Tổng quan luận án

Truyện Nôm nói chung và truyện Nôm bác học nói riêng là một hiện tượng văn chương đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Nhiều công trình trước đây đã tiến hành khai phá mảng văn học này nhưng chủ yếu tập trung ở bình diện phiên âm, chú giải văn bản và tiếp cận tác phẩm từ góc độ lịch sử - xã hội. Trong khi đó, bản thân truyện Nôm mang chở nhiều tầng vỉa phức tạp: tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh, tâm thức cá thể và cộng đồng; từ huyền sử đến sử ký; từ thần tích, thần phả đến tiểu sử cá nhân; từ cổ tích thần kỳ đến truyện ngụ ngôn, truyện trạng; từ nguồn tích bản địa đến nguồn tích vay mượn bên ngoài. Việc tiếp cận thuần túy theo hướng lịch sử - xã hội cụ thể bộc lộ trạng thái bấp bênh khi cấu trúc văn bản truyện Nôm bác học (từ Lâm tuyền kỳ ngộ, Hoa tiên đến Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên) luôn dung chứa các yếu tố linh dị, cảm tính, ma thuật, bói toán, chiêm mộng, tâm lý tiền logic và sự tham dự không phân biệt giữa các tầng vũ trụ - tâm linh (âm - dương, trên - dưới, người - trời, người - âm phủ). Các motif lặp lại và sự luân phiên hồi cố của không gian, thời gian cho thấy nhân vật thường biểu cảm và ứng xử theo các khuôn đúc kinh nghiệm sẵn có của tâm lý tập thể, mang dấu ấn thần thoại và cổ tích. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một hướng tiếp cận từ lý thuyết hiện đại để giải mã các cấu trúc thực tại tượng trưng và chiều sâu nhân văn của truyện Nôm bác học vượt ra ngoài giới hạn phản ánh lịch sử đơn tuyến.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Đi từ các không gian sống tổng thể của cộng đồng, bao gồm sự sống trải (sống trải lí thuyết và sống trải trước cuộc đời), thực hành tâm linh với các luồng tư tưởng văn hóa gần gũi với tri thức bản địa Việt Nam giai đoạn hậu kỳ trung đại như Nho giáo, Lão Trang, Phật giáo, Đạo giáo, tư tưởng văn hóa bản địa để hướng về giải thích các cấu trúc thực tại tượng trưng - các cấu trúc tư tưởng bề sâu của truyện Nôm bác học.
  2. Lí giải nguồn cội các biểu hiện tái lặp, các hình ảnh, motif chung vốn tồn tại như những "mẫu hình ứng xử" nghệ thuật mà hầu hết các truyện Nôm bác học đều có chung đặc điểm.
  3. Chỉ ra và chứng minh rằng, những thực tại tượng trưng trong truyện Nôm bác học chính là những miền mơ tưởng của cả cộng đồng, tồn tại trong vô thức tập thể dướicác hình thức cổ mẫu, tham dự vào cấu trúc nghệ thuật như một di sản tinh thần nhân văn được kế thừa và phục sinh qua các thời đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa các hướng nghiên cứu đã có, lí giải và phân tích chúng nhằm hướng đến xác lập một hướng nhìn riêng.
  2. Mô tả ngắn gọn các thuật ngữ trung tâm như những từ khóa: truyện Nôm bác học, cổ mẫu, vô thức tập thể, các dấu ấn thần thoại và cổ tích trong cấu trúc nghệ thuật biểu tỏ thực tại của truyện Nôm bác học, biểu tượng, các biểu trưng.
  3. Chỉ ra những giá trị nghệ thuật của truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản truyện Nôm bác học trung đại Việt Nam, tập trung trực tiếp vào các tác phẩm tiêu biểu như: Đoạn trường tân thanh (ĐTTT), Hoa tiên (HT), Lâm tuyền kỳ ngộ (LTKN), Lục Vân Tiên (LVT), Mai đình mộng ký (MĐMK), Nữ tú tài (NKL), Sơ kính tân trang (SKTT), Sãi Vãi (ST), cùng các truyện Nôm khuyết danh có phong cách bác học như Phan Trần, Nhị độ mai, Phù Dung tân truyện.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian và thời gian văn học, luận án khảo sát các sáng tác truyện Nôm giai đoạn trung đại (đặc biệt là hậu kỳ trung đại từ thế kỷ XVI-XVIII đến thế kỷ XIX). Về phạm vi lý thuyết, luận án vận dụng lý thuyết tâm lý học phân tích chiều sâu của Carl Gustav Jung (trọng tâm là cổ mẫu và vô thức tập thể), phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard (ảnh tượng mộng mơ), kết hợp thành tựu của huyền thoại học, nhân học văn hóa, xã hội học và tâm lý học Phật giáo (khái niệm A-lại-da thức trong Duy thức học) để làm sáng tỏ các không gian mơ tưởng, giới hạn thân phận và các motif nghệ thuật trong truyện Nôm bác học.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu truyện Nôm bác học được luận án tổng thuật qua các thời kỳ và hệ hình tư duy tiếp nhận:

  1. Đánh giá truyện Nôm bác học trong bối cảnh tư duy tiền hiện đại: Tiếp nhận ban đầu diễn ra trong giới hàn lâm, tinh hoa qua hình thức các bài tựa, bài bạt, đề từ mang tính chất thù tạc, tri âm và phẩm bình đạo đức. Tiêu biểu gồm: Đoạn trường tân thanh đề từ của Phạm Quý Thích, các bài tựa Đoạn trường tân thanh của Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị và Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân, bài tựa truyện Hoa tiên của Cao Bá Quát. Năm 1913, trên Đông Dương tạp chí (số 9), Nguyễn Văn Vĩnh (ký tên T.) công bố bài viết Văn chương An Nam (Étude sur la langue et littérature annamites), bàn luận về vị thế và sự kết hợp giữa chữ Nôm, chữ Nho và tiếng Pháp trong phát triển văn học.

  2. Giai đoạn những năm 1920: Trên Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, báo Hữu Thanh, nghiên cứu chuyển dịch dần sang tính phân tích: Nguyễn Tường Tam khảo sát câu chữ, kỹ thuật mỹ thuật của Truyện Kiều; Vũ Đình Long xác định "chủ não" tác phẩm là chữ "tình làm hi sinh cho chữ hiếu", phân tích văn tả người, tả cảnh, vấn đáp và luân lý; Trần Trọng Kim khảo sát thuyết nhân quả của Phật học trong Truyện Kiều; Đồ Nam - Nguyễn Trọng Thuật tiếp cận bằng phương pháp so sánh đối chiếu với nguyên thư Trung Quốc nhưng vẫn gắn với mục đích giáo hóa đạo đức; René Crayssac so sánh xã hội Á Đông mang tính gia trưởng, cộng đồng trong Truyện Kiều với tư tưởng cá nhân phương Tây.

  3. Giai đoạn những năm 1940: Dương Quảng Hàm xuất bản Việt Nam văn học sử yếu (1943), hệ thống hóa các truyện Nôm (Truyện Kiều, Hoa tiên, Lục Vân Tiên, Bích Câu kỳ ngộ, Nhị độ mai, Phan Trần) dưới góc độ văn chương, triết lý và luân lý. Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa công bố Văn chương Truyện Kiều (1945), vận dụng phương pháp duy vật lịch sử và văn hóa lịch sử. Nguyễn Tiến Lãng viết Nét đẹp Hoa tiên - truyện thơ Annam, xem thi ca trong truyện Nôm như sự phóng vút vào cõi vô tận để giải tỏa giới hạn đời sống thường nhật.

  4. Giai đoạn 1945 - 1975:

  • Ở miền Bắc: Nghiên cứu chịu sự chi phối của khuynh hướng xã hội học Mác-xít, lý thuyết phản ánh hiện thực và đấu tranh giai cấp. Các tác giả Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Việt Thanh, Nguyễn Hồng Phong, Văn Tân tập trung phân tích giá trị hiện thực, tinh thần phản kháng và giá trị phản phong trong Truyện Kiều, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và truyện Nôm khuyết danh (Thạch Sanh, Trinh thử, Quan Âm Thị Kính). Các công trình văn học sử tiêu biểu gồm Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, nhóm Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong) và Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, nhóm Lê Quý Đôn). Nhóm nghiên cứu văn hóa dân gian (Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đổng Chi) và các nhà biên khảo, dịch chú (Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh, Lại Ngọc Cang, Maurice Durand) đóng góp quan trọng trong xử lý văn bản học.
  • Ở miền Nam: Nghiên cứu mang tính đa dạng về trường phái. Các công trình văn học sử của Phạm Việt Tuyền, Hà Như Chi, Thạch Trung Giả, Thanh Lãng (Văn chương chữ Nôm, Bảng lược đồ văn học Việt Nam), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên), Phạm Văn Diêu khảo sát quy mô truyện Nôm. Đáng chú ý, Lê Tuyên trong Thể tánh của thi ca vận dụng hiện tượng học (Merleau-Ponty) và phân tâm học vật chất (Gaston Bachelard) vào giải mã Lâm tuyền kỳ ngộ, Bích Câu kỳ ngộ, Đoạn trường tân thanh. Đàm Quang Thiện, Nguyễn Đăng Thục (Thế giới nghệ thuật Nguyễn Du), Đỗ Long Vân (Truyện Kiều ABC), Phạm Công Thiện (Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc) tiếp cận tác phẩm qua các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và bản thể học.
  1. Giai đoạn sau 1975 (từ 1986): Đặng Thanh Lê xuất bản chuyên khảo Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979), nghiên cứu thể loại tự sự bằng thơ và thi pháp hiện thực. Trần Đình Sử công bố Thi pháp Truyện Kiều và Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, phân tích quan niệm con người, thời gian - không gian nghệ thuật. Kiều Thu Hoạch (Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại) nhấn mạnh bản chất văn hóa dân gian của thể loại. Nguyễn Phong Nam (Truyện thơ Nôm - những nghiên cứu hình thái học) xem truyện Nôm như một loại hình tổng thể gồm các tiểu loại hư cấu và vay mượn chuyển thể. Trần Đình Hượu nghiên cứu mô hình "nhà nho tài tử" và "truyện Nôm tài tử giai nhân" qua Hoa tiên, làm tiền đề cho công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam của Trần Ngọc Vương. Các học giả quốc tế như B. Riftin, B. Niculin nghiên cứu truyện Nôm trong mối tương quan khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

  2. Hướng nghiên cứu từ lý thuyết cổ mẫu: Trên thế giới, lý thuyết cổ mẫu của C.G. Jung được phát triển sang phê bình văn học bởi Maud Bodkin (Archetypal Patterns in Poetry, 1934), Charles Baudouin, Joseph Campbell (cổ mẫu người anh hùng, vị thần, nhà tiên tri), Mircea Eliade (ký ức tập thể và sự hồi cố), Gaston Bachelard (bốn yếu tố vật chất: đất, nước, lửa, không khí), Jean-Pierre Richard, Gilbert Durand, Northrop Frye (Giải phẫu phê bình - khái niệm vô thức thể loại và huyền thoại hóa văn học), E. Meletinsky (Thi pháp của huyền thoại). Tại Việt Nam, phê bình cổ mẫu được giới thiệu và vận dụng qua các công trình của Đặng Anh Đào, Đỗ Lai Thúy (Hồ Xuân Hương - Hoài niệm phồn thực, Bút pháp của ham muốn), Đào Vũ Hòa An (mã nghệ thuật Nước và Lửa trong Giàn thiêu), Nguyễn Thị Thanh Xuân (Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam), Đào Ngọc Chương.

Nhà nghiên cứu tại Việt Nam Thuật ngữ chuyển ngữ từ Archétype
Kim Định Sơ nguyên tượng
Vũ Đình Lưu, Đỗ Lai Thúy Siêu mẫu
Phan Quang Định, các nhà huyền thoại học Nguyên mẫu
Lưu Hồng Khanh Mẫu tượng
Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu Mẫu cổ
Phương Lựu, Nguyễn Thị Thanh Xuân Cổ mẫu
Đỗ Lai Thúy Đồ hình vĩnh cửu
Sigmund Freud (bản dịch) Vết tích tối cổ (résidus archaïques)

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình chuyên biệt nào vận dụng một cách hệ thống, toàn diện lý thuyết tâm lý học phân tích chiều sâu và phê bình cổ mẫu của C.G. Jung để giải mã toàn bộ mảng truyện Nôm bác học trung đại Việt Nam trên các bình diện cấu trúc không gian biểu tượng, các motif lặp lại và dự ước thân phận con người. Luận án xác lập vị trí là công trình khảo sát chuyên sâu mảng đề tài này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:

  • Tâm lý học phân tích chiều sâu của Carl Gustav Jung: Luận án sử dụng các phạm trù nền tảng gồm ý thức, bản ngã (trung tâm của ý thức, trung tính về đạo đức), vô thức cá nhân (chứa đựng các phức cảm - complex, mang hạt nhân hình ảnh imago), vô thức tập thể (collective unconscious - tầng sâu chứa đựng di sản tinh thần nguyên sơ của nhân loại) và cổ mẫu (archetype - các mô thức tâm thần bẩm sinh, kết tinh trong thần thoại, tôn giáo và biểu tượng nghệ thuật). Khái niệm Tự ngã (Self) - biểu tượng cho sự toàn vẹn, thống nhất của nhân cách - được sử dụng để khảo sát đích hướng đến của thân phận con người.
  • Phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard: Sử dụng khái niệm "sự mơ mộng" (rêverie) và các ảnh tượng mộng mơ gắn với vật chất nguyên thủy, đặc biệt là sự mơ mộng bóng âm qua hình tượng "trăng".
  • Lý thuyết biểu tượng văn hóa, Nhân học văn hóa và Huyền thoại học: Tiếp cận hiện tượng tái huyền thoại hóa, các cấu trúc thiêng/tục, các hành vi hồi cố, sự thanh tẩy và tâm thức tham dự thần bí.
  • Tâm lý học Phật giáo: Vận dụng khái niệm A-lại-da thức (kho chứa chủng tử vô thức) trong Duy thức học để đối sánh với vô thức tập thể.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp hệ thống: Đặt truyện Nôm bác học trong tiến trình phát triển của văn học chữ Nôm, sự chuyển biến tư tưởng nhân văn giai đoạn hậu kỳ trung đại và sự tương tác giữa hai dòng văn hóa bác học - bình dân.
  • Phương pháp xếp chồng văn bản (superposition des textes của Charles Mauron): Xếp chồng các tác phẩm truyện Nôm bác học khác nhau để tìm ra các mạng lưới liên tưởng lặp lại, các hình tượng và motif có tính tương đồng (ví dụ: biểu tượng "trời", motif các cặp đôi, hành vi tự vẫn, giấc mộng).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Giải mã các tầng nghĩa biểu tượng, các nếp gấp nội tâm và các mô thức không gian trong tác phẩm.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh các kiểu kết thúc tác phẩm, các cách đền bù số phận giữa các tác giả (như sự khác biệt giữa thế giới mộng tưởng của Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu) và đối sánh giữa hai cơ tầng tư tưởng Đông Á (Trung Hoa) với văn hóa bản địa Đông Nam Á.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản truyện Nôm bác học (Đoạn trường tân thanh, Hoa tiên, Lâm tuyền kỳ ngộ, Lục Vân Tiên, Mai đình mộng ký, Sơ kính tân trang, Sãi Vãi, Phan Trần, Nhị độ mai, Phù Dung tân truyện), các tư liệu văn học sử, văn bản khảo thích của các học giả tiền bối, cùng hệ thống công trình lý thuyết của C.G. Jung (đặc biệt là các tập 5, 6, 9, 15 trong tuyển tập của Jung và công trình khảo luận của Murray Stein), G. Bachelard, N. Frye, M. Eliade.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu truyện Nôm bác học và hướng nghiên cứu truyện Nôm bác học từ lí thuyết cổ mẫu

Chương 1 tiến hành phân tích lịch sử tiếp nhận truyện Nôm bác học qua hai lần chuyển đổi hệ hình tư duy: từ tiếp nhận tiền hiện đại mang tính thù tạc luân lý sang tiếp nhận khoa học đầu thế kỷ XX (vận dụng phương pháp tả chân, ấn tượng, văn hóa lịch sử); và từ sau năm 1945 với sự phân hóa giữa phương pháp xã hội học Mác-xít ở miền Bắc và các trào lưu lý thuyết phương Tây tại miền Nam. Chương này khảo lược việc ứng dụng phê bình cổ mẫu trong và ngoài nước, từ đó xác định tính tương thích giữa lý thuyết cổ mẫu và truyện Nôm bác học. Tác giả chỉ ra rằng truyện Nôm bác học tồn tại trạng thái tích hợp của hai cơ tầng: văn hóa Đông Á kinh viện (Nho - Phật - Đạo) và văn hóa bản địa Đông Nam Á, tạo nên những cấu trúc nghệ thuật tượng trưng mang tính liên lịch sử.

Chương 2: Lược thuật lí thuyết cổ mẫu và vấn đề vận dụng lí thuyết cổ mẫu vào nghiên cứu truyện Nôm bác học

Chương 2 mô tả chi tiết hệ thống khái niệm của C.G. Jung: bản ngã (trung tâm ý thức), vô thức cá nhân và các phức cảm (như phức cảm bạc mệnh, phức cảm cứu hộ, phức cảm định cư), vô thức tập thể và các cổ mẫu. Tác giả phân tích sự chuyển hóa của năng lượng tính dục (libido) vào các biểu tượng nghệ thuật thanh cao. Về tính tương thích, chương này làm rõ truyện Nôm bác học được sáng tác bởi các nhà nho trong không gian sống trải thời trung đại, nơi tư duy nghệ thuật kết hợp giữa chất liệu văn hóa dân gian (thần thoại, cổ tích) với bút pháp tạo tác điêu luyện của giới tinh hoa. Các biểu tượng, motif lặp lại trong truyện Nôm bác học chính là sự hiển lộ của các cổ mẫu được lưu giữ trong vô thức cộng đồng.

Chương 3: Các không gian mơ tưởng trong truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu

Chương 3 giải mã các mô thức không gian trong truyện Nôm bác học dưới lăng kính cổ mẫu:

  • Không gian xã hội vĩ mô: Thể hiện cái nhìn về vũ trụ quan và nhân sinh quan thời trung đại. Tác giả sử dụng Sơ đồ 3.1 (Hình dung về các tầng vũ trụ quan) và Sơ đồ 3.2 (Vũ trụ ba phần/tầng trong huyền thoại và cổ tích) để phân tích cấu trúc vũ trụ đa tầng (Trời - Người - Âm phủ) và sự tham dự của các lực lượng siêu nhiên vào đời sống nhân gian.
  • Các không gian thiêng: Khảo sát không gian kì ảo, không gian tiên và không gian mộng. Mộng và cõi tiên là những không gian giải tỏa, nơi nhân vật vượt thoát thực tại hữu hạn để tìm về sự giao hòa với cõi thiêng và thực hiện sự phóng chiếu tâm lý.
  • Không gian bóng âm: Phân tích biểu tượng "trăng" qua lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard. Trăng trong truyện Nôm bác học hiện diện như một ảnh tượng mộng mơ thuộc về tính nữ, bóng âm, dẫn dụ con người vào các trạng thái suy tưởng nội tâm sâu kín.

Chương 4: Dự ước thân phận con người trong truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu

Chương 4 tập trung vào mỹ học về thân phận con người và các cấu trúc biểu tượng nâng đỡ thân phận:

  • Giới hạn thân phận: Luận án khảo sát các giới hạn thử thách và giới hạn tự tử của nhân vật (sử dụng Sơ đồ 4.1: Vòng giới hạn thân phận con người trong truyện Nôm bác học). Hành vi quyên sinh của các nhân vật nữ không thuần túy là bế tắc xã hội mà là hành vi mang tính nghi lễ, một sự thanh tẩy và giải thoát tâm linh để bảo toàn phẩm giá.
  • Các motif vượt thoát giới hạn: Phân tích motif ngẫu nhiên, motif tiên - tục và motif song trùng (nhân vật tìm thấy bản sao tâm linh hoặc sự đồng điệu số phận). Tác giả dẫn giải qua Sơ đồ 4.2 (Các thế giới biểu tượng khiêu khích và đồng hành) và Sơ đồ 4.3 (Cấu trúc hướng về không gian thiêng / tục).
  • Thân phận hướng về thế giới lý tưởng: Luận án phân tích ý niệm kết thúc viên mãn và sự hướng đến cổ mẫu Tự ngã (Self). Kết thúc đoàn viên hay sự giác ngộ trong truyện Nôm bác học đáp ứng nhu cầu đền bồi tâm lý của cộng đồng, đưa bản ngã cá nhân đạt tới sự hài hòa, trọn vẹn với trật tự vũ trụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt nhận thức và lý luận:

  • Luận án phân tích và giải thích có hệ thống truyện Nôm bác học Việt Nam từ góc nhìn lý thuyết cổ mẫu của Carl Gustav Jung, chứng minh tính tương thích của lý thuyết tâm lý học phương Tây đối với các văn bản văn học thời tiền hiện đại ở phương Đông.
  • Xác lập cổ mẫu như một mã nghệ thuật (code) để tiếp cận các tầng sâu tư tưởng và cấu trúc chìm của truyện Nôm bác học, chỉ ra rằng tác phẩm truyện Nôm không chỉ phản ánh hiện thực lịch sử cụ thể mà còn là các cấu trúc tượng trưng về những miền mơ tưởng của cộng đồng.
  • Làm sáng tỏ giá trị thẩm mỹ và nhân văn của truyện Nôm bác học trên các phương diện: tổ chức không gian vĩ mô, không gian thiêng, biểu tượng bóng âm, các giới hạn thân phận và các motif vượt thoát giới hạn.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp một khung thao tác luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể (kết hợp phân tâm học, huyền thoại học, phương pháp xếp chồng văn bản) có thể ứng dụng để nghiên cứu các đối tượng văn học khác như truyện Nôm bình dân, truyện truyền kỳ/kỳ ảo trung đại và văn học hiện đại.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu biểu tượng, văn hóa học và phục vụ công tác giảng dạy văn học trung đại Việt Nam tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.

Kiến nghị và giải pháp:

  • Luận án kiến nghị mở rộng việc vận dụng các lý thuyết phê bình hiện đại (phê bình cổ mẫu, hiện tượng học, nhân học văn hóa) vào nghiên cứu di sản văn học cổ - trung đại nhằm phát hiện những tầng nghĩa mới của văn bản.
  • Đề xuất kết hợp chặt chẽ giữa xử lý văn bản học truyền thống với việc phân tích cấu trúc tượng trưng để tránh cách nhìn một chiều mang tính xã hội học dung tục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do tập trung chủ yếu vào nhóm tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu và định hướng lý thuyết tâm lý học phân tích của C.G. Jung kết hợp G. Bachelard, luận án chưa thể bao quát toàn bộ kho tàng truyện Nôm khuyết danh và truyện thơ của các dân tộc thiểu số.
  • Việc áp dụng các khái niệm phân tâm học phương Tây vào văn bản trung đại Đông Á dừng lại ở mức độ giả thiết thao tác luận trên một số lượng tác phẩm chọn lọc.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang mảng truyện Nôm bình dân, các thể loại truyện truyền kỳ chữ Hán và tiểu thuyết hiện đại Việt Nam từ góc nhìn cổ mẫu.
  • Đi sâu đối sánh giữa lý thuyết vô thức tập thể của Jung với các khái niệm trong tâm lý học Phật giáo (Duy thức học, A-lại-da thức) và các biểu tượng thuộc tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với các đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Đối tượng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học và Nhân học.
  • Nội dung tham khảo: Phần tổng quan lịch sử nghiên cứu truyện Nôm (Chương 1) cung cấp cái nhìn hệ thống về các giai đoạn tiếp nhận văn học; Chương 2 là tài liệu tham khảo về lý thuyết tâm lý học phân tích của C.G. Jung và lịch sử dịch thuật thuật ngữ cổ mẫu tại Việt Nam; Chương 3 và Chương 4 cung cấp khung phân tích không gian nghệ thuật và motif thân phận cho các nghiên cứu thi pháp học và phê bình biểu tượng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân biệt truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dựa trên những căn cứ nào? Luận án kế thừa quan điểm của Trần Đình Hượu và khảo sát phong cách học để phân biệt hai dòng: truyện Nôm bác học thuộc về phong cách cao, do giới trí thức tinh hoa sáng tác, sử dụng ngôn ngữ trau chuốt, hệ thống điển cố, thi liệu tập cổ Trung Hoa kết hợp với tư duy bác học kinh viện (Nho - Phật - Đạo); trong khi truyện Nôm bình dân mang phong cách thấp, gắn với phương thức truyền miệng và sinh hoạt văn hóa dân gian. Tuy nhiên, luận án xếp các tác phẩm khuyết danh có bút pháp điêu luyện như Phan Trần, Nhị độ mai, Phù Dung tân truyện vào bộ phận truyện Nôm bác học.

  2. Phương pháp xếp chồng văn bản (superposition des textes) được vận dụng như thế nào trong luận án? Luận án sử dụng phương pháp do Charles Mauron đề xướng để đặt các văn bản truyện Nôm bác học (Đoạn trường tân thanh, Hoa tiên, Lâm tuyền kỳ ngộ, Lục Vân Tiên...) chồng xếp lên nhau. Thao tác này giúp phát hiện các mạng lưới liên tưởng ngầm ẩn, các motif tái lặp (như hình tượng "trời", motif các cặp đôi tài tử giai nhân, giấc mộng, hành vi tự vẫn) vốn không phải ngẫu nhiên mà là biểu hiện của các cổ mẫu trong tâm thức sáng tạo.

  3. Khái niệm "phức cảm" (complex) của C.G. Jung được luận án phân tích qua trường hợp nào trong truyện Nôm? Luận án dẫn chứng trường hợp nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh: việc Kiều nghe bói toán và gặp mộ Đạm Tiên hình thành nên "phức cảm bạc mệnh"; hành động giúp đỡ người khác xuất phát từ "phức cảm cứu hộ"; và hành vi khuyên Từ Hải ra hàng thể hiện "phức cảm định cư" - tâm thức cố kết, ổn định của cư dân nông nghiệp truyền thống.

  4. Bốn yếu tố vật chất của Gaston Bachelard được luận án vận dụng để giải mã biểu tượng nào trong truyện Nôm bác học? Luận án mượn quan niệm của Gaston Bachelard về bốn yếu tố vật chất nguyên thủy (đất, nước, lửa, không khí) và khái niệm "sự mơ mộng" (rêverie) để khảo sát không gian bóng âm, trọng tâm là phân tích ảnh tượng "trăng" trong truyện Nôm bác học như một biểu tượng dẫn dụ tâm thức vào cõi nội giới và tính nữ.

  5. Luận án lý giải ý nghĩa của motif kết thúc có hậu (viên mãn) trong truyện Nôm bác học ra sao? Dưới góc nhìn cổ mẫu, kết thúc có hậu không đơn thuần là sự thỏa hiệp luân lý hay mô thức phản ánh hiện thực, mà là sự hiện thực hóa ước vọng đền bồi trong vô thức tập thể của cộng đồng. Đó là con đường đưa thân phận con người vượt qua các giới hạn thử thách để hướng tới cổ mẫu Tự ngã (Self) - trạng thái hoàn thiện, hài hòa và viên mãn của nhân cách.

Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa và vận dụng lý thuyết tâm lý học phân tích chiều sâu của C.G. Jung cùng phân tâm học vật chất của G. Bachelard để khảo sát mảng truyện Nôm bác học trung đại Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ các tầng bậc không gian mơ tưởng, cấu trúc giới hạn thân phận và các motif nghệ thuật lặp lại như những biểu hiện của cổ mẫu và vô thức tập thể. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị nhân văn và tư tưởng biểu tượng của truyện Nôm bác học, đồng thời cung cấp một hướng tiếp cận liên ngành hữu ích cho nghiên cứu văn học cổ - trung đại.