Luận án TS: Phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên Đại học Sư phạm Việt Nam

Luận án tiến sĩ triết học nghiên cứu cách phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên các trường đại học sư phạm Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng

Chuyên ngành

Triết học

Tác giả

Nguyễn Thị Nga

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực tư duy phản biện sinh viên sư phạm

Năng lực tư duy phản biện là khả năng phân tích, đánh giá và xử lý thông tin một cách logic, có căn cứ. Đối với sinh viên sư phạm, năng lực này đóng vai trò then chốt. Sinh viên sư phạm không chỉ cần nắm vững tri thức chuyên môn. Họ còn phải biết cách tư duy, lập luận và giải quyết vấn đề. Nghề giáo viên đòi hỏi định hướng phương pháp tư duy cho học sinh. Do đó, việc phát triển tư duy phản biện ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường là vô cùng cấp thiết. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (2021) chỉ ra rằng năng lực tư duy phản biện bao gồm nhiều thành phần cấu thành. Đó là khả năng tiếp cận, nhận diện, tìm kiếm dữ liệu. Người học cần biết so sánh, phân tích thông tin để nắm vững kiến thức. Việc đánh giá tính hợp lý của lập luận cũng rất quan trọng. Sinh viên sư phạm phải biết phát hiện sai lệch trong thông tin. Họ cần kỹ năng đưa ra phán đoán và quyết định dựa trên bằng chứng. Quá trình rèn luyện này cần được thực hiện thường xuyên và đa dạng.

1.1. Khái niệm tư duy phản biện trong giáo dục

Tư duy phản biện là quá trình tư duy phân tích, đánh giá nhằm xác định tính đúng đắn của thông tin. Trong bối cảnh giáo dục, tư duy phản biện được hiểu là khả năng người học tự đặt câu hỏi, tìm kiếm bằng chứng và đưa ra nhận định có căn cứ. Nghiên cứu từ luận án tiến sĩ cho thấy tư duy phản biện không phải năng lực bẩm sinh. Đây là kỹ năng có thể rèn luyện và phát triển qua giáo dục. Sinh viên sư phạm cần được trang bị năng lực này để trở thành giáo viên có phương pháp tư duy khoa học.

1.2. Tầm quan trọng với sinh viên trường đại học sư phạm

Sinh viên đại học sư phạm có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục. Họ là những thầy cô giáo tương lai, trực tiếp giáo dục thế hệ trẻ. Năng lực tư duy phản biện giúp sinh viên sư phạm phân tích bài giảng hiệu quả. Họ biết cách thiết kế câu hỏi gợi mở tư duy cho học sinh. Đặc thù nghề giáo không chỉ truyền thụ tri thức mà còn định hướng cách suy nghĩ. Vì vậy, phát triển tư duy phản biện cho sinh viên sư phạm có ý nghĩa nhân rộng giá trị giáo dục ra toàn xã hội.

II. Phân tích thực trạng phát triển tư duy phản biện sư phạm

Thực trạng phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên sư phạm ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Chương trình đào tạo tại các trường đại học sư phạm chưa chú trọng đầy đủ đến việc rèn luyện tư duy phản biện. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn theo lối truyền thụ một chiều. Giảng viên chưa tích cực hóa hoạt động giảng dạy để rèn luyện tư duy phản biện cho sinh viên. Môi trường học tập chưa tạo điều kiện cho sinh viên tranh luận, phản biện. Đánh giá kết quả học tập thiên về kiểm tra kiến thức nhớ. Chưa có tiêu chí đánh giá năng lực tư duy phản biện rõ ràng. Nhận thức của một số giảng viên và sinh viên về tầm quan trọng của tư duy phản biện còn hạn chế. Cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ việc phát triển năng lực này chưa đầy đủ. Sự phối hợp giữa các bên liên quan trong đào tạo sư phạm chưa chặt chẽ. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện.

2.1. Hạn chế trong chương trình đào tạo sư phạm hiện tại

Chương trình đào tạo tại nhiều trường đại học sư phạm hiện nay chưa tích hợp đầy đủ nội dung phát triển tư duy phản biện. Thời lượng dành cho các hoạt động thực hành, thảo luận còn ít. Nội dung bài giảng nặng về truyền đạt lý thuyết, thiếu tình huống thực tiễn. Phương pháp đánh giá chưa đo lường được năng lực tư duy phản biện. Sinh viên thiếu cơ hội rèn luyện kỹ năng lập luận, tìm bằng chứng. Chương trình đào tạo cần được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực tư duy phản biện.

2.2. Vai trò chưa phát huy đầy đủ của giảng viên và nhà trường

Giảng viên đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển tư duy phản biện cho sinh viên. Tuy nhiên, nhiều giảng viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp sư phạm phản biện. Hoạt động tích cực hóa giảng dạy chưa được thực hiện thường xuyên. Nhà trường chưa xây dựng môi trường dân chủ khuyến khích sinh viên tranh luận. Sự phối hợp giữa giảng viên và các bộ phận đào tạo còn lỏng lẻo. Động lực học tập của sinh viên chưa được khai thác hiệu quả. Cần nâng cao nhận thức và năng lực cho đội ngũ giảng viên.

III. Giải pháp phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên

Phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên sư phạm đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia đào tạo. Giảng viên, sinh viên và nhà quản lý đều phải hiểu rõ tầm quan trọng của tư duy phản biện. Thứ hai, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học. Cần tích cực hóa hoạt động giảng dạy theo hướng sư phạm phản biện. Bài giảng phải tạo cơ hội cho sinh viên phân tích, đánh giá và lập luận. Thứ ba, xây dựng môi trường dân chủ trong học tập và nghiên cứu. Sinh viên cần được khuyến khích đặt câu hỏi, tranh luận và bảo vệ quan điểm. Thứ tư, đổi mới đánh giá kết quả học tập. Cần xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực tư duy phản biện rõ ràng. Thứ năm, tăng cường rèn luyện kỹ năng lập luận và tìm bằng chứng. Các hoạt động ngoại khóa, thảo luận nhóm cũng cần được đẩy mạnh. Giải pháp phải được triển khai thường xuyên, đa dạng và có hệ thống.

3.1. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sư phạm phản biện

Phương pháp sư phạm phản biện là giải pháp cốt lõi để phát triển tư duy phản biện. Giảng viên cần sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý để rèn luyện kỹ năng lập luận cho sinh viên. Các nhiệm vụ học tập phải yêu cầu sinh viên tìm kiếm bằng chứng và đánh giá thông tin. Phương pháp thảo luận nhóm, đóng vai, phân tích tình huống cần được áp dụng thường xuyên. Giảng viên phải biết loại bỏ thông tin sai lệch và hướng dẫn sinh viên làm điều tương tự. Việc tích cực hóa hoạt động giảng dạy tạo động lực học tập và phát triển tính tự giác.

3.2. Xây dựng môi trường học tập dân chủ và tạo động lực

Môi trường học tập dân chủ là điều kiện tiên quyết để phát triển tư duy phản biện. Sinh viên cần được tự do bày tỏ quan điểm mà không sợ bị đánh giá tiêu cực. Nhà trường phải xây dựng không gian thảo luận mở, khuyến khích tranh luận học thuật. Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp sinh viên rèn luyện tư duy logic và sáng tạo. Kỹ năng thương lượng cũng là giải pháp hiệu quả để phát triển năng lực tư duy phản biện. Động lực học tập được tạo ra khi sinh viên nhận thấy giá trị thực tiễn của tư duy phản biện.

IV. Kết luận và ứng dụng phát triển tư duy phản biện sư phạm

Phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên sư phạm là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Năng lực này không chỉ phục vụ quá trình học tập hiện tại. Nó còn là nền tảng cho nghề nghiệp giáo viên tương lai. Sinh viên sư phạm có tư duy phản biện tốt sẽ trở thành thầy cô giáo chất lượng. Họ biết cách giáo dục phương pháp tư duy cho học sinh. Nhân cách người thầy cũng được bồi dưỡng thông qua quá trình rèn luyện tư duy phản biện. Sinh viên phải tu dưỡng đạo đức, tác phong nghề nghiệp song song với phát triển năng lực tư duy. Việc thực hành và tự rèn luyện thường xuyên giúp sinh viên có năng lực tư duy logic vững vàng. Áp dụng các giải pháp đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả lâu dài. Kết quả nghiên cứu có thể nhân rộng ra các cơ sở đào tạo sư phạm trên toàn quốc. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tương lai.

4.1. Ứng dụng trong đào tạo giáo viên tương lai

Năng lực tư duy phản biện được ứng dụng trực tiếp vào quá trình đào tạo nghề giáo viên. Sinh viên sư phạm biết cách phân tích bài giảng, thiết kế hoạt động dạy học sáng tạo. Họ có khả năng đánh giá phương pháp giảng dạy và điều chỉnh phù hợp. Tư duy phản biện giúp giáo viên tương lai xử lý tình huống sư phạm phức tạp. Họ biết cách giáo dục học sinh tư duy độc lập, không chấp nhận thông tin một cách thụ động. Ứng dụng này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng trong tương lai

Nghiên cứu về phát triển tư duy phản biện cho sinh viên sư phạm cần được tiếp tục mở rộng. Các trường đại học sư phạm nên xây dựng chương trình đào tạo tích hợp nội dung tư duy phản biện. Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ quá trình rèn luyện tư duy phản biện hiệu quả. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đào tạo cần được tăng cường. Đánh giá năng lực tư duy phản biện phải trở thành tiêu chuẩn trong kiểm định chất lượng đào tạo sư phạm. Hướng phát triển này phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận án tiến sĩ triết học phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên các trường đại học sư phạm ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận chung về “tƣ duy” và “TDPB” Nghiên cứu về “tư duy” luôn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học. Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử triết học, các nhà tư tưởng đã nghiên cứu về sự hình thành, bản chất cũng như những đặc điểm, quy luật vận động của “tư duy”.

Ngay từ thời cổ đại, Aristotle xem năng lực về “tư duy” thuần lí là một đặc trưng bản chất của khái niệm con người, một dấu hiệu cơ bản nhất phân biệt con người với những động vật khác. Descartes từng mô tả “tư duy” như là một công cụ phổ quát có thể được sử dụng trong mọi tình huống. Còn “tư duy” trong triết học Hegel chính là đối tượng của lôgic học: “Với Hêghen, khái niệm tư duy về thực chất đã hợp nhất những nguyên lý cơ bản, đặc trưng cho toàn bộ hệ thống triết học của ông như nguyên lý sức mạnh tuyệt đối của tư duy (lý tính), nguyên lý về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý hệ thống, nguyên lý lịch sử, v. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đề cập không ít đến vấn đề “tư duy” trong các tác phẩm của mình như: “Biện chứng của tự nhiên” [64] và “Chống Đuyrinh” [64] của Ph.

Trong các tác phẩm này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra bản chất, đặc điểm của “tư duy” và khẳng định sự vận động, phát triển của nó diễn ra cùng với sự vận động, phát triển của thực tiễn. Đúng như lời khẳng định của Ph. Ăngghen: “Tư duy lý luận của mỗi thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau” [64, tr. Ở nước ngoài, các công trình có ý nghĩa tạo nền tảng cho nghiên cứu về “tư duy” có thể kể đến như: cuốn “Cách ta nghĩ” [25], John Dewey (1910) nhấn mạnh việc phát triển “tư duy” của con người có thể được thực hiện “thông qua việc phát triển khả năng sáng tạo, sự tò mò và cách đặt câu hỏi”.

Vì vậy, theo ông, phải “tạo ra môi trường kích thích tư duy sáng tạo”. Cuốn“Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư bản của Mác” [101] và “Nguyên lý lôgic biện chứng” [102] của Rodental (1961) đã nghiên cứu và chỉ ra bản chất của “tư duy”, đồng thời đi sâu phân tích các quy luật biện chứng của “tư duy” cũng như chỉ ra vấn đề mâu thuẫn biện chứng được đề cập trong tác phẩm bộ Tư bản của C. Sepstulin (1977) với cuốn “Phương pháp nhận thức biện chứng” [104] đề cập đến “tư duy biện chứng” cũng như đưa ra các nguyên tắc, phương pháp khi nguyên cứu “tư duy”; E. Các tác giả của bộ sách “Lịch sử phép biện chứng” [75] đã luận giải những vấn đề về “tư duy biện chứng duy vật” và khẳng định phương pháp “tư duy biện chứng duy vật” là phương pháp tư duy đúng đắn của nhận thức khoa học.

Cuốn “Dẫn luận về tư duy” [3] của Tim Bayne (2013) đi sâu nghiên cứu những vấn đề như: “tư duy là gì”, “đạo đức tư duy”, “tư duy sai lầm cũng như những giới hạn của tư duy”. Các cuốn sách của Tony Buzan (2007 – 2017) như: “Bản đồ tư duy trong công việc” [11], “Sơ đồ tư duy” [12], “Lập sơ đồ tư duy hiện đại để tư duy thông minh hơn” [13], “Đón nhận thay đổi những bước cơ bản để tạo dựng tương lai ngay từ hôm nay” [14], v. đề cập đến vấn đề “tư duy” và xem việc lập sơ đồ tư duy như một phương pháp hiệu quả giúp con người phát triển trí tuệ để hiểu, làm chủ và thay đổi cuộc đời của chính mình. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, nghiên cứu về “tư duy” cũng nhận được sự quan tâm, chú ý của các nhà khoa học như: bài “Vấn đề phê phán, khắc phục sai lầm lôgic trong tư duy” [55] của Tô Duy Hợp (1989) góp phần làm rõ một số khía cạnh của “tư duy”, “năng lực tư duy”, các yếu tố ảnh hưởng, sai lầm lôgic trong “tư duy” và cách khắc phục.

Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp (1999) phân tích sâu sắc và lý giải trên lập trường mácxit các vấn đề của lôgic học Hêghen như: “ý niệm lôgic”, “tư duy”, “ý niệm tuyệt đối” trong cuốn “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen” [18]. Đồng thời, nhóm tác giả cũng phân tích các tác phẩm của Hêghen có liên quan đến “tư duy”, chỉ ra sự đóng góp của quan điểm triết học Hêghen cho lịch sử triết học và lịch sử các học thuyết triết học về vấn đề “tư duy”. Trần Nhâm (2004), trong cuốn “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” [73], đã làm rõ các khái niệm: “tư duy”, “tư duy lý luận” và khẳng định “đổi mới tư duy chính là khởi đầu của sự nghiệp đổi mới”. Với bài “Về bản chất tư duy”[22], Nguyễn Mạnh Cương (2004) cho rằng “tư duy”, xét về bản tính là một quá trình sáng tạo.

Chính quá trình sáng tạo ấy giúp con người nhận thức được thế giới khách quan, hiểu được các mối liên hệ, quan hệ bản chất cũng như sự vận động, biến đổi, hình thành và tiêu vong của các sự vật, hiện tượng xung quanh. Bài “Sự hình thành tư duy và một số đặc trưng của nó” [106] của Nguyễn Thanh Tân (2004) khẳng định “tư duy” xuất hiện khi “nhận thức đạt đến trình độ có thể nắm bắt được bản chất, quy luật vận động của hiện thực khách quan”. Vũ Văn Viên (2006) trong bài: “Tư duy lôgíc bộ phận hợp thành của tư duy khoa học” [128] đã luận giải một cách sâu sắc bản chất của “tư duy khoa học: là giai đoạn cao của quá trình nhận thức”, trong đó, chủ thể thông qua các thao tác tư duy lôgic để tìm ra những tri thức mới phản ánh đúng đắn nhất, chính xác nhất về đối tượng nhận thức. Những tri thức này thường được thể hiện dưới dạng các “khái niệm, phán đoán, suy luận, phạm trù, quy luật, v.” Trên cơ sở làm rõ bản chất của “tư duy khoa học”, tác giả khẳng định “tư duy khoa học là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgic; trong đó tư duy biện chứng đóng vai trò là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc vào giải quyết chính xác các vấn đề cụ thể”.

Bài “Đổi mới tư duy lý luận thành tựu và một số vấn đề đặt ra” [99] của Nguyễn Duy Quý (2006) đã đề cập đến vấn đề “đổi mới tư duy”, “tư duy lý luận”, “phương pháp tư duy”, mối quan hệ giữa “phương pháp tư duy khoa học” với “phương pháp tư duy lý luận” và “phương pháp tư duy biện chứng”. Trong cuốn “Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [43], Nguyễn Ngọc Hà (2011) phân tích khái niệm “tư duy”, phân loại “tư duy”, mối quan hệ giữa “tư duy và lối sống của con người Việt Nam” trong truyền thống cũng như chỉ ra những đặc điểm cơ bản của “tư duy” và lối sống con người Việt Nam hiện nay. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra phương hướng, giải pháp làm thay đổi “tư duy”, lối sống của con người Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu về những vấn đề “tư duy” của các nhà triết học trong lịch sử, có thể kể đến các bài viết như: “Những nét tương đồng trong tư duy ở một số luận điểm của Frớt và Mác” [47] của Nguyễn Thị Bích Hằng (2013), “Góp thêm một cách hiểu về tư duy” [126] của Nguyễn Thị Thúy Vân (2013), v.

Cuốn “Khoa học tư duy từ nhiều cách tiếp cận khác nhau” [76] tập hợp các bài viết là những suy ngẫm, đề xuất, gợi mở định hướng và giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện “tư duy” đương đại dưới góc nhìn của nhiều khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: triết học, giáo dục học, tâm lý học. Bài “Vấn đề tư duy và tồn tại trong triết học L. Feuerbach” [112] của Phạm Hoài Thương (2017) đã tập trung làm rõ quan điểm duy vật của L. Feuerbach về “mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.

Tác giả cũng khẳng định, chủ nghĩa duy vật của Feuerbach về cơ bản vẫn mang nặng tính “trực quan”, “cảm tính” [64, tr.9], “sáng rõ nhưng không sâu sắc” [60, tr. Tác giả khẳng định “tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức”. Nó có lôgic phát triển nội tại riêng và chịu sự chi phối của các quy luật riêng. Trong cuốn “Lôgic học biện chứng và sự phát triển của khoa học”[34], tác giả tiếp tục phân tích và làm rõ bản chất và đặc điểm của “tư duy trừu tượng – hình thức cao nhất của phản ánh hiện thực”.

Tác giả cũng đề cập đến bản chất biện chứng của “tư duy” được biểu hiện ở sự vận động và phát triển của nó được sinh ra bởi sự phát triển của một chuỗi thống nhất các mâu thuẫn biện chứng. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định “tính sáng tạo của tư duy” và nhờ chính phẩm chất này, con người mới có khả năng khám phá bản chất sâu sắc của các hiện tượng trong hiện thực. Cũng như vấn đề “tư duy”, nghiên cứu về TDPB đã có một lịch sử lâu dài với sự đóng góp của hàng trăm nhà tư tưởng. Khởi nguồn của nghiên cứu TDPB đã xuất hiện từ thời cổ đại khi Socrates – nhà triết học Hy Lạp là người đầu tiên đề xuất phương pháp học tập thông qua kỹ thuật nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi để điều tra một cách sâu sắc những suy nghĩ trước khi chúng ta chấp nhận ý kiến.

Ông rất coi trọng việc tìm kiếm các bằng chứng, nghiên cứu định hướng cho việc nói và làm như thế nào. Phương pháp đặt câu hỏi của ông giúp “một người hay một nhóm người xác định được niềm tin cơ bản hay giới hạn kiến thức của họ”. Bản chất của phương pháp này chính là xác định và “loại bỏ các giả thuyết” dẫn tới mâu thuẫn thông qua việc đặt một loạt các câu hỏi để “tìm ra giả thuyết tốt hơn”. Socrates đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu TDPB.

Denon đã đưa ra hàng loạt các nghịch lý, gọi là “aporia” có nghĩa là “khó lý giải, tình trạng không có lối thoát”. Một số aporia nổi tiếng của Denon như: “phân đôi” , “Asin và con rùa”, “mũi tên bay”, v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ