mở đầu cho những chuyển hướng sau này của phê bình sinh thái từ góc nhìn trải nghiệm của nhà nghiên cứu. Năm 2011, giáo sư Susan Rowland ra mắt tác phẩm Tinh thần phê bình sinh thái: Văn học, sự phức tạp của tiến hóa và Jung (The Ecocritical Psyche: Literature, Evolutionary Complexity and Jung) được xem là “bước đột phá” của phê bình sinh thái, bởi đây là lần đầu tiên, nghiên cứu phê bình sinh thái đã có sự kết hợp liên ngành với tâm lí học, cùng các ý tưởng của Jung, huyền thoại và lí thuyết tiến hóa của Shakespeare và Jane Austen. Thông qua việc nghiên cứu sự sản sinh những biểu tượng, huyền thoại và tiến hóa trong các văn bản như Khu vườn bí mật (The Secret 13 Garden), Giông tố (The Tempest), Đỉnh cao lộng gió và Sư tử (Wuthering Heights and The Lion), Phù thủy và tủ quần áo (The Witch and the Wardrobe), Susan đã chứng minh văn học là nơi tưởng tượng, xa rời với tự nhiên, mà khởi nguồn của nó là từ một thế giới phi-nhân-loại khác. Nhận thấy, “biểu tượng không chỉ là thuộc tính của một mình bản ngã hay tinh thần, nó còn là tiếng nói của tự nhiên xuyên qua chúng ta”, Susan đã phân tích những ý tưởng của C.
Jung trong việc sáng tạo ra những hình ảnh tưởng tượng đã kết nối nhân loại và tự nhiên như thế nào. Đến năm 2013, cuốn Sổ tay Oxford về Phê bình sinh thái (The Oxford handbook of Ecocriticism) do Greg Garrard biên tập được ghi nhận như công trình đánh dấu thời kì phát triển vượt trội của phong trào phê bình sinh thái, phát hành nhằm kỉ niệm hai mươi năm thành lập Hiệp hội nghiên cứu về Văn học và Môi trường (ASLE). Tác phẩm được tổ chức hợp lí, rõ ràng, đi từ lịch sử vấn đề, đến phạm trù lí thuyết và sau cùng là đưa ra những quan điểm về phê bình sinh thái tại một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Đức… Điểm nổi bật của Sổ tay Oxford về Phê bình sinh thái chính là đã tập hợp những bài nghiên cứu của các học giả chuyên sâu bàn luận về sự hình thành lí thuyết phê bình sinh thái diễn ra như thế nào, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các triết gia và nhà tư tưởng ra sao, tiêu biểu như Gaston Bachelard, Roland Barthes, Jacques Derrida, Michel Foucault, Sigmund Freud, David Harvey, Martin Heidegger, Edmund Husserl, Wolfgang Iser, Fredric Jameson, Jacques Lacan, Ferdinand de Saussure, Raymond Williams. Những nguồn này giúp cho các nhà phê bình sinh thái tạo ra các lí thuyết kết nối giữa văn học và môi trường, ví dụ: bản chất của ngôn ngữ, tính văn bản, nhận thức về không gian, xây dựng sự khác biệt, ranh giới các loài, tầng lớp xã hội, quyền lực, rủi ro, ý thức hệ, phân điểm, tâm lí con người, nhận thức luận, và bản thể học.
Khi biên tập, Garrard đã tạo ra sự cân bằng hợp lí giữa những bài khái quát trọng tâm và những đột phá thử nghiệm vào lãnh thổ mới. Độc giả sẽ được dẫn nhập những cách tiếp cận mới vào giai đoạn nghiên cứu khả thi phê bình sinh thái như chủ nghĩa lãng mạn và văn học thế kỉ XIX, cũng như mạo hiểm vào giai đoạn ít được nghiên cứu, như thời trung cổ và hậu hiện đại. Tác phẩm còn đi sâu vào lí thuyết mới, như phê bình sinh thái hậu thuộc địa, công bằng môi trường, khoa học nữ quyền, và giới thiệu các bài viết đã táo bạo vào địa hạt mới như kí hiệu học sinh học (biosemiotics) và khoa học siêu nhiên (paraphysics). Bên cạnh đó còn có một số công trình đưa ra lập luận mới về những thể loại định hướng tự nhiên, 14 chẳng hạn: “Có phải là Cái chết của Lối viết Tự nhiên?” của Daniel J.
Philippon tìm hiểu tất cả thể loại đã từng có trước đây nhưng bị các nhà phê bình sinh thái bỏ qua, như truyện hài, âm nhạc thời xưa, văn học thiếu nhi, và phương tiện truyền thông kĩ thuật số. Tác phẩm đã thu hút nhiều mối quan tâm của nhiều nhà phê bình trong những năm cuối thế kỉ XX về vấn đề sinh thái trong văn học, tạo ra một hiệu ứng phát triển của lĩnh vực này tới từng khu vực, quốc gia. Năm 2014, cuốn sách Sự mơ hồ sinh thái, Cộng đồng và Phát triển: Hướng tới một Phê bình sinh thái Chính trị (Ecoambiguity, Community, and Development: Toward a Politicized Ecocriticism) do Scott Sloviic, S. Sarveswaran biên tập lại là một công trình được đóng góp bởi rất nhiều nhà lí luận hàng đầu về văn hóa – môi trường ở các nước đang phát triển, từ Nam Á đến Mĩ Latin.
Mười hai chương của cuốn sách được gắn kết với nhau thông qua sự nhất trí của các tác giả về sự phức tạp của “văn hóa tự nhiên”, làm sáng tỏ mối tương quan của các vấn đề nhân quyền và suy thoái môi trường. Một số tác giả giải quyết sự mơ hồ trong vai trò biểu hiện ngôn ngữ và văn học, nghiên cứu tương phản ngôn ngữ của chính nó “để đưa ra sự truyền đạt thế giới vật chất mà các nền văn hóa tìm kiếm để tồn tại”. Qua đó, công trình thiết lập nhận thức mới trong mối quan hệ giữa địa chính trị và bảo vệ môi trường và xã hội. Tuyển tập này áp dụng một diễn thuyết của Nam Địa cầu như một cấu trúc chuẩn để điều hướng về cách thức suy biến sinh thái và áp bức văn hóa bị lây lan ở cộng đồng địa phương lẫn toàn cầu.
Từ những công trình mà chúng tôi tiếp cận được trong nghiên cứu về phê bình sinh thái, có thể nhận thấy đây là vấn đề đang được nhiều chuyên gia văn hóa – văn học từ khắp nơi trên thế giới quan tâm; hơn nữa lí thuyết về phê bình sinh thái vẫn còn đang ở quá trình định hình, hoàn thiện hơn. Cho nên, tương lai của phê bình sinh thái gắn với bối cảnh toàn cầu hóa. Nhìn vào những công trình ban đầu, các nhà phê bình sinh thái tập trung tìm hiểu những văn bản tại quốc gia họ sinh sống (gồm văn bản tiếng Anh, Đức, và những ngôn ngữ thuộc Tây phương), sau đó, phê bình sinh thái dần dần rời khỏi địa hạt trung tâm, lưu ý đến các văn bản ngoài Âu – Mĩ để khai mở những tiềm năng lí thuyết mới trong nội tại chính nó. Cũng trong quá trình nghiên cứu những văn bản ngoài Âu – Mĩ, cụ thể ở đây là những văn bản Đông Á, các nhà phê bình sinh thái còn phát hiện ra “sự mơ hồ” trong thái độ, tình cảm của người phương Đông đối với thiên nhiên (trường hợp của Karen Thornber).
Đồng thời, bắt nhịp về với phương 15 Đông, phê bình sinh thái đã kết nối với các tư tưởng triết học sinh thái môi trường hiện đại và nguồn mạch tư tưởng văn hóa phương Đông ngàn xưa (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo) để đề xuất một cách ứng xử mới với tự nhiên, tái thiết môi sinh. Từ đó cho thấy sự cần thiết và cấp bách hiện nay trong việc dẫn nhập, áp dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học các nước châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái ở Việt Nam Văn học Việt Nam từ sau Đổi mới đã rất cởi mở trong việc tiếp thu những lí thuyết phê bình khác của thế giới và có những chuyển biến đáng kể. Các vấn đề như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, cấu trúc, nữ quyền luận, hậu hiện đại… được nhiều học giả, nhà nghiên cứu và nhà văn đón nhận sôi nổi, tạo nên dấu ấn riêng.
Nhưng đối với trào lưu phê bình sinh thái vẫn còn ở dạng “tiềm năng cần khai thác”. Tại sao lại trong trạng thái tiềm năng mà không phát triển sâu rộng như những lí thuyết vừa kể trên? Một phần vì ban đầu, lí thuyết phê bình sinh thái được những học giả sử dụng để nghiên cứu văn học viết về tự nhiên, nhằm nhấn mạnh văn học nên làm cho độc giả quay lại “tiếp xúc” với tự nhiên, hướng tới xây dựng một nền văn học sinh thái. Trong khi đó, thiên nhiên vốn dĩ là đề tài quen quá quen thuộc trong văn chương phương Đông. Nên người ta hồ nghi rằng, văn học sinh thái liệu có khác gì văn học viết về thiên nhiên đã có từ ngàn năm trước, như những áng sử thi hùng tráng Ramayana, Mahabharata đã ca ngợi vẻ đẹp con người và tự nhiên, như những bài thơ Thiền đời Đường, những bài thơ Haiku Nhật Bản? Hơn nữa, một câu hỏi được đặt ra: phê bình sinh thái khi nghiên cứu về tự nhiên sẽ mang lại điểm khác biệt gì so với những lí thuyết văn học trước đây, chẳng hạn như thi pháp học cũng đã từng đề cập đến không gian, thời gian, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên? Một phần cũng bởi nhiều học giả cho rằng đây là một lí thuyết “gượng ép”, đánh đồng phê bình sinh thái như một ngành thuộc sinh thái học, một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trường.
Những điều này cũng đã được Nguyễn Văn Dân đề cập trong bài viết “Các lí thuyết nghiên cứu văn học và tính khả dụng” (Văn nghệ, số 15/ 2014). Tác giả cho rằng, phê bình sinh thái trước hết là một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trường, và “nếu cứ lấy một vấn đề xã hội bất kì để gắn một cách gượng ép với văn học và gọi nó là mỹ học thì chúng ta sẽ có vô vàn lí thuyết mỹ học nhưng không áp dụng được” [11]. Chỉ khi làm rõ những 16 định kiến và mập mờ trên, phê bình sinh thái mới được chấp thuận và xem như là một ngành nghiên cứu văn học mới có tính khả dụng, cấp bách. Nhìn chung có thể thấy, phê bình sinh thái vận dụng quan điểm sinh thái học hiện đại khảo sát mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và tự nhiên, xã hội và trạng thái tinh thần con người; chất vấn quan hệ giữa ba yếu tố: con người, tự nhiên, nghệ thuật, qua đó thể hiện chủ nghĩa sinh thái nhân văn mới, tái cấu trúc các quan niệm cũ để có được các quan niệm mới.
Lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học làm trọng yếu, phê bình sinh thái muốn tác phẩm văn chương phải chuyển tải những chiều hướng phức tạp của con người và tự nhiên, cũng như quan hệ tương tác giữa chúng.