Tổng quan luận án
Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn với đề tài "Tìm hiểu những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi (Trên tư liệu ngôn ngữ trẻ em ở nội thành Hà Nội)" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1996, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Cao Đàm, thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người trong xã hội và là công cụ trực tiếp của tư duy. Trẻ em từ khi sinh ra chưa thể nói ngay mà phải trải qua quá trình tiếp thu, hình thành và hoàn thiện ngôn ngữ thông qua tiếp xúc với người lớn và môi trường xã hội xung quanh. Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi là thời kỳ nền tảng đặt cơ sở cho toàn bộ sự phát triển trí tuệ và tâm lý của trẻ.
Tại Việt Nam, Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em Trung ương cùng Viện Nghiên cứu Trẻ em trước tuổi học đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu thể lực và tâm lý trẻ em. Tuy nhiên, các công trình trước đó trong nước chủ yếu khảo sát ở từng độ tuổi hẹp (như lứa tuổi 1-3 tuổi hoặc các giai đoạn vườn trẻ riêng lẻ), thiếu vắng một nghiên cứu hệ thống, toàn diện xuyên suốt từ 1 đến 6 tuổi trên cả ba bình diện: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Việc xác lập những số liệu thực chứng đáng tin cậy về các bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác giáo dục mầm non, biên soạn giáo trình đào tạo giáo viên và ứng dụng trong các lĩnh vực liên quan.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quá trình thụ đắc và phát triển ngôn ngữ trẻ em từ góc độ tâm lý - ngôn ngữ học.
- Khảo sát, miêu tả và xác định các bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam từ 1 đến 6 tuổi trên các bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
- Cung cấp hệ thống số liệu định lượng cụ thể để chứng minh quy luật biến đổi về lượng và bước chuyển biến về chất của ngôn ngữ trẻ qua từng năm tuổi.
- Làm cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh, xây dựng chương trình giáo dục phát triển ngôn ngữ ở nhà trẻ, mẫu giáo và biên soạn tài liệu giảng dạy cho các trường sư phạm mầm non.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm tác động thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em ở từng giai đoạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lời nói và các phương tiện giao tiếp của trẻ em từ 1 đến 6 tuổi (từ 12 tháng đến 72 tháng tuổi), tập trung trọng tâm vào sự phát triển từ vựng và ngữ pháp, kết hợp miêu tả bổ trợ về mặt ngữ âm.
- Phạm vi không gian: Khu vực nội thành Hà Nội, bao gồm các cơ sở nhà trẻ, trường mẫu giáo thuộc 4 quận nội thành (Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình) và các nhóm trẻ được chăm sóc tại gia đình.
- Phạm vi thời gian và tư liệu: Tác giả tiến hành tích lũy tư liệu thực tế liên tục trong hơn 20 năm (bắt đầu từ khóa luận tốt nghiệp đại học), kết hợp kế thừa và xử lý hệ thống tư liệu nghiên cứu giai đoạn 1972–1986 và các năm 1989–1990.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Trên thế giới, đề tài ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi được tiếp cận dưới nhiều giác độ khoa học khác nhau:
- Tại Liên Xô: Trường phái tâm lý - ngôn ngữ học Xô Viết đạt nhiều thành tựu lớn với các công trình của L.S. Vygotsky, A.A. Leontev, A.M. Shakhnarovich, E.I. Tikheeva, S.L. Rubinshtein, P.Y. Galperin, N. Denisova, Pantrukhina, M.M. Koltsova, Cozvigina. Trong đó, Leontev xem sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em trước hết là sự phát triển của các phương thức giao tiếp xã hội, phân định ba thời kỳ phát triển lời nói gắn liền với ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Vygotsky khẳng định bản chất phát triển ngôn ngữ gắn chặt với nhận thức và giao tiếp. Các tác giả phê phán quan điểm máy móc của thuyết tạo sinh (mô hình kích thích - phản ứng S-R) và quan điểm đồng nhất hóa lời nói con người với chương trình máy tính.
- Tại các quốc gia khác: M.A.K. Halliday (Mỹ), E. Bates (1976), C.A. Ferguson (1975), E. Lenneberg (1967), M.M. Lewis (1967, Pháp/Anh), Lezine và Lozach (1968), J. Bruner đã nghiên cứu các bước chuyển từ hành động, cử chỉ sang ký hiệu ngôn ngữ và sự tự điều chỉnh hoạt động phát âm ở trẻ.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, từ năm 1972 đến 1986, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tham gia chương trình nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em với các công trình tiêu biểu:
- GS. Lê Quang Thiêm với bài viết: "Dấu hiệu của việc nắm rút gọn thể hiện qua lời nói".
- GS. Đoàn Thiện Thuật với công trình: "Những tư liệu ban đầu về ngôn ngữ trẻ em Việt Nam lứa tuổi vườn trẻ 24-36 tháng".
- GS. Bùi Khánh Thế với bài viết: "Những ghi chép về ngôn ngữ của một em bé 25 tháng và vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trẻ thơ Việt Nam".
- Các khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn của Nguyễn Minh Châu ("Một vài cứ liệu ngôn ngữ trẻ ở gia đình và nhà trẻ lứa tuổi lên 2-3"), Lưu Thị Lan ("Những đặc trưng ngữ pháp trong câu nói của trẻ từ 1-3 tuổi"), Lê Danh Khiêm ("Tác động ngôn ngữ của những người xung quanh đối với trẻ em ở lứa tuổi vườn trẻ").
- Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Huy Cẩn (1990) về: "Quá trình hình thành và phát triển tiếng nói trẻ em Việt Nam từ 1-3 tuổi".
- Các nghiên cứu của nhóm cán bộ Phòng Nghiên cứu nuôi dạy trẻ thuộc Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Trung ương và Viện Nghiên cứu Trẻ em trước tuổi học (gồm Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Đức, Phùng Thị Tường, Nguyễn Thị Thảo, Mai Ngọc Liên, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thu Lan, Hoàng Thu Hương, Nguyễn Sinh Thảo).
Khoảng trống luận án giải quyết
Trong khi các nghiên cứu trong nước trước đó chỉ dừng lại ở lứa tuổi 1–3 tuổi hoặc khảo sát những khía cạnh riêng lẻ, luận án này là công trình đầu tiên tại Việt Nam mở rộng phạm vi khảo sát liên tục suốt 6 năm đầu đời (từ 1 đến 6 tuổi). Luận án tổng hợp và đối chiếu đồng bộ các mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, đưa ra các mốc định lượng cụ thể về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cơ bản
Luận án vận dụng lý thuyết tâm lý - ngôn ngữ học, xem ngôn ngữ là một thể thống nhất hữu cơ với tư duy và quá trình nhận thức. Quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ là một quá trình tiếp nhận chủ động, kết hợp giữa việc bắt chước và năng lực tổng hợp hóa của trẻ dưới tác động của môi trường giao tiếp.
Luận án làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản:
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ: Giai đoạn trẻ chưa sử dụng ký hiệu ngôn ngữ để giao tiếp mà chủ yếu dựa vào cử chỉ, nét mặt, vận động thân thể và các âm thanh bập bẹ tự nhiên.
- Giai đoạn ngôn ngữ: Giai đoạn trẻ bắt đầu biết sử dụng ký hiệu ngôn ngữ (xuất hiện từ đầu tiên, câu đầu tiên) vào mục đích giao tiếp.
- Từ có tính chất thụ động: Các từ ngữ biểu thị sự vật, hành động mà trẻ hiểu được khi người lớn nói hoặc thực hiện theo mệnh lệnh nhưng trẻ chưa tự nói ra được.
- Từ có tính chất chủ động: Các từ ngữ trẻ có thể tự ý phát âm và sử dụng để biểu đạt ý nghĩa.
- Âm bập bẹ và âm bập bẹ có nghĩa: Âm bập bẹ là cấu tạo âm tiết thuận tiện của bộ máy phát âm trước kích thích trực tiếp (xuất hiện khoảng từ 9 tháng tuổi ở trẻ em Việt Nam); khi gắn vào hoàn cảnh cụ thể để biểu đạt nhu cầu thì trở thành âm bập bẹ có nghĩa.
Ba nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ:
- Yếu tố thần kinh - sinh lý: Sự phát triển của não bộ, thính giác và bộ máy phát âm.
- Yếu tố nhận thức: Quá trình phát triển từ nhận thức cảm tính (tri giác, cảm giác) đến nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng, so sánh, phân tích).
- Yếu tố môi trường xã hội: Hoạt động giao tiếp với người lớn và hoạt động trực tiếp của trẻ với thế giới đồ vật xung quanh.
+-------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRẺ EM |
| |
| [Tiền đề Thần kinh - Sinh lý] |
| (Bộ máy phát âm, thính giác, vỏ não) |
| + |
| [Trình độ Nhận thức] ---> [QUÁ TRÌNH THỤ ĐẮC NGÔN NGỮ] |
| (Từ cảm tính đến lý tính) - Bắt chước (yếu tố thúc đẩy) |
| + - Tổng hợp hoá (yếu tố trung tâm) |
| [Môi trường Giao tiếp Xã hội] - Chuyển từ thụ động sang chủ động |
| (Người lớn, nhà trẻ, đồ vật) |
+-------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, phối hợp chặt chẽ giữa ngôn ngữ học với tâm lý học lứa tuổi, sinh lý học thần kinh và xã hội học, kết hợp hai trục nghiên cứu:
- Nghiên cứu dọc (Longitudinal study): Theo dõi liên tục và ghi chép chi tiết sự phát triển lời nói của hai trẻ từ 1 tháng đến 72 tháng tuổi (gồm cháu gái Bùi Lan Anh, sinh ngày 09/12/1975 và cháu trai Bùi Thọ Thạch Lâm, sinh ngày 01/8/1989).
- Nghiên cứu ngang (Cross-sectional study): Khảo sát trên diện rộng các nhóm trẻ đối chứng tại các cơ sở nuôi dạy trẻ trên địa bàn 4 quận nội thành Hà Nội:
- Nhà trẻ (1–3 tuổi): Nhà trẻ Kim Liên, Hoa Hồng (quận Đống Đa); Xí nghiệp Dược phẩm II, Khu tập thể Đại học Tổng hợp (quận Hai Bà Trưng); Nhà trẻ 20/10 (quận Hoàn Kiếm); Nhà trẻ 147 Nguyễn Thái Học, số 4 Hoàng Diệu, Nguyễn Biểu (quận Ba Đình).
- Trường mẫu giáo (4–6 tuổi): Mẫu giáo Việt - Bun, Sao Mai (quận Hai Bà Trưng); Mẫu giáo 20/10 (quận Hoàn Kiếm); Mẫu giáo 1/6, Mẫu giáo số 1 An Dương, Mẫu giáo Hoa Sen (quận Ba Đình).
- Quy mô mẫu: Mỗi năm tuổi khảo sát định kỳ 30 trẻ, thực hiện cách nhau 3 tháng một lần tại các mốc: 13, 15, 18, 21, 24, 27, 30, 33, 36, 42, 48, 51, 54, 57, 60, 61, 64, 66, 69, 72 tháng tuổi.
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Xử lý và tính toán tỷ lệ phần trăm trên tổng dung lượng ngữ liệu thực tế gồm 14.506 câu nói của trẻ lứa tuổi 1–3 tuổi và khối ngữ liệu câu nói của lứa tuổi 4–6 tuổi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Dẫn luận một số vấn đề về ngôn ngữ trẻ em
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết của đề tài thông qua các nội dung chính:
- Đặc trưng ngôn ngữ trẻ em: Ngôn ngữ trẻ em hình thành dựa trên việc tiếp nhận hệ thống tiếng mẹ đẻ từ người lớn nhưng mang những nét riêng biệt, mộc mạc và sáng tạo đặc thù, không đồng nhất hoàn toàn với ngôn ngữ người lớn.
- Cơ chế thụ đắc ngôn ngữ: Quá trình trẻ học tiếng mẹ đẻ không phải là sự sao chép thụ động hay phản xạ máy móc theo sơ đồ S-R, cũng không phải là sự mở rộng các cấu trúc bẩm sinh đơn thuần. Yếu tố trung tâm của quá trình này là năng lực tổng hợp hóa và khái quát hóa của trẻ qua hoạt động giao tiếp.
- Phân tích ba yếu tố chi phối: Luận giải chi tiết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy; sự phụ thuộc của việc phát âm vào cấu tạo cơ quan phát âm (như cử động môi, lưỡi); sự mở rộng nghĩa của từ theo các giai đoạn nhận thức từ trực quan cụ thể đến tư duy trừu tượng; và tác động quyết định của môi trường giao tiếp gia đình, nhà trẻ đối với tốc độ mở rộng vốn từ.
- Lựa chọn hướng tiếp cận: Phê phán hướng miêu tả thuần túy ngôn ngữ học và khẳng định tính ưu việt của hướng tiếp cận tâm lý - ngôn ngữ học nhằm phục vụ mục tiêu giáo dục và phát triển nhân cách trẻ.
Chương 2: Những bước phát triển về ngữ âm và từ vựng trong ngôn ngữ trẻ em Việt Nam
Chương 2 trình bày các kết quả khảo sát thực tế về tiến trình phát triển ngữ âm và từ vựng của trẻ từ 1 đến 6 tuổi:
1. Về mặt ngữ âm
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ (dưới 12 tháng):
- Trẻ 2 tháng tuổi bắt đầu có phản ứng với lời nói, phát ra các âm ngắn, âm gốc lưỡi
[gù gù], [gò gò] và mấp máy môi.
- Trẻ 3–4 tháng phát âm các nguyên âm
[a], [e] và các tổ hợp âm [ba ba], [ta ta].
- Trẻ 5 tháng tuổi bắt đầu nhận biết và phản ứng phân biệt rõ rệt theo ngữ điệu giọng nói của người lớn (âu yếm thì vui vẻ, giận dữ thì mếu khóc).
- Trẻ 7–9 tháng tuổi phát triển chuỗi âm bập bẹ đa dạng:
[cha cha cha], [chà chà cha], [va va va], [za za za], có sự biến đổi cao độ và bắt đầu bắt chước âm thanh người lớn.
- Trẻ 9–10 tháng tuổi xuất hiện âm bập bẹ có nghĩa gắn với hoàn cảnh (như
[măm măm măm] khi đòi ăn).
- Giai đoạn ngôn ngữ (từ 1 đến 6 tuổi):
- Trẻ 1–2 tuổi: Cấu trúc âm bập bẹ đạt đủ 3 thành phần (âm đầu - âm chính - âm cuối). Xuất hiện các từ đơn đầu tiên có cấu âm đơn giản: bà, mẹ, cá, gà.
- Trẻ 2–3 tuổi: Đã xuất hiện hầu hết các phụ âm đầu, trong đó các phụ âm môi
[b], [m], [p] xuất hiện sớm và đúng nhất do gắn liền với động tác bú mút, nhai nuốt. Các phụ âm ít xuất hiện hoặc khó phát âm là [g], [ph], [p], [r], [s]. Trẻ giai đoạn này thường mắc các lỗi ngữ âm:
- Lẫn lộn phụ âm đầu:
kh -> h (không -> hổng), nh -> d (như -> dư), l -> n (làm -> nàm), th -> x (thù -> xu), ch -> t (cháu -> táu, chào -> tào), s -> th (sang -> thang), ng -> nh (ngủ -> nhủ).
- Lược bỏ âm đệm: Do cơ quan sinh lý chưa uốn tròn môi được, trẻ bỏ âm đệm trong các từ: hoa -> ha, quà -> cà, xoàn -> xàn, hoè -> he.
- Biến đổi nguyên âm:
ê -> a (ếch -> ác), â -> u (chân -> chun), ă -> a (cặp -> cạp), o -> a (xong -> xàng), i -> ia (bút chì -> bút chia), ươ -> iê/riê (hươu -> hiêu/riêu).
- Thanh điệu: Thanh ngã
[~] và thanh hỏi [?] chưa ổn định, thường bị chuyển hóa thành thanh sắc [/] hoặc thanh nặng [.] (võng -> vóng, ngủ -> ngụ, quả -> cạ).
- Trẻ 4–6 tuổi: Khả năng tri giác âm thanh tinh tế hơn. Đến 5 tuổi, bộ máy phát âm mềm dẻo, có khả năng phát âm chuẩn xác tiếng mẹ đẻ và tiếp nhận ngữ âm ngoại ngữ (như tiếng Nga). Đến 6 tuổi, hệ thống ngữ âm cơ bản được định vị hoàn chỉnh, trừ các trường hợp nói ngọng do khuyết tật bẩm sinh hoặc nuông chiều.
2. Về mặt từ vựng
- Sự xuất hiện từ đầu tiên: Mốc chuyển biến căn bản từ tiền ngôn ngữ sang ngôn ngữ ở trẻ em Việt Nam diễn ra ở mốc khoảng 12 tháng tuổi. Trẻ bắt đầu hiểu mối liên hệ giữa vỏ âm thanh và đối tượng biểu thị.
- Tiến trình tăng trưởng số lượng từ vựng (từ 1 đến 6 tuổi):
- Giai đoạn 12–18 tháng: Số lượng từ chủ động còn rất ít (trung bình ở mốc 18 tháng là 11 từ; trẻ nhiều nhất đạt 25 từ, trẻ ít nhất là 0 từ).
- Giai đoạn 19–21 tháng: Vốn từ tăng vọt, đạt mốc 220 từ ở 21 tháng tuổi.
- Giai đoạn 21–24 tháng: Tăng trưởng chậm lại (24 tháng đạt 234 từ).
- Giai đoạn 24–36 tháng: Tăng vọt trở lại, mốc 30 tháng đạt 434 từ, mốc 36 tháng đạt 486 từ (cuối năm 3 tuổi tăng thêm 252 từ so với đầu năm, tỷ lệ tăng 107%).
- Giai đoạn 4–6 tuổi: Tốc độ tăng trưởng ổn định và ít chênh lệch đột biến hơn giữa các trẻ: 4 tuổi tăng 209 từ; 5 tuổi tăng 84 từ (tăng 10,40%); 6 tuổi tăng 94 từ (tăng 10,01%), đạt tổng số 1.033 từ ở cuối 6 tuổi.
| Mốc độ tuổi của trẻ |
Số lượng từ trung bình tích lũy |
Đặc điểm biến đổi vốn từ |
| 18 tháng |
11 từ |
Vốn từ chủ động ít ỏi; từ thụ động và âm bập bẹ chiếm ưu thế |
| 21 tháng |
220 từ |
Bước nhảy vọt về số lượng từ chủ động |
| 24 tháng |
234 từ |
Tăng trưởng từ từ, ổn định vốn từ cơ bản |
| 30 tháng |
434 từ |
Bước tăng vọt số lượng từ lần thứ hai |
| 36 tháng (3 tuổi) |
486 từ |
Tăng 252 từ so với đầu năm 3 tuổi (tăng 107%) |
| 48 tháng (4 tuổi) |
Tích lũy thêm 209 từ |
Mở rộng vốn từ chỉ phẩm chất, thuộc tính |
| 60 tháng (5 tuổi) |
Tích lũy thêm 84 từ (tăng 10,40%) |
Tốc độ tăng lượng chậm lại, nâng cao chất lượng ngữ nghĩa |
| 72 tháng (6 tuổi) |
Đạt tổng số 1.033 từ (tăng 10,01%) |
Vốn từ đa dạng, chuẩn bị cho việc học đọc, học viết |
- Sự biến đổi về chất của từ vựng: Trẻ dưới 3 tuổi tiếp nhận từ ngữ gắn liền với các sự vật, hành động cụ thể, trực quan (quần áo, đồ ăn, đồ chơi, người thân). Nghĩa của từ gắn chặt với ngữ cảnh thực tế; các khái niệm trừu tượng, tổng thể chưa được trẻ lĩnh hội đầy đủ. Ở lứa tuổi 4–6 tuổi, trẻ bắt đầu nắm bắt các từ ngữ chỉ màu sắc, quan hệ không gian, thời gian và biết phân loại sơ đẳng các thuộc tính của đối tượng.
Chương 3: Những bước phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ trẻ em Việt Nam
Chương 3 khảo sát khả năng xây dựng và vận dụng cấu trúc câu của trẻ:
- Khả năng nắm bắt các loại câu theo cấu trúc:
- Ở lứa tuổi 1–3 tuổi, trẻ chủ yếu sử dụng các câu đơn. Câu phức hợp bắt đầu xuất hiện theo độ tuổi nhưng phần lớn là câu phức hợp đẳng lập (gồm các mệnh đề câu đơn nối tiếp nhau mà không dùng kết từ liên kết).
- Khi diễn đạt các sự việc có quan hệ logic, trẻ nhỏ thường chỉ liệt kê các sự vật, hành động đặt cạnh nhau: "Mời bố ăn cơm đói bụng", "Lúc này thằng ấy nó đứt chân con", "Đức Minh xuống nước quả bóng".
- Câu nói của trẻ dưới 3 tuổi còn có hiện tượng sắp xếp lộn xộn trật tự từ ngữ khi trẻ chưa làm chủ cấu trúc cú pháp: "Chú bế em khỏi ngã thằng Hoàng khỏi bế khỏi cho nó ngã".
- Khả năng sử dụng câu theo mục đích phát ngôn: Phân tích sự hình thành và tần suất xuất hiện của các kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến và câu cảm thán qua từng độ tuổi.
- Khảo sát lỗi cú pháp: Luận án thống kê số lượng, phân loại và tỷ lệ câu dùng sai trên khối tư liệu 14.506 câu nói của trẻ lứa tuổi 1–3 tuổi và khối tư liệu lứa tuổi 4–6 tuổi.
- Đề xuất biện pháp phát triển ngôn ngữ:
- Xây dựng môi trường âm thanh ngôn ngữ chuẩn mực; người lớn khi giao tiếp với trẻ cần nói chậm, rõ ràng, giàu ngữ điệu, lặp lại các cấu trúc chuẩn.
- Sử dụng các câu ngắn có cấu trúc đơn giản, gắn liền với các tình huống và đồ vật cụ thể ngay trước mắt trẻ.
- Chủ động tạo tình huống kích thích nhu cầu nói của trẻ thay vì đoán trước và đáp ứng ngay mọi đòi hỏi khi trẻ chưa nói.
- Luyện tập cho trẻ nghe hiểu thông qua truyện kể, đọc thơ ngắn, tổ chức trò chơi ngôn ngữ để rèn luyện thính giác và bộ máy phát âm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Cung cấp một hệ thống cứ liệu thực chứng toàn diện, có giá trị khoa học về ngôn ngữ trẻ em Việt Nam từ 1 đến 6 tuổi, đóng góp dữ liệu cho phân ngành tâm lý - ngôn ngữ học và lý luận ngôn ngữ học đại cương về quy luật thụ đắc tiếng mẹ đẻ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình.
- Làm sáng tỏ quy luật phát triển không đồng đều của ngôn ngữ trẻ em: sự tăng trưởng vốn từ diễn ra theo từng bước nhảy vọt tại các mốc tháng cụ thể (21 tháng, 30 tháng, 36 tháng) thay vì tăng tiến tuyến tính, đều đặn theo tháng tuổi.
- Khẳng định bản chất xã hội của quá trình thụ đắc ngôn ngữ, chứng minh vai trò quyết định của hoạt động giao tiếp và năng lực tổng hợp hóa của trẻ, bác bỏ quan điểm bắt chước cơ học đơn thuần.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đưa ra bảng số liệu định lượng chi tiết về chuẩn phát triển ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp theo từng mốc tuổi, làm cơ sở khoa học để đánh giá mức độ phát triển bình thường hay chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em Việt Nam.
- Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để phân chia nhóm lớp trong các trường mầm non: nhóm trẻ dưới 3 tuổi có độ chênh lệch phát triển lớn nên cần chia thành các nhóm nhỏ; nhóm trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi có mức độ phát triển từ vựng đồng đều hơn nên có thể tổ chức học tập theo lớp chung.
- Đóng góp luận cứ cho việc biên soạn chương trình phát triển ngôn ngữ, viết sách giáo khoa và giáo trình đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm nuôi dạy trẻ và mẫu giáo.
- Cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị cho ngành y học tâm thần kinh và ngôn ngữ bệnh lý trong việc phục hồi khả năng ngôn ngữ cho bệnh nhân mắc chứng thất ngôn (aphasic), đồng thời hỗ trợ phương pháp giáo dục ngôn ngữ cho trẻ câm điếc tại Viện Câm điếc Trung ương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Địa bàn khảo sát của luận án mới chỉ tập trung tại khu vực nội thành Hà Nội (các trường mầm non, nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp, khu tập thể và gia đình thành thị), chưa mở rộng khảo sát so sánh với trẻ em ở các vùng nông thôn, miền núi hoặc các vùng phương ngữ khác của Việt Nam.
- Trọng tâm luận án dành chủ yếu cho phương diện từ vựng và ngữ pháp; phần khảo sát ngữ âm chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét sơ lược các bước phát triển ban đầu, chưa đi sâu phân tích toàn diện hệ thống âm vị học thực nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi thu thập ngữ liệu ngôn ngữ trẻ em trên các địa bàn nông thôn và các vùng phương ngữ Trung Bộ, Nam Bộ để xác lập bức tranh tổng thể về chuẩn ngôn ngữ trẻ em Việt Nam trên phạm vi toàn quốc.
- Ứng dụng các phương tiện phân tích ngữ âm học thực nghiệm hiện đại để đo đạc chính xác các chỉ số âm học trong quá trình hoàn thiện cấu âm của trẻ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Tâm lý học phát triển, Giáo dục học mầm non có thể tham khảo phương pháp luận liên ngành kết hợp nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang, cùng hệ thống bảng số liệu thống kê về ngữ âm, vốn từ và cú pháp tiếng Việt của trẻ.
- Cán bộ quản lý giáo dục mầm non và giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo: Ứng dụng các mốc định lượng và đặc điểm tâm sinh lý ngôn ngữ để thiết kế chương trình chăm sóc, giáo dục ngôn ngữ phù hợp với từng lứa tuổi.
- Bác sĩ thần kinh, chuyên gia trị liệu ngôn ngữ và giáo viên giáo dục đặc biệt: Sử dụng các dữ liệu về quá trình tích lũy ngôn ngữ để xây dựng phác đồ phục hồi chức năng cho người bệnh thất ngôn và can thiệp giáo dục cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ, khiếm thính.
Câu hỏi thường gặp
1. Mốc chuyển biến từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ ở trẻ em Việt Nam diễn ra vào thời điểm nào?
Theo kết quả nghiên cứu của luận án, mốc chuyển biến căn bản từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ ở trẻ em Việt Nam diễn ra ở khoảng 12 tháng tuổi (1 năm tuổi). Đây là thời điểm trẻ bắt đầu chuyển từ việc sử dụng các cử chỉ, nét mặt và âm bập bẹ tự nhiên sang việc sử dụng các ký hiệu ngôn ngữ (từ ngữ đầu tiên có nghĩa) để thực hiện mục đích giao tiếp.
2. Sự tăng trưởng số lượng từ vựng của trẻ từ 1 đến 6 tuổi diễn ra theo quy luật nào và có những bước nhảy vọt tại các mốc nào?
Sự phát triển số lượng từ vựng của trẻ không diễn ra đều đặn theo từng tháng mà có sự tăng vọt ở một số mốc tuổi nhất định:
- Vốn từ tăng vọt lần thứ nhất ở mốc 21 tháng tuổi, đạt 220 từ (so với mức trung bình 11 từ ở 18 tháng tuổi).
- Vốn từ tăng vọt lần thứ hai ở mốc 30 tháng tuổi, đạt 434 từ, và đạt 486 từ ở mốc 36 tháng tuổi (tăng 252 từ trong năm thứ ba, tương ứng mức tăng 107%).
- Giai đoạn từ 4 đến 6 tuổi, tốc độ tăng trưởng số lượng chậm dần lại và có tính ổn định hơn: cuối 4 tuổi tăng thêm 209 từ; 5 tuổi tăng thêm 84 từ (tăng 10,40%); 6 tuổi tăng thêm 94 từ (tăng 10,01%), đạt tổng số 1.033 từ ở cuối năm 6 tuổi.
3. Những lỗi ngữ âm điển hình mà trẻ em Việt Nam lứa tuổi 2–3 tuổi thường mắc phải là gì?
Trẻ từ 2 đến 3 tuổi thường mắc các lỗi ngữ âm cụ thể gồm:
- Lẫn lộn phụ âm đầu:
kh -> h (không -> hổng), l -> n (làm -> nàm), th -> x (thù -> xu), ch -> t (chào -> tào), s -> th (sang -> thang), ng -> nh (ngủ -> nhủ).
- Lược bỏ âm đệm do cơ quan sinh lý chưa uốn tròn môi được: hoa -> ha, quà -> cà, xoàn -> xàn, hoè -> he.
- Phát âm lệch nguyên âm:
ê -> a (ếch -> ác), â -> u (chân -> chun), o -> a (xong -> xàng).
- Không ổn định thanh điệu: thanh ngã
[~] và thanh hỏi [?] thường bị chuyển thành thanh sắc [/] hoặc thanh nặng [.].
4. Cấu trúc câu nói của trẻ em lứa tuổi 1–3 tuổi có những đặc điểm ngữ pháp nổi bật nào?
Trong lứa tuổi 1–3 tuổi, trẻ chủ yếu sử dụng câu đơn. Các câu phức hợp xuất hiện rất ít và chủ yếu là câu phức hợp đẳng lập (nối các vế câu đơn kế tiếp nhau mà không có kết từ). Trẻ thường chỉ đặt các sự vật, hiện tượng cạnh nhau theo chuỗi quan sát trực quan ("Mời bố ăn cơm đói bụng", "Đức Minh xuống nước quả bóng"), đôi khi câu nói bị xáo trộn trật tự từ ngữ do trẻ chưa làm chủ quy tắc cú pháp.
5. Luận án đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế nào để thu thập và xử lý ngữ liệu?
Luận án kết hợp hai phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu dọc: Theo dõi liên tục và ghi chép lời nói của 2 trẻ (con của tác giả) từ 1 tháng đến 72 tháng tuổi.
- Nghiên cứu ngang: Khảo sát đối chứng trên 30 trẻ cho mỗi năm tuổi (định kỳ 3 tháng một lần) tại các nhà trẻ và trường mẫu giáo thuộc 4 quận nội thành Hà Nội.
- Phân tích thống kê định lượng trên khối ngữ liệu gồm 14.506 câu nói của trẻ 1–3 tuổi và khối ngữ liệu câu của trẻ 4–6 tuổi.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (1996) là công trình nghiên cứu thực chứng toàn diện về tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam từ 1 đến 6 tuổi trên địa bàn nội thành Hà Nội. Dựa trên việc kết hợp nghiên cứu dọc kéo dài và nghiên cứu ngang diện rộng, tác giả đã định lượng hóa các bước phát triển về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, làm sáng tỏ các mốc nhảy vọt về lượng và chuyển biến về chất của tiếng nói trẻ thơ. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực tiễn cho việc biên soạn chương trình giáo dục mầm non, đào tạo giáo viên sư phạm và nghiên cứu ngôn ngữ bệnh lý.