phần mở đầu và ết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án chia thành 4 chương: + Chư ng 1: Tổng quan các công trình hoa học có li n quan đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. + Chư ng 2: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và inh nghiệm thực ti n. + Chư ng 3: Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ theo hướng nâng cao hiệu quả + Chư ng 4: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả ở tỉnh Phú Thọ. 12 Chƣơng 1 TỔN QUAN C C C N TR NH HOA HỌC C LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP Với mục đ ch em ét các vấn đề lý thuyết mà luận án phải làm r , các học giả trong và ngoài nước đã nghi n cứu đến đâu, những nội dung có thể ế thừa và mức độ ế thừa cho việc nghi n cứu của luận án, những điểm nào luận án cần đi sâu nghi n cứu; tác giả tập trung tổng quan những vấn đề ch nh sau đây: 1.
Tổng quan về tổ chức lãnh thổ kinh tế 1. V tổ ch c lãnh thổ a) Tài liệu trong nư c Tổ chức lãnh thổ (TCLT) là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước. Trong số rất nhiều học giả nghiên cứu về TCLT dưới góc độ Địa lí học ở Việt Nam, Lê Bá Thảo là một nhà nghiên cứu có nhiều công trình được đánh giá cao. Theo tác giả Lê Bá Thảo, thực chất của TCLT là “một phương hướng nhằm cải thiện và sửa chữa bằng những hành động “duy ý muốn” mang t nh tự nguyện chứ không phải “duy ý ch ” có phối hợp với nhau nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhất các tài nguyên có trong một lãnh thổ nhất định - có thể trong cả nước hoặc trong từng vùng hoặc ở cấp thấp hơn - nhằm phục vụ cho sự phát triển.
Đồng thời, nó còn có nhiệm vụ xoá bỏ dần sự mất cân bằng về mặt KT - XH giữa các vùng, các địa phương. Mặt hác, nó cũng đ i hỏi phải có sự dự báo cho tương lai với các kịch bản nhất định, tất nhiên phải chú ý đến tính hợp lí của sự phân bố hông gian” [49]. Năm 1995, Hội Địa lí Việt Nam tổ chức hội thảo T chức lãnh th , quy tụ nhiều công trình nghiên cứu và những nhận định của các nhà Địa lí học về vấn đề tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam và trên thế giới. Dưới góc nhìn của các nhà Địa lí học, TCLT có liên quan mật thiết đến việc sử dụng một cách hiệu quả nhất các tài nguyên trên lãnh thổ, thiết lập sự phân bố hợp lý về mặt không gian của các đối tượng kinh tế, xã hội trên lãnh thổ đó, giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng [19].
Ngô Doãn Vịnh là một học giả nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế phát triển 13 và Địa lí học với nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam nói chung và vấn đề TCLT nói riêng. Theo ông: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội được coi như là một trong những biện pháp quan trọng nhất để phát triển. Muốn phát triển một cách có hiệu quả không thể không tiến hành tổ chức không gian kinh tế - xã hội một cách hợp lí. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội là một trong những giải pháp có tính nghệ thuật hàng đầu để phát huy tốt nhất các nguồn lực.
Nhờ có TCLT hợp lí mà có thể khắc phục được tình trạng chồng chéo, quá tải về sức chứa lãnh thổ cũng như khắc phục được tình trạng phát triển rời rạc giữa các lãnh thổ với nhau và giữa các ngành trong một lãnh thổ” [77]. Cũng nghi n cứu về tổ chức lãnh thổ, các tác giả Đặng Văn Phan, Nguy n Kim Hồng, Vũ Như Vân cho rằng: “Tr n quan điểm địa lý đổi mới và phát triển, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một hành động địa lý học có chủ ý nhằm hướng tới sự công bằng về mặt hông gian” [31], [33]. Hành động hay quá trình đó bao gồm việc phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên và kinh tế, xã hội. Nguyên tắc tổ chức lãnh thổ, cũng là đ ch đến cuối cùng và cần được ưu ti n nhất là phải sử dụng một cách hợp lý điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội nhằm tạo ra hiệu quả tối ưu trong sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.
Một góc nhìn mới được đưa ra, đó là nhìn nhận rộng hơn về tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam theo hướng tổ chức không gian phát triển. Khái niệm hông gian được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX ở M và một số nước phương Tây, dựa trên sự phát triển của cách mạng về công nghệ thông tin, trong đó có lĩnh vực bản đồ tr n máy t nh, phương pháp GIS hệ thống thông tin địa lí) và R - S (vi n thám). Không gian bao gồm cả phần đất liền, vùng trời và l ng đất, được huy động vào sản xuất và dịch vụ vì mục đ ch phát triển. Do đó, các nhà nghi n cứu cần hướng tới một khoa học địa lý về tổ chức lại hoặc tổ chức mới không gian (lãnh thổ), góp phần quản lý nó, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững [33].
b) Tài liệu ngoài nư c Nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ (TCLT), các nhà khoa học nước ngoài sử dụng thuật ngữ territorial organization, bao hàm ý nghĩa tổ chức lãnh thổ hay tổ 14 chức không gian các hoạt động phát triển của con người. TCLT là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới trong quá trình nghiên cứu lãnh thổ, phát hiện ra những vấn đề mang tính quy luật, kiểm chứng và phát triển thành các lý thuyết kinh tế và tổ chức không gian lãnh thổ. Việc tìm ra tính quy luật về không gian lãnh thổ của các hoạt động kinh tế ra đời từ giữa thế kỉ XIX và đã trở thành một khoa học quản lý lãnh thổ. Các nhà khoa học đã tìm ra các quy luật TCLT ở một địa phương cụ thể, từ đó tiến hành xem xét việc bố trí một cách hợp lí các hoạt động kinh tế và các điểm dân cư.
Có thể tiếp cận vấn đề này theo hai trường phái: i): Trường phái của các nhà Kinh tế học, Địa lí học phương Tây, và ii): Trường phái của các nhà Địa lí Xô Viết. Trong các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ theo trường phái phương Tây, ti u biểu nhất là các lý thuyết phát triển kinh tế của V.Thunen, Alfred Weber, W.Christaller, Francoi Perroux. Nhà khoa học người Đức V. Thunen, qua quá trình quan sát sự trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và tiêu dùng tại các “đầu ra”, “đầu vào”, các “nút” trung tâm và ngoại vi đã nảy sinh ý tưởng về phát triển chuyên môn hóa nông nghiệp.
Tr n cơ sở phân tích những yếu tố định vị về địa tô chênh lệch, về mối quan hệ trong trao đổi hàng hóa, ông đề xuất “Lý thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi”, hay c n gọi là Lý thuyết vành đai nông nghiệp [77]. Theo đó, “thành phố là trung tâm của thị trường”, có sức hấp dẫn đối với các hoạt động nông nghiệp xung quanh. Ý nghĩa quan trọng của lí thuyết này là việc xác định vai trò của một trung tâm và thiết lập các vành đai nông nghiệp tối ưu, bước đầu thể hiện ý thức tổ chức lãnh thổ để nâng cao hiệu quả kinh tế, phát huy địa tô chênh lệch giữa các lãnh thổ. Học giả Alfred Weber (1909) nổi tiếng với lý thuyết Khu luận vị công nghiệp [77].
Lý thuyết này đề cập tới nguyên nhân của sự tập trung công nghiệp ở một lãnh thổ, trong đó hai yếu tố đầu tiên: chi phí vận tải rẻ nhất và chi phí nhân công thấp nhất là những yếu tố lãnh thổ chung nhất để ác định mô hình định vị và cơ cấu địa lí; thứ 3 là các lực tích tụ và không tích tụ - là những yếu tố địa phương ác định mức độ phát tán trong hung chung. Nhưng quan trọng hàng đầu trong định vị vẫn là yếu tố chi phí vận tải. Mục đ ch của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận” [89], [18]. Weber là 15 người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp.
Tr n cơ sở nghiên cứu việc hình thành nhiều không gian công nghiệp thường éo theo là các hông gian đô thị, nhà khoa học người Đức, W.Christaller 1903) đã đề xuất “Lý thuyết về điểm trung tâm” [77]. Theo đó, một vùng không thể phát triển nếu không có trung tâm hạt nhân, giữ vai tr đầu tàu lôi kéo sự phát triển của cả lãnh thổ. Thành phố được em như là những cực hút, hạt nhân của sự phát triển, là các đối tượng đầu tư có trọng điểm tr n cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của chúng đến các vùng xung quanh thông qua bán kính vùng tiêu thụ sản phẩm. Ý nghĩa của lí thuyết này là cơ sở để bố tr các điểm đô thị, các điểm “trồi” được đồng đều trên lãnh thổ thông qua lực hút từ trung tâm.
Lý thuyết trung tâm của Christaller sau này đã được nhà bác học người Đức A.Losh bổ sung và phát triển: giữa các trung tâm có mức độ phụ thuộc khác nhau. Thành phố quan trọng nhất trong hệ thống là đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cư, vai tr thương mại dịch vụ của nó khống chế các vùng phụ cận [18], [85]. Nhà kinh tế học người Pháp, Francoi Perrou 1950) đưa ra Lý thuyết cực tăng trưởng, chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ [77]. Ông cho rằng công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự phát triển của một v ng, đi èm với điểm tăng trưởng là một “nhân” công nghiệp then chốt, hình thành vùng ảnh hưởng của nó đến lãnh thổ xung quanh.