một số gợi ý về chính sách ở nước ta, cụ thể: 17 Một là, cần tiếp tục gia cố những yếu tố nền móng, đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia. Hai là, nâng cao vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ tương tác với thị trường, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ, trước mắt ưu tiên đối với các lĩnh vực nước ta có thế mạnh, như công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học.

Ba là, các cơ sở giáo dục đại học cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp, các trường đại học quốc tế để xây dựng các phòng thí nghiệm theo hình thức hợp tác công - tư” [13]. Nghiên cứu CSXH dựa trên cơ sở các tiếp cận bao trùm và bền vững, năm 2017, tác giả Lê Ngọc Hùng có công trình nghiên cứu bàn về “Chính sách giáo dục ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững” [45]. Trong nghiên cứu này, tác giả khái quát về lý thuyết phát triển bao trùm, bền vững: các giai đoạn, mô hình và chiều cạnh; chỉ ra tình hình giáo dục qua tỷ lệ đi học đúng tuổi của Việt Nam; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực Việt Nam. Từ đó, tác giả đã đặt ra hai vấn đề và thảo luận về chính sách, cụ thể: “tại sao giáo dục của Việt Nam đạt thành tích cao không thua kém các nước phát triển nhưng Việt Nam vẫn nghèo? Tại sao Việt Nam đã chi tiêu rất nhiều cho giáo dục, vậy có cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục?” Từ những vấn đề đặt ra trên, tác giả đã giải quyết lần lượt từng vấn đề cụ thể và đưa ra nhận định mang tính khái quát: “Sự phát triển bao trùm và bền vững, thể hiện ở xu thế chuyển đổi các mô hình phát triển từ chiều rộng sang hiệu quả đến sáng tạo đòi hỏi phải mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao gồm trung học phổ thông và cao đẳng, đại học cho tất cả mọi người.

Cần cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình đi học đúng tuổi và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động để có thể đổi mới tư duy và chính sách giáo dục bậc cao vì phát triển bao trùm, bền vững của đất nước”. 18 Nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cụ thể trong CSXH đối với phát triển GD&ĐT, tác giả Cao Thu Hằng đã chủ biên cuốn sách chuyên khảo về “Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [trích theo 52]. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 3 chương, kết cấu trong dung lượng 227 trang, cụ thể: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng việc thực hiện CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện CSXH hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam. Đối với CSXH hóa giáo dục, trong chương này theo tác giả Đảng, Nhà nước cần phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; nâng cao nhận thức và vai trò của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện xã hội hóa giáo dục như góp ý, viết sách giáo khoa, kiểm định độc lập.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, ở nước ta còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh khác nhau xung quanh đến CSXH đối với sự phát triển GD&ĐT. Những công trình này là cuốn sách, dự án, đề tài NCKH các cấp; các bài báo khoa học được đăng trong các kỷ yếu hội thảo, các tạp chí khoa học chuyên ngành… tiêu biểu như: Cuốn sách “Chính sách đổi mới về giáo dục - đào tạo, nghiên cứu và vận dụng hiệu quả ở trường học” [68] do Nxb Thế giới ban hành; “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [40] của tác giả Đặng Xuân Hoan; “Một số ý kiến về đổi mới chính sách giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức” [17] của tác giả Lê Văn Cường; “Đổi mới giáo dục ở Việt Nam nhằm tạo công bằng xã hội và phát triển bền vững” [44] của tác giả Lê Ngọc Hùng; “Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua và các giải pháp đồng bộ cần thực hiện thời gian tới” [38] của tác giả Nguyễn Vinh Hiển. Những công trình này, mặc dù nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung đều khẳng định được vị 19 trí, vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT; coi đó là yếu tố góp phần quan trọng vào phát triển nền giáo dục nước ta hiện nay. Một số công trình đã đi vào khái quát và chỉ rõ được những yêu cầu, giải pháp trong đổi mới CSXH nhằm phát triển GD&ĐT theo từng góc độ, phạm vi nghiên cứu nhất định.

Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội và vai trò của chính sách xã hội đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, trước xu hướng phát triển mạnh mẽ, toàn diện mọi mặt về đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội. đã làm cho nhu cầu nguồn nhân lực ở TPHCM không ngừng tăng nhanh về số lượng, đòi hỏi cao về chất lượng. Điều này cũng đặt ra những yêu cầu mới trong phát triển GD&ĐT ở Thành phố. Để giải quyết được vấn đề này, việc nghiên cứu về CSXH và vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Nghiên cứu trực tiếp đến CSXH và vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM dựa trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, năm 2014, tác giả Võ Thị Kim Loan có công trình luận án tiến sĩ về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Thành phố Hồ Chí Minh” [55]. Trong công trình này, khi đề cập đến CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM tác giả khẳng định: “Để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, trước hết cần thực hiện chính sách ưu đãi đối với đội ngũ giảng viên, nhất là chính sách đầu tư cho giáo dục và chính sách tiền lương. Thành phố cần kịp thời đưa ra những chính sách khuyến khích và động viên tất cả mọi người đi học, học thường xuyên và học suốt đời, tạo ra cơ hội học tập bình đẳng với tất cả mọi người. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh giải pháp về chính sách giáo dục là một nội dung quan trọng của Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tác giả cho rằng: “giáo dục nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là lĩnh 20 vực ưu tiên trong chiến lược phát triển của TPHCM. Mục tiêu của phát triển giáo dục được thể hiện thông qua chính sách ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước, bên cạnh đó cần mở rộng nguồn đầu tư cho giáo dục ngoài ngân sách nhà nước; thực hiện phát triển các chương trình trọng điểm đối với nguồn nhân lực chất lượng cao” [55, tr.139] Tiếp cận dưới góc độ coi CSXH hóa giáo dục là yếu tố quan trọng thúc đẩy giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong bài viết “Mấy vấn đề xã hội hóa giáo dục từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh [50], tác giả Nguyễn Gia Kiệm đã chỉ ra sự xuất hiện của các CSXH hóa giáo dục đã ảnh hưởng không nhỏ đến GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết đã phân tích một số thành tựu và hạn chế trong công tác xã hội hóa giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 - 2012, từ đó làm cơ sở thực tiễn đề xuất những mục tiêu, nhiệm vụ nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục của thành phố trong giai đoạn tiếp theo [50].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Vai trò của chính sách xã hội trong phát triển giáo dục và đào tạo tại TP.HCM là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của các chính sách xã hội đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu này phân tích cách các chính sách xã hội được thiết kế và triển khai có thể thúc đẩy chất lượng giáo dục, cải thiện cơ hội học tập, và đóng góp vào sự phát triển bền vững của thành phố. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chính sách xã hội và giáo dục, cũng như cách áp dụng các giải pháp hiệu quả trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển đô thị, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng một số yếu tố đến công tác phát triển quỹ đất phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận đến năm 2030 cũng cung cấp những góc nhìn sâu sắc về quản lý đất đai và quy hoạch. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất đai trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về quản lý tài nguyên đất đai trong bối cảnh đô thị hóa.