phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, chúng tôi triển khai đề tài trong bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu truyện Nôm bác học và hƣớng nghiên cứu truyện Nôm bác học từ lí thuyết cổ mẫu. Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung làm rõ hai nội dung lớn: một, mô tả ngắn gọn, lí giải các thành tựu nghiên cứu truyện Nôm bác học đã có, và hai, xem xét các hƣớng nghiên cứu truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu, đƣa ra những nội dung quan trọng trong phần nghiên cứu của chúng tôi. 14 Chƣơng 2: Lƣợc thuật lí thuyết cổ mẫu và vấn đề vận dụng lí thuyết cổ mẫu vào nghiên cứu truyện Nôm bác học. Trong chƣơng này, phần đầu là một mô tả ngắn về lí thuyết tâm lí các chiều sâu và tập trung vào cách hiểu, cách nhận diện cổ mẫu, những đặc trƣng của nó, v.
và phần sau tìm hiểu cội nguồn văn hóa truyện Nôm nói chung và truyện Nôm bác học nói riêng, từ những biểu trƣng nghệ thuật đến không gian sống trải của chính những chủ thể sáng tạo: các nhà nho. Liên hệ giữa hai phần đó, chúng tôi cũng nêu lên tính chất tƣơng hợp giữa lí thuyết nghiên cứu và truyện Nôm bác học. Chƣơng 3: Các không gian mơ tƣởng trong truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu. Xuất phát từ không gian sống tổng thể: các tƣ tƣởng văn hóa, cái nhìn về vũ trụ và nhân sinh, v.
chúng tôi hƣớng đến lí giải những miền mộng tƣởng nhƣ thế giới tiên, mộng, huyền ảo, vũ trụ âm tính, không gian thiêng và tục, v. Đây là những biểu hiện nghệ thuật đặc thù, hiểu nhƣ những ngƣỡng vọng chung của cộng đồng. Chƣơng 4: Dự ƣớc thân phận con ngƣời trong truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu. Truyện Nôm bác học, xét từ khía cạnh nhân văn tổng thể, cũng chính là những lời đáp trả những giá trị cho thân phận con ngƣời, là cái nhìn mĩ học về thân phận con ngƣời.
Nó nói bằng các tƣợng trƣng, các motif; nó hƣớng các thân phận đến những biên giới sống khác nhau, nhƣ những thử thách và đích hƣớng đến là các dự ƣớc về các mẫu hình nhân cách lí tƣởng, các thế giới sống hài hòa viên mãn. Chỉ ra và lí giải những điều này cũng đồng thời vén mở chính những chiều kích nội giới mà truyện Nôm bác học tìm về. 15 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRUYỆN NÔM BÁC HỌC VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TỪ LÍ THUYẾT CỔ MẪU 1. Thành tựu nghiên cứu truyện Nôm bác học 1.
Đánh giá giá trị truyện Nôm bác học trong bối cảnh tư duy tiền hiện đại Phải thừa nhận rằng, ngay từ khi ra đời, đặt trong bối cảnh văn hóa vốn lấy sự thù tạc, giao đãi, nhuận sắc làm thƣớc đo cho tính đối thoại, các truyện Nôm bác học đã đƣợc tiếp nhận ngay trong giới hàn lâm, giới tinh hoa dƣới dạng các “bài tựa”, “đề tựa”, “bài bạt”, “đề từ” - một kiểu giới thiệu và phát biểu những ý nghĩ ngắn, mang màu sắc cảm xúc chủ quan, nghiêng về thái độ đạo đức hơn là văn chƣơng mà kinh nghiệm cá nhân đó có đƣợc. Ví dụ bài Đoạn trường tân thanh đề từ (Phạm Quý Thích), Tựa Đoạn trường tân thanh (Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị), Tựa Đoạn trường tân thanh (Tiên Phong Mộng Liên Đƣờng chủ nhân), bài Tựa truyện Hoa tiên (Cao Bá Quát) [142; tr. Đây là những bài tựa theo các văn bản truyện Nôm bác học cụ thể (ĐTTT - Nguyễn Du, HT - Nguyễn Huy Tự), với tiêu chí lấy tình để đãi tình, lấy đức đãi đức, vừa thể hiện sự tƣơng tri, tri âm, vừa đong đo sở học - điều mà Nguyễn Văn Vĩnh (trong Étude sur la lange et littérature annamites - Nghiên cứu về ngôn ngữ và văn chƣơng An nam) gọi là “thú ngâm nga”, đồng thời thể hiện thái độ riêng tƣ của cá nhân ngƣời đánh giá. Bài viết này in lần đầu trong Đông Dƣơng tạp chí (9) 1913, trang 9-10, Nguyễn Văn Vĩnh kí tên T.
Vấn đề bàn luận của Nguyễn Văn Vĩnh ở chỗ cho rằng âm Nôm có tính cách hạn chế của một vị thế quốc âm, cần có sự phối hợp với chữ Nho, tiếng Lang sa để gây dựng cho văn chƣơng nƣớc nhà phát triển. Đây cũng là thái độ chung trên dƣới mƣời thế kỉ của các nhà nho đối với văn chƣơng. Để bƣớc sang lĩnh vực đánh giá mang tính chất kiểm thảo (critique) phải đợi đến những vận dụng lí thuyết và tính chuyên nghiệp trong khoa học và văn chƣơng sau này, khi có sự tiếp xúc mạnh mẽ với tƣ duy phân tích phƣơng Tây (chủ yếu là Pháp). 16 Bƣớc sang những năm 20 của thế kỉ XX, đời sống sinh hoạt, văn hóa trở nên linh hoạt hơn, chuyên nghiệp hơn.
Điều này thể hiện rõ trên Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, báo Hữu Thanh, qua các bài nhận định, giới thiệu, bút đàm, khảo luận của các học giả quan trọng nhƣ: Nguyễn Văn Vĩnh – “Văn chƣơng An Nam” - Đông Dương tạp chí (9) 1913, tr.9 - 10, Nguyễn Văn Vĩnh kí tên T. Danh sách này có thể chƣa đầy đủ nhƣng nó đã tiêu biểu cho một giai đoạn nhìn nhận về truyện Nôm bác học. Điều dễ nhận thấy là các học giả, các nhà văn hóa tập trung vào một văn bản cụ thể - Truyện Kiều, kiểu “điểm nhãn” về trƣờng hợp tinh hoa (tinh hoa cho quốc âm, làm mẫu cho văn chƣơng quốc ngữ) trong nhiều văn bản cùng loại hình. Sở dĩ có chuyện này vì liên quan đến các vấn đề quan trọng mang tính lịch sử nhƣ: vấn đề quốc âm, vấn đề sáng tạo giá trị văn học trong thời đại mới, thời đại giao thoa về các vấn đề giá trị đạo đức và giá trị nghệ thuật.
Đáng ghi nhận nhất về mặt học thuật là các bài viết/ khảo luận của các tác giả Nguyễn Tƣờng Tam, Vũ Đình Long, Trần Trọng Kim, Đồ Nam - Nguyễn Trọng Thuật. Nguyễn Tƣờng Tam tập trung chú ý “về văn chƣơng, về cái hay của từng câu, từng đoạn, về cách dùng chữ khéo, về cái tài tình, cái mĩ thuật của văn chƣơng Kiều” [142, tr. Tuy thế, Nguyễn Tƣờng Tam vẫn lấy ấn tƣợng chủ quan để khen, so sánh. Ông đồng ý với quan điểm “văn tự lòng mà ra”.
Vũ Đình Long đề cập các vấn đề có chiều sâu hơn nhƣ: ông cho rằng Truyện Kiều xoay quanh một “chủ não”, ấy là chữ “tình làm hi sinh cho chữ hiếu” [142, tr. Từ đó tác giả khảo sát các bình diện nhƣ: văn tả ngƣời, văn tả cảnh, văn vấn đáp, văn tả tình, triết lí và luân lí. Vũ Đình Long cho Truyện Kiều “cảm ngƣời ta một cách sâu xa” vì hai lí do: 1/ từ tác giả “hiểu thấu nhân tình thế thái, chính tác giả cũng đã từng 17 lịch lãm phong trần” và 2/ Nguyễn Du “có văn tài thiên bẩm” [142, tr. Ở đây Vũ Đình Long đã xuất phát từ tác giả để hiểu tác phẩm, tâm trạng, đời Kiều cũng là Nguyễn Du, là lấy cái nhìn ngoại quan để nhìn về khoa học văn học.
Một sơ suất nữa, thể hiện ở chỗ, ông vừa nói về các giá trị luân lí trong Truyện Kiều nhƣ trung, hiếu, tiết, nghĩa nhƣng lại không chứng minh thuyết phục cho các hành vi của nhân vật Kiều ở mối mâu thuẫn: Tình - Hiếu. Điều này nếu đặt trong bối cảnh mĩ học Nho giáo sẽ khiến những rắc rối kia đƣợc gỡ bỏ. Một khía cạnh khác của Truyện Kiều cũng đƣợc Trần Trọng Kim đề cập, với vấn đề Lí thuyết Phật học trong Truyện Kiều. “Tôi - TTK - muốn các độc giả lƣu ý xét cho kĩ, là cứ nhƣ ý tôi, thì Truyện Kiều bày tỏ một cách rõ ràng cái thuyết nhân quả của nhà Phật” [142, tr.
Ông cho rằng, bƣớc đƣờng luân lạc, khổ nạn của Kiều là do nghiệp tự tạo, phúc họa do mình gây ra. Giá trị văn học vì thế cũng đƣợc tác giả đặt trong thế tƣơng quan đối sánh với luân lí, đạo đức. Đồ Nam - Nguyễn Trọng Thuật đi theo một hƣớng khác, có thể xem ông là ngƣời đầu tiên nghiên cứu, nhìn nhận Truyện Kiều bằng phƣơng pháp văn học so sánh, bằng việc đối chiếu với “nguyên thƣ” để đƣa ra những giá trị về tâm lí, văn pháp. Điểm đặc sắc của tác giả nằm ở nhận định “cái ngụ ý thâm trầm của tác giả thì ở ngoài sách, còn trong sách vẫn là một quyển ái tình sử, một thiên tràng hận của khách má hồng” [142, tr.
Nhƣng chính Nguyễn Trọng Thuật vẫn là ngƣời đặt nặng giá trị đạo đức, văn chƣơng ảnh hƣởng đến giáo hóa, nghĩa là vẫn còn nằm trong trƣờng văn hóa trung đại, khi ông khuyên “nay trong Truyện Kiều êm ái nhƣ ru, mặt sắt cũng phải ngây, đàn ngọt hát hay nào cũng không thấm, vậy nếu bọn thanh niên nam nữ ta mà đọc đến chỗ tình duyên gắn bó, tất động mối tình dục, phơi phới lòng xuân, v. đọc đến chỗ nƣớc đời khắt khe tất sinh lòng buồn chán” [142, tr. Cũng đặt trong cái nhìn lấy giá trị đạo đức làm điểm quy chiếu cho văn học trên còn có René Crayssac [142], [60]. Ông đặt Truyện Kiều trong bức tranh xã hội Á Đông để làm điểm nhìn so sánh với văn chƣơng và xã hội Âu Tây.
Con ngƣời Á Đông luôn đặt mình trong vai vế, giá trị của mình trong tính cộng đồng xã hội, xã hội mang tính chất gia trƣởng, tôn trọng đạo gia đình, khác với tính chất cá nhân 18 của con ngƣời Âu Tây. Cũng theo đó ông “lấy việc trong Truyện Kiều ra mà chứng giải (…) thật khác với tƣ tƣởng Âu Tây” [60, tr. Nhƣ vậy, khuynh hƣớng chung của các nhà nghiên cứu đầu thế kỉ nhìn nhận truyện nôm qua một văn bản cụ thể - cái tinh hoa và đặt giá trị văn chƣơng trong tính ích dụng, sự truyền tải đạo lí của nó. Đây cũng là những ý kiến tiêu biểu trong giai đoạn giao thoa khi yếu tố hiện đại chƣa hoàn toàn xâm nhập vào xã hội để tạo ra yếu tố chuyên nghiệp và thật sự khoa học khách quan.
Các nhà nghiên cứu vẫn chịu ảnh hƣởng sâu sắc của trƣờng văn hóa trung đại. Điểm khác biệt nhất chính là bắt đầu có sự ảnh hƣởng của hai phƣơng pháp: Ấn tƣợng và Tả chân của phƣơng Tây. Những khác biệt rõ nét hơn bắt đầu đƣợc thể hiện trong giai đoạn sau. Đánh giá giá trị truyện Nôm bác học trong bối cảnh tư duy hiện đại Bàn luận một cách sâu rộng về truyện Nôm bác học một cách khoa học phải đợi đến những năm 40 của thế kỉ XX, với Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm (in lần đầu năm 1943) [81].