Luận án tiến sĩ tư tưởng lập hiến hồ chí minh nội dung và giá trị

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tư tưởng lập hiến hồ chí minh nội dung và giá trị, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

1.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

1.7. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2.1.1. Tình hình nghiên cứu về nội dung tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh và giá trị của nó

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh là một phần quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Được hình thành qua nhiều năm hoạt động và nghiên cứu, tư tưởng này không chỉ phản ánh những giá trị truyền thống của dân tộc mà còn kế thừa tinh hoa của tư tưởng lập hiến thế giới. Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh đã đóng góp vào việc xây dựng các bản hiến pháp dân chủ của Việt Nam, thể hiện rõ nét trong Hiến pháp 1946 và 1959. Những giá trị này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn sâu sắc trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại.

1.1. Khái niệm và nội dung tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh bao gồm nhiều khái niệm quan trọng như quyền lập hiến, vai trò của hiến pháp và các điều kiện cần thiết để xây dựng hiến pháp. Nội dung này được hình thành từ những quan điểm của Người về dân chủ, quyền con người và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

1.2. Giá trị của tư tưởng lập hiến trong lịch sử Việt Nam

Giá trị của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh được thể hiện qua việc xây dựng các bản hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp 1946. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, khẳng định quyền lực của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng.

II. Những thách thức trong việc thực hiện tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh

Mặc dù tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh đã được công nhận và áp dụng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện. Những vấn đề như sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, sự chậm trễ trong việc sửa đổi hiến pháp và sự chưa đầy đủ trong việc thực thi quyền con người vẫn tồn tại. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục.

2.1. Những vấn đề pháp lý trong việc thực hiện tư tưởng lập hiến

Hệ thống pháp luật hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến việc thực hiện tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả cao. Cần có sự đồng bộ và nhất quán trong các văn bản pháp luật để đảm bảo quyền lợi của công dân.

2.2. Thực trạng quyền con người trong bối cảnh hiện nay

Quyền con người vẫn là một vấn đề nhạy cảm và chưa được thực thi đầy đủ. Việc bảo vệ quyền lợi của công dân cần được chú trọng hơn nữa để phù hợp với tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh.

III. Phương pháp nghiên cứu tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh

Để nghiên cứu tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp. Những phương pháp này giúp làm rõ nội dung và giá trị của tư tưởng lập hiến, từ đó đưa ra những nhận định chính xác và sâu sắc.

3.1. Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu

Phương pháp lịch sử giúp phân tích quá trình hình thành và phát triển tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho hiện tại.

3.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp phân tích và tổng hợp giúp làm rõ các khái niệm và nội dung cơ bản của tư tưởng lập hiến, từ đó đánh giá giá trị và ứng dụng của nó trong thực tiễn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh trong xây dựng hiến pháp

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh đã được áp dụng trong việc xây dựng và sửa đổi các bản hiến pháp của Việt Nam. Hiến pháp 2013 là một ví dụ điển hình cho việc kế thừa và phát triển tư tưởng lập hiến của Người, thể hiện rõ nét trong các quy định về quyền con người và tổ chức quyền lực nhà nước.

4.1. Hiến pháp 2013 và những điểm mới

Hiến pháp 2013 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Những quy định về quyền con người và tổ chức quyền lực nhà nước được cải cách mạnh mẽ, thể hiện rõ tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh.

4.2. Kinh nghiệm từ việc thực thi hiến pháp

Việc thực thi hiến pháp cần được chú trọng để đảm bảo quyền lợi của công dân. Những kinh nghiệm từ việc thực thi hiến pháp trước đây sẽ là bài học quý giá cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn sâu sắc trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Trong tương lai, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng tư tưởng này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền lợi của công dân.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu tư tưởng lập hiến

Nghiên cứu tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh sẽ giúp làm rõ hơn những giá trị cốt lõi của tư tưởng này, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp lãnh đạo trong việc thực thi hiến pháp.

5.2. Triển vọng phát triển tư tưởng lập hiến trong tương lai

Triển vọng phát triển tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự đồng thuận và quyết tâm của toàn xã hội trong việc xây dựng một nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền lợi của công dân và phát triển bền vững.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ tư tưởng lập hiến hồ chí minh nội dung và giá trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cuốn sách Hiến pháp năm 1946 – Bản Hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến Nhà nước Việt Nam của Đỗ Ngọc Hải [39], tác giả trình bày khái quát tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh thể hiện qua các tác phẩm Bản yêu sách của dân An Nam, Nhời hô hoán cùng Vạn Quốc hội, Chánh cương vắn tắt, Chương trình cách mạng của Mặt trận Việt Minh, Chương trình Mười điểm, Tuyên ngôn độc lập. Từ đó, tác giả rút ra một số nhận xét: khái niệm hiến pháp có rất sớm ở Hồ Chí Minh từ năm 1919, ngay cả khi Người chưa tìm thấy con đường đi cho dân tộc, nhưng đã nhận thấy vai trò, tác dụng của hiến pháp trong quản lý xây dựng đất nước; phải tự lập ra hiến pháp mới đáp ứng được yêu cầu nhân dân và phù hợp với điều kiện lịch sử đất nước mình; nội dung hiến pháp phải thể hiện học thuyết Mác- Lênin, thể hiện hiến pháp cộng hòa dân chủ. Tiếp đó, tác giả phân tích tư tưởng lập hiến của Hiến pháp 1946 là sự thể hiện cụ thể của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh: hiến pháp vì dân, ban hành hiến pháp là để mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi người dân được hưởng lợi; hiến pháp phải ghi lấy thành tích vẻ vang của cách mạng được thể hiện trong Lời nói đầu; hiến pháp là yếu tố trước tiên của một nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền và là khuôn mẫu cho tổ chức, hoạt động của nhà nước dân chủ. Hồ Chí Minh lựa chọn sáng suốt những đại biểu soạn thảo Dự thảo Hiến pháp và “vai trò chọn người trong Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yếu tố cơ bản dẫn tới thành công của Ủy ban dự thảo” [39, tr.

Trong bài viết Hồ Chủ tịch với những tư tưởng lập hiến trong Hiến pháp năm 1946, Đỗ Ngọc Hải đã phân tích rõ hơn và khẳng định trong bốn nội dung tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, thì “tư tưởng lập hiến vì dân là trọng tâm, cơ bản. Vì tất cả những tư tưởng sau chỉ để phục vụ cho tư tưởng thứ nhất. Nó phù hợp với quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tất cả mọi khoa học phải vì con người, phục vụ con người” [40, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 do Võ Khánh Vinh chủ biên [155], có đề cập đến một số quan điểm về lập hiến Hồ Chí Minh: sự cần thiết của hiến pháp; điều kiện ra đời của bản hiến pháp là độc lập dân tộc và chế độ dân chủ; mối quan hệ độc lập dân tộc và dân quyền, trong đó độc lập là nền tảng thực hiện dân quyền, muốn có dân quyền thì trước hết dân tộc phải độc lập, bởi vậy trước hết phải tập trung cho việc giành độc lập, dân quyền được thực hiện từng bước để phục vụ cho việc giành độc lập; quan điểm về chính thể nhân dân và “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.

Tác giả nhận định Hồ Chí Minh là người khởi xướng tư tưởng lập hiến dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Đó là tư tưởng lập hiến duy nhất đúng cho xã hội Việt Nam, được khảo chứng và phát huy trong thực tiễn. Tác giả nêu lên một số nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946, là sự kết tinh và hiện thực hóa tư tưởng lập hiến kiểu mới Hồ Chí Minh: ba nguyên tắc trong Lời nói đầu; tổ chức chính quyền dân chủ với sự phân công nhiệm vụ cho từng cơ quan và thiết kế nhiều cơ chế kiểm tra, giam sát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước; tư tưởng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ghi nhận quyền cơ bản của con người mà trước đó người dân Việt Nam chưa được thụ hưởng. Trong Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam của Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa [116], các tác giả nêu lên những nét đặc trưng của tư tưởng pháp quyền - lập hiến Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam: sự cần thiết của hiến pháp; về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; về tự do, nhân quyền và dân quyền; về tổ chức và hoạt động của nhà nước; về biểu tượng quốc gia: quốc kỳ, quốc ca.

Bên cạnh đó, các tác giả chỉ ra một số quan điểm về lập hiến của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển của tư tưởng lập hiến mácxít: Đảng Cộng sản giữ độc quyền lãnh đạo toàn xã hội; Nhà nước chuyên chính vô sản được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền chứ không phải phân quyền và nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân; các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng phải được chú ý củng cố và phát huy vai trò trong hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chính trị. Các tác giả dành một mục phân tích nội dung và tính chất lập hiến của Tuyên ngôn độc lập: đề cao quan hệ quốc tế bình đẳng, đề cao nguyên tắc quốc gia thống nhất, chủ quyền dân tộc và tự do dân chủ; xây dựng chế độ nhà nước cộng hòa, bảo đảm quyền độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho công dân Việt Nam. Những tư tưởng trong Tuyên ngôn “cũng chính là sự tổng kết hùng hồn tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng yêu nước Việt Nam khác, tích lũy trong suốt quá trình đấu tranh lập hiến liên tục suốt gần nửa thế kỷ trước ngày lịch sử 2-9-1945” [116, tr. Qua việc trình bày sự phát triển tư tưởng lập hiến trong nửa đầu thế kỉ XX ở Việt Nam, các tác giả khẳng định các luồng tư tưởng lập hiến “muôn màu, muôn vẻ”, không ngừng đấu tranh, cọ xát với nhau, trong đó, đi theo con đường đấu tranh lập hiến xã hội chủ nghĩa, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì chỉ có Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhận thức về Hiến pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Võ Thị Thúy Hà [38] trình bày khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hiến pháp. Hiến pháp phải đảm bảo các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, phải ghi nhận được những giá trị cơ bản nhất và quyền cao quý nhất của con người. Hiến pháp phải đề ra được các nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc hiệu lực của hiến pháp thể hiện rõ nét ở quy định về thủ tục lập hiến và sửa đổi hiến pháp, việc giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với cơ quan và cá nhân có thẩm quyền.

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh về một bản hiến pháp dân chủ, của Trần Ngọc Đường [33], trình bày ba nội dung trong tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh. Thứ nhất, nước phải có độc lập, quốc gia có chủ quyền là điều kiện tiên quyết của hiến pháp và hiến pháp tuyên bố về mặt pháp lý một nhà nước độc lập, có chủ quyền, là phương tiện bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Thứ hai, hiến pháp phải là một bản hiến pháp dân chủ, dân chủ là điều kiện đủ cho sự ra đời của hiến pháp, dân chủ thể hiện ở trong nội dung và cách thức ban hành, đồng thời là phương tiện để nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Thứ ba, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” bằng sức mạnh “thần linh pháp quyền” của hiến pháp.

Đi sâu, tập trung phân tích những nội dung cụ thể của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh về các vấn đề vai trò, vị trí của hiến pháp; chủ quyền nhân dân; mô hình chính thể; tổ chức quyền lực nhà nước; về quyền con người, có một số bài viết, cuốn sách đáng chú ý Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hiến pháp của Tào Thị Quyên [106] phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hiến pháp đối với việc khẳng định chủ quyền của quốc gia, quy định thể chế nhà nước và đảm bảo quyền công dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng hiến pháp của Hà Thị Thùy Dương [25] nêu lên một số vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng một bản hiến pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh: kế thừa những điểm tích cực trong các bản hiến pháp trước; phản ánh tình hình hiện tại và xu thế phát triển của đất nước trong tương lai; đảm bảo đầy đủ quyền con người, quyền công dân; đảm bảo bản hiến pháp phải thực sự của nhân dân; quá trình xây dựng hiến pháp phải là quá trình làm việc rất công phu cẩn thận, nghiêm túc. Vấn đề chủ quyền nhân dân được các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Dung, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Xuân Tế, Đào Trí Úc….khẳng định trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến và “bằng quyền lập hiến, nhân dân trao cho nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [18, 114], cũng như có sự phân biệt giữa hoạt động lập pháp và hoạt động lập hiến, tức là quyền lập các quyền với các quyền đã được lập ra. Việc sửa đổi hiến pháp cũng phải được quyết định bởi nhân dân.

Nhân dân thực hiện quyền lập hiến thông qua bầu Quốc hội lập hiến và thực hiện trưng cầu dân ý. Và chỉ khi nào thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến thì mới đảm bảo tính hiệu lực tối cao của hiến pháp. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, các tác giả khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, xây dựng nhà nước của dân, do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 dân, vì dân. Nhà nước chỉ là cơ quan đại diện được nhân dân trao quyền, cán bộ, công chức là “công bộc” của nhân dân.

Quyền làm chủ của nhân dân phải được thể hiện trực tiếp ở phương thức cơ bản thiết lập bộ máy nhà nước là bầu cử trực tiếp, theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ