Luận án tiến sĩ luật học thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ quyền hạn ở việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ luật học về thực hiện pháp luật kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2024

301
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN

1.1. Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.2. Người có chức vụ, quyền hạn và tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.3. Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn: Khái niệm, vai trò, nội dung, nguyên tắc của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.4. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.5. Chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

1.7. Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo trong thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

2.2. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với thực hiện pháp luật kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

2.4. Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền và những điều kiện vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.5. Ý thức pháp luật của đối tượng chịu sự kiểm soát về tài sản, thu nhập và tập quán, truyền thống, văn hóa liên quan đến thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.6. Thực trạng hoạt động ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.7. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập và xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.8. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.9. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia và sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

2.10. Đánh giá chung về tình hình thực hiện pháp luật kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay

3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

3.2.1. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.3. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, kiện toàn đội ngũ cán bộ trong các cơ quan có chức năng thực hiện pháp luật kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.5. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật, ứng dụng khoa học, công nghệ trong thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.6. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng của các chủ thể thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.7. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

3.2.8. Thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; quản lý, khai thác thông tin, dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn một cách hiệu quả

3.2.9. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, người dân; tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

KẾT LUẬN CHƯƠNG III

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan Pháp luật Kiểm soát Tài sản Thu nhập 55 ký tự

Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là công cụ hữu hiệu trong phòng chống tham nhũng (PCTN). Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng. Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập lần đầu tiên được ghi nhận năm 1998 và liên tục được sửa đổi, bổ sung trong Luật PCTN năm 2005, 2018. Hàng năm, có khoảng 1 triệu người thuộc diện kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả PCTN. Dẫn chứng: "Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của. người có chức vụ, quyền hạn lần đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998...Luật PCTN năm 2018".

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật kiểm soát

Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập đã trải qua quá trình phát triển từ Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 đến Luật PCTN năm 2018 và các Nghị định hướng dẫn. Quá trình này thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn của Đảng và Nhà nước trong việc kiểm soát tài sảnthu nhập của cán bộ, công chức, minh bạch tài sảnthu hồi tài sản. Sự phát triển pháp luật này cũng phản ánh sự thay đổi và phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội, đòi hỏi pháp luật phải liên tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của việc kiểm soát tài sản thu nhập

Việc kiểm soát tài sản, thu nhập nhằm ngăn ngừa và phát hiện tham nhũng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, tạo sự minh bạchtrách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ. Kiểm soát tài sản, thu nhập không chỉ là biện pháp phòng chống tham nhũng mà còn là công cụ để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của người dân vào bộ máy nhà nước.

II. Thực trạng Hạn chế Pháp luật Kiểm soát Tài sản 58 ký tự

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, việc thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập vẫn còn nhiều hạn chế. Chính phủ đánh giá còn yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, xác minh. Số người được xác minh còn ít, chưa xử lý được tài sản khi không giải trình được nguồn gốc. Cơ sở dữ liệu quốc gia còn chậm trễ. Thực chất, cơ quan chức năng chưa kiểm soát được biến động tài sản, chưa hiệu quả trong phòng ngừa tham nhũng, phát hiện, xử lý, và thu hồi tài sản tham nhũng. Trích dẫn: "Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ thì việc thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn vẫn còn hạn chế...".

2.1. Những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Quy định pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Việc kê khai tài sản chưa thực sự hiệu quả do thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Các quy định về xác minh tài sản còn chung chung, khó thực hiện. Chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Những bất cập này làm giảm hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng.

2.2. Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát

Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức còn kém. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ. Thiếu nguồn lực và trang thiết bị cần thiết để thực hiện kiểm soát tài sản, thu nhập. Vai trò của người dân và báo chí chưa được phát huy đầy đủ trong giám sát và phản biện.

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế

Các yếu tố văn hóa, truyền thống và tâm lý của người Việt Nam ảnh hưởng đến việc thực hiện kê khai tài sản một cách trung thực. Tổ chức bộ máy và biên chế của các cơ quan kiểm soát chưa được kiện toàn. Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ quản lý dữ liệu chưa hoàn thiện. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ.

III. Phương pháp Nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản 59 ký tự

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập, cần đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh đấu tranh PCTN. Nghị quyết 04-NQ/TW yêu cầu nghiêm túc kê khai và xác minh. Kết luận 21-KL/TW yêu cầu minh bạch tài sản, nghiên cứu kiểm soát thu nhập. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này là cấp bách, cần thiết. Trích dẫn: "Từ thực tế trên, đặt ra yêu cầu đi sâu nghiên cứu những van đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam...".

3.1. Nghiên cứu lý luận về thực hiện pháp luật kiểm soát

Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập. Xác định rõ chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện, bao gồm vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy, điều kiện vật chất, ý thức trách nhiệm của các chủ thể.

3.2. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật kiểm soát hiện nay

Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện các quy định về kê khai, công khai và xác minh tài sản, thu nhập. Phân tích thực trạng kiểm tra, xử lý vi phạm. Đánh giá hiệu quả của các hoạt động xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia. Xác định nguyên nhân của những kết quả và hạn chế.

3.3. So sánh với kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát tài sản

Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong kiểm soát tài sản, thu nhập. Phân tích các mô hình, cơ chế, và biện pháp đã được áp dụng thành công. Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

IV. Giải pháp Hoàn thiện Pháp luật Kiểm soát Tài sản 57 ký tự

Luận án đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện chính sách, pháp luật; tăng cường tuyên truyền, giáo dục; kiện toàn tổ chức bộ máy; bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể; tăng cường kiểm tra, giám sát; quản lý, khai thác thông tin, dữ liệu; phát huy vai trò của xã hội, người dân; tăng cường hợp tác quốc tế. Các giải pháp này hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch.

4.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát tài sản

Sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập trong Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai tài sản. Nâng cao hiệu quả của các hoạt động xác minh tài sản. Tăng cường chế tài xử lý vi phạm. Nghiên cứu ban hành quy định về kiểm soát chi tiêu của người có chức vụ, quyền hạn.

4.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ công chức

Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật PCTNkiểm soát tài sản, thu nhập. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về đạo đức công vụ. Xây dựng văn hóa liêm chính trong đội ngũ cán bộ, công chức. Phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu.

4.3. Tăng cường vai trò giám sát của xã hội và người dân

Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, phản biện. Bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Phát huy vai trò của báo chí trong đưa tin và phản ánh về các vụ việc tham nhũng.

V. Ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia tài sản 52 ký tự

Việc xây dựng và vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập là yếu tố then chốt. Cơ sở dữ liệu này phải được bảo mật, an toàn, dễ dàng truy cập và sử dụng. Cần có quy trình thu thập, cập nhật, xử lý, và phân tích dữ liệu một cách khoa học. Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác dữ liệu. Trích dẫn: "Thường xuyên sơ kết, tong kết, đánh giá việc thực hiện pháp luật vé kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; quản lý, khai thác thông tin, dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn một cách hiệu quả".

5.1. Xây dựng hệ thống phần mềm quản lý tài sản hiện đại

Phát triển phần mềm có khả năng thu thập, lưu trữ, xử lý, và phân tích dữ liệu về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tích hợp các công cụ hỗ trợ xác minh tài sản và phát hiện dấu hiệu bất thường. Đảm bảo tính bảo mật và an toàn thông tin.

5.2. Đảm bảo tính liên kết và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan

Thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chức năng như thanh tra, kiểm toán, công an, viện kiểm sát, tòa án. Xây dựng quy trình phối hợp để xác minh tài sản một cách nhanh chóng và hiệu quả. Đảm bảo tính thống nhất của dữ liệu.

5.3. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý dữ liệu

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức về kỹ năng quản lý, khai thác, và phân tích dữ liệu về tài sản, thu nhập. Trang bị kiến thức về công nghệ thông tin và bảo mật. Nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ và sử dụng dữ liệu.

VI. Kết luận Tương lai Kiểm soát Tài sản Việt Nam 56 ký tự

Việc thực hiện hiệu quả pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập có vai trò quan trọng trong phòng chống tham nhũng và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luận án này đã phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp, và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt được mục tiêu, cần có sự chung tay của toàn xã hội và quyết tâm chính trị cao từ Đảng và Nhà nước. Trích dẫn: "Do vậy, việc nghiên cứu dé tài “Thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay” là yêu cầu khách quan, cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực công cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay."

6.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi

Luôn cập nhật và sửa đổi pháp luật để phù hợp với tình hình thực tế. Đảm bảo pháp luật có tính khả thi và dễ thực hiện. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và hiệu quả.

6.2. Tăng cường hợp tác quốc tế về kiểm soát tài sản

Học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới về kiểm soát tài sản, thu nhập. Tham gia các tổ chức và diễn đàn quốc tế về PCTN. Hợp tác với các quốc gia khác trong việc thu hồi tài sản tham nhũng.

6.3. Xây dựng văn hóa liêm chính và trách nhiệm giải trình

Phát huy vai trò của giáo dục, truyền thông, và văn hóa trong việc xây dựng liêm chính. Đảm bảo mọi cán bộ, công chức đều hiểu rõ trách nhiệm giải trình và tuân thủ pháp luật. Tạo môi trường khuyến khích tố cáo tham nhũng.

17/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ quyền hạn ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. Những van dé lý luận của thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Chương II. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam.

Chương III. Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. 10 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI 1. Tinh hình nghiên cứu các vấn dé của đề tài Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những giải pháp quan trọng để PCTN.

Do vậy, vấn đề làm thế nào để kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là chủ đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia, nhà khoa học. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã nghiên cứu, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài, đề án, các sách chuyên khảo, bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ trong và ngoài nước có liên quan đến thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Các công trình nghiên cứu lý luận thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyên han - Về khái niệm kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyên hạn: Trong Dé tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức. vụ, quyền hạn” do Cục PCTN của Thanh tra Chính phủ thực hiện (201 ; tài liệu Hội thảo khoa học “Những định hướng lớn sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật PCTN” do Ủy ban tư pháp của Quốc hội tổ chức (2016); Luận án tiến sĩ luật học “Các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam” được Trần Van Đạt bảo vệ năm 2012 tại Đại học Luật Hà Nội.

Trong dé tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” Cục PCTN của. Thanh tra Chính phủ thực hiện (2012) đã đưa ra định nghĩa kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn “Là tổng thể những biện pháp. cách thức mà Nhà nước sử dụng dé biết được biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn nhận tiền, của cải, vật chất trái quy định của pháp luật hoặc sử. dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi tham nhũng” I Hội thảo khoa học “Xay dựng thiết chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn” do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức (2015), PGS.TS Vũ Công Giao trong bài “Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và khả năng áp dụng cho Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là “Tập hợp các biện pháp mà các nhà nước sử dụng để biết được số lượng, nguồn và giám sát biến động tài sản của người có chức vụ, quyền hạn”.

vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) trong cuối sách “Asset Declarations for Public Officials: A Tool to Prevent Corruption, Fighting Corruption in Eastem Europe and Central Asia” (2011) cho rằng kiểm soát tài sản, thu nhập của. người có chức vụ, quyền hạn là công cụ mạnh mẽ để đạt được mục đích PCTN. Trong cuốn sách “Public Office, Private Interests: Accountability through Income and Asset Disclosure” (2012), Ngân hàng thé giới (WB) và Cơ quan của Liên hợp quốc về chống ma túy v: ¡ phạm (UNODC) cho ring kiểm soát tài sản, thu nhập không chỉ ngăn ngừa tham nhũng và xung đột lợi ích mà còn giúp phát hiện, điều tra, truy tố những công chức lợi dụng sự tín nhiệm của công chúng. - VỀ đối tượng kiểm soát tài sản, thu nhập: Cục PCTN, Thanh tra Chính phủ (2012) trong dé tài khoa học cấp bộ về “Kiểm soát thu nhập của.

người có chức vụ, quyền hạn” cho rằng trên thế giới không có bắt kỳ mô hình. tối ưu nào cho mọi quốc gia về đối tượng kiểm soát tài sản. thu nhập, mà tùy. thuộc vào chế độ chính trị, xã hội, khả năng thực tế mà mỗi quốc gia lựa chọn cho mình một mô hình áp dụng phù hợp.

Đỗ Văn Ngoan tại Hội thảo “Nhiing định hướng lớn sửa đổi toàn diện Luật PCTN”, do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thực hiện (2016) và PGS.TS Vũ Công Giao trong bài viết “Kinh 12 nghiệm một số nước trong việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền han”, đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị (số 06/2016) cho rằng can thiết phải yêu cầu các chính trị gia công khai tài sản, thu nhập và các khoản thu nhập bổ sung hoặc lợi ích cá nhân dé ngăn ngừa hành vi tham nhũng chính sách. Hội thảo, Bước đầu tiếp cận kết quả 10 năm thực hiện Luật PCTN qua một số lĩnh vực do Viện chính. ch công và pháp luật - Tổ chức hướng tới minh bạch tổ chức (2016), PGS.TS Vũ Công Giao cho rằng việc lựa chon đối tượng dé kiểm soát tài sản, thu nhập cần phải tính đến nguồn lực bảo dam, dé kiểm soát chặt chẽ những đối tượng được lựa chọn. Hội thảo “Tham van về hoàn thiện cơ chế kê khai tài sản, kiểm soát và minh bach tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn”, do Thanh tra Chính phủ tổ chức (2016), TS Trần Văn Dũng trong bài “Việc phát hiện và xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không được kê khai hoặc không.

được giải trình một cách hợp ly” cho rằng cần phải giới hạn đối tượng cán bộ, công chức phải kê khai, tập trung chủ yếu vào các ngành, nhóm dễ tham nhũng nhất để tiện quản lý. Trong cuốn sách “Public Office, Private Interests: Accountability through Income and Asset Disclosure”, do Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan của Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC) thực hiện (2012) đã đưa ra các tiêu chí xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai thu nhập; khuyến nghị các quốc gia tập trung kiểm soát tài sản, thu nhập của lãnh đạo cao cấp và những vị trí có nguy cơ tham nhũng cao; sau đó mới mở rộng phạm vi áp dụng cho các đối tượng khác khi năng lực được nâng cao. - Về tần xuất kê khai tài sản, thu nhập: Trong Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” (2012), Cục PCTN. 13 của Thanh tra Chính phủ cho rằng, cần có thời gian cố định cho việc kê khai thì các cơ quan quản lý mới có khả năng theo dõi, kiểm soát được việc kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vu, quyền hạn.

Trong cuốn sách “Public Office, Private Interests: Accountability through Income and Asset Disclosure”, do Ngân hàng Thế giới (WB) và Co quan của Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC) thực hiện (2012) cho rằng tần suất kê khai được xác định dựa trên các yếu tố về giá trị của những thông tin mới, năng lực của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập và tránh gây phiền hà cho công chức. công khai bản kê khai tài sản, thu nhập: 'ổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) trong cuốn sách Asset Declarations for Public Officials: A Tool to Prevent Corruption, Fighting Corruption in Eastern Europe and Central Asia (2011), cho rằng cần bảo đảm tính hai hòa tương đối giữa chống tham nhũng của cơ quan công quyền với quyền bí mật cá nhân trong công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Ngân hàng thế giới (WB) và Cơ quan của Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC) trong cuốn sách “Public Office, Private Interests: Accountability through Income and Asset Disclosure” (2012), cho rằng đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng trong bảo đảm sự công bằng giữa quyền riêng tư cá nhân với quyền tiếp cận và giám sát của công chúng đối với tài sản, thu nhập. - VỀ cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn: Tại Hội thảo “Phân tích, so sánh mô hình cơ quan độc lập chống tham nhũng của một số nước” do Ban Nội chính Trung ương tổ chức tại Hà N (2014), TS Đảo Lệ Thu và TS Trần Văn Dũng cho rằng cơ quan có thâm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn phải bảo.

dam các nguyên tắc vẻ tính độc lập, én định là yếu tố quan trong để các cơ quan này hoạt động có hiệu quả. 14 “Trong cuốn sách “Cac thiết chế độc lập: Kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam”, do Viện chính sách công và pháp luật thực hiện (2013). TS Đinh Văn Minh đã đề cập đến các mô hình cơ quan chống tham nhũng. trong đó có quyền hạn về kiểm tra tài sản, thu nhập của người có chức vụ, - Về xứ lý đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực và tài sản không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp: Hội thảo “Tham van về hoàn thiện cơ chế kê khai tài sản, kiểm soát và minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn”, do Thanh tra Chính phủ tổ chức (2016), TS Tran Văn Dũng trong bài “Việc phát hiện và xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không được kê khai hoặc không được giải trình một cách hợp lý” cho rằng phải quản lý chặt chẽ các bản kê khai và có cơ chế để kiểm tra các bản kê khai có nghi ngờ; có cơ chế đề xử lý cán bộ, công chức và xử lý tài sản kê khai không trung thực.

Trong cuốn sách “Các thiết chế độc lập - Kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam” của Viện chính sách công và pháp luật (2013) cho rằng cn phải có các chế tài nghiêm minh đối với những người không hoàn thành nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập. Trong cuốn sách “Bàn về giải pháp PCTN ở Việt Nam hiện nay” do GS.TS Trương Long Giang chủ biên (2013). TS Nguyễn Thành Lợi cho rằng, việc xử lý nghiêm khắc người có chức vụ, quyền hạn kê khai tài sản khong trung thực và thu hồi tài sản tham nhũng là một trong những cơ chế quan trọng góp phần PCTN. Đề tài khoa học cấp bộ “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế" do Ban Nội chính Trung ương.

thực hiện (2014) đã nghiên cứu một số biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ