Luận án: Tác động nhân tố bất định đến tích hợp thước đo tài chính-phi tài chính và hiệu quả kinh doanh

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về tác động của các nhân tố bất định đến việc vận dụng tích hợp thước đo tài chính và phi tài chính trong quản lý doanh nghiệp tại

Chuyên ngành

Kế toán

Tác giả

Lê Hoàng Oanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

293
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố bất định và thước đo tài chính phi tài chính

Nhân tố bất định là những yếu tố không thể dự đoán trước trong môi trường kinh doanh. Chúng bao gồm sự biến động thị trường, thay đổi công nghệ và cạnh tranh gay gắt. Thước đo tài chính phản ánh kết quả kinh doanh qua lợi nhuận, doanh thu và chi phí. Thước đo phi tài chính đo lường sự hài lòng khách hàng, chất lượng sản phẩm và năng suất nhân viên. Việc tích hợp hai loại thước đo này giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện hơn. Trong bối cảnh phía Nam Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất phải đối mặt với nhiều thách thức từ môi trường kinh doanh bất định. Nghiên cứu của Lê Hoàng Oanh năm 2021 đã chỉ ra mối liên hệ giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo. Kết quả cho thấy sự phù hợp giữa yếu tố bất định và thước đo ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về hệ thống đo lường hiệu quả.

1.1. Khái niệm nhân tố bất định trong kinh doanh

Nhân tố bất định trong kinh doanh đề cập đến những biến số không thể kiểm soát hoàn toàn. Chúng bao gồm biến động kinh tế vĩ mô, thay đổi chính sách pháp luật và xu hướng tiêu dùng. Doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ cạnh tranh khu vực và hội nhập quốc tế. Sự bất định buộc nhà quản trị phải điều chỉnh chiến lược liên tục. Việc nhận diện đúng nhân tố bất định giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó hiệu quả hơn trong môi trường kinh doanh phức tạp.

1.2. Vai trò của thước đo tài chính và phi tài chính

Thước đo tài chính tập trung vào kết quả tài chính như lợi nhuận, tỷ suất sinh lời và dòng tiền. Thước đo phi tài chính đo lường các khía cạnh phi tiền tệ như mức độ hài lòng khách hàng, thời gian giao hàng và tỷ lệ sản phẩm lỗi. Sự kết hợp hai loại thước đo này tạo nên hệ thống đánh giá toàn diện. Nghiên cứu chỉ ra rằng doanh nghiệp vận dụng tích hợp thước đo có hiệu quả hoạt động kinh doanh cao hơn so với doanh nghiệp chỉ sử dụng đơn lẻ.

II. Phân tích tác động của nhân tố bất định đến tích hợp thước đo

Nhân tố bất định có tác động đáng kể đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính và phi tài chính. Khi môi trường kinh doanh biến động mạnh, doanh nghiệp cần nhiều thông tin hơn để ra quyết định. Điều này thúc đẩy việc áp dụng hệ thống đo lường đa chiều. Ngược lại, trong môi trường ổn định, một số doanh nghiệp có xu hướng lơ là việc phát triển thước đo phi tài chính. Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam cho thấy ba nhân tố bất định chính. Đó là mức độ cạnh tranh, sự thay đổi công nghệ và biến động thị trường. Các nhân tố này có mối tương quan khác nhau với mức độ tích hợp thước đo. Cạnh tranh gay gắt buộc doanh nghiệp phải mở rộng hệ thống đo lường. Thay đổi công nghệ đòi hỏi cập nhật thước đo liên tục. Biến động thị trường yêu cầu tính linh hoạt cao trong đánh giá hiệu quả.

2.1. Tác động của mức độ cạnh tranh đến tích hợp thước đo

Mức độ cạnh tranh là nhân tố bất định quan trọng ảnh hưởng đến tích hợp thước đo. Trong môi trường cạnh tranh cao, doanh nghiệp phải theo dõi nhiều chỉ số hơn để duy trì lợi thế. Nghiên cứu tại phía Nam Việt Nam cho thấy cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thước đo phi tài chính. Các chỉ số như chất lượng dịch vụ, thời gian phản hồi và đổi mới sản phẩm được ưu tiên. Tuy nhiên, việc vận dụng quá nhiều thước đo cũng tạo gánh nặng chi phí vận hành cho doanh nghiệp.

2.2. Ảnh hưởng của biến động công nghệ và thị trường

Biến động công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp liên tục cập nhật hệ thống đo lường. Các thước đo truyền thống có thể không còn phù hợp khi công nghệ thay đổi nhanh chóng. Biến động thị trường cũng tạo áp lực tương tự lên hệ thống đánh giá hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng doanh nghiệp chủ động thích ứng có hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Sự phù hợp giữa mức độ bất định và tích hợp thước đo đóng vai trò then chốt trong thành công dài hạn của doanh nghiệp sản xuất.

III. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận tổng thể

Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận tổng thể để đánh giá mối quan hệ giữa nhân tố bất định và tích hợp thước đo. Cách tiếp cận này xem xét sự phù hợp giữa điều kiện môi trường và hệ thống đo lường hiệu quả. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng với mẫu khảo sát các doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam. Dữ liệu được thu thập qua bảng hỏi và phân tích bằng phương pháp hồi quy. Nghiên cứu sử dụng lý thuyết bất định để xây dựng khung lý thuyết. Lý thuyết này giải thích tại sao doanh nghiệp cần điều chỉnh thước đo theo môi trường. Phương pháp tiếp cận tổng thể khác với cách tiếp cận chọn lọc và tương tác. Cách tiếp cận tổng thể kiểm định trực tiếp tác động của sự phù hợp giữa yếu tố bất định và thước đo đến hiệu quả kinh doanh. Đây là đóng góp quan trọng của nghiên cứu so với các công trình trước đó.

3.1. Thiết kế mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Mẫu nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hoạt động tại khu vực phía Nam Việt Nam. Bảng khảo sát được thiết kế dựa trên các thang đo đã được kiểm định trong nghiên cứu quốc tế. Dữ liệu được thu thập từ các nhà quản lý cấp cao có hiểu biết về hệ thống đo lường hiệu quả. Phương pháp lấy mẫu có chủ đích được áp dụng để đảm bảo chất lượng dữ liệu. Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài để đạt được số lượng mẫu phù hợp cho phân tích thống kê.

3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu và kiểm định mô hình

Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Mô hình phân tích bao gồm biến độc lập là nhân tố bất định và biến phụ thuộc là hiệu quả kinh doanh. Biến trung gian là mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính và phi tài chính. Kiểm định đa cộng tuyến và tự tương quan được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy kết quả. Phần mềm thống kê chuyên dụng hỗ trợ quá trình phân tích dữ liệu và kiểm định mô hình nghiên cứu.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp sản xuất

Nghiên cứu xác nhận nhân tố bất định có tác động tích cực đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính và phi tài chính. Khi môi trường bất định cao, doanh nghiệp có xu hướng mở rộng hệ thống đo lường đa chiều hơn. Kết quả cũng cho thấy sự phù hợp giữa nhân tố bất định và thước đo ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp duy trì sự phù hợp này đạt kết quả kinh doanh vượt trội hơn so với đối thủ.Ứng dụng thực tiễn cho thấy nhà quản trị cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh hệ thống thước đo. Việc chỉ tập trung vào thước đo tài chính sẽ bỏ sót thông tin quan trọng về hiệu quả phi tài chính. Ngược lại, vận dụng quá nhiều thước đo sẽ tăng chi phí và làm phân tán nguồn lực. Doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam cần xây dựng hệ thống đo lường linh hoạt, thích ứng với biến động môi trường để đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.

4.1. Khuyến nghị cho doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam

Doanh nghiệp sản xuất phía Nam Việt Nam nên xây dựng hệ thống thước đo cân bằng giữa tài chính và phi tài chính. Cần thường xuyên rà soát mức độ phù hợp giữa thước đo và điều kiện môi trường kinh doanh. Đầu tư vào hệ thống thông tin quản lý hỗ trợ thu thập và phân tích dữ liệu đa chiều. Đào tạo nhân viên về cách sử dụng thước đo phi tài chính trong đánh giá hiệu quả. Thiết kế cơ chế phản hồi nhanh để điều chỉnh thước đo khi môi trường thay đổi đột biến.

4.2. Đóng góp và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam về mối quan hệ giữa bất định và tích hợp thước đo. Cách tiếp cận tổng thể được kiểm định phù hợp với bối cảnh doanh nghiệp sản xuất đang phát triển. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang các ngành dịch vụ và thương mại. Nghiên cứu định tính bổ sung sẽ làm sâu sắc hiểu biết về quá trình ra quyết định thước đo. So sánh quốc tế giữa các nước đang phát triển cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tác động của nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính phi tài chính và phía nam việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Giới thiệu Để xác lập khoảng trống nghiên cứu, đầu tiên, tổng quan về hệ thống đo lường HQHĐKD sẽ được trình bày với 2 phần chính gồm: tóm lược các giai đoạn hình thành - phát triển của hệ thống đo lường HQHĐKD và các dòng nghiên cứu liên quan. Kế đến, tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài và tại Việt Nam sẽ được tổng lược. Đối với các nghiên cứu nước ngoài, luận án khái quát tác động của nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo TC - phi TC và ảnh hưởng của sự phù hợp giữa nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo TC – phi TC đến HQHĐKD. Đối với nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả thực hiện tóm lược những nghiên cứu liên quan đến hệ thống đo lường HQHĐKD nói chung và mức độ vận dụng tích hợp thước đo TC - phi tài chính nói riêng.

Qua đó, khoảng trống cần nghiên cứu sẽ được xác lập. Chương này còn nhằm mục đích xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu ở chương 2.1 TÓM LƯỢC CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH – PHÁT TRIỂN VÀ CÁC DÒNG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Tóm lược các giai đoạn hình thành - phát triển của hệ thống đo lường HQHĐKD Hệ thống đo lường HQHĐKD được giới thiệu đầu tiên vào thời đại công nghiệp quay trở lại ở những năm 1960. Vào thời kỳ này, các nhà nghiên cứu tập trung vào phát triển hệ thống kế toán quản trị (KTQT) truyền thống với xu hướng tập trung vào các thước đo TC gồm các kỹ thuật như tính giá thành, lập dự toán truyền thống, phân tích chênh lệch chi phí theo kiểu truyền thống cũng như phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận. Do đó, hệ thống đo lường HQHĐKD truyền thống tập trung vào kiểm soát chi phí và vì vậy được xem là phương tiện để kiểm soát tình hình hoạt động và mục tiêu tài chính doanh nghiệp (Ballantine & Brignall, 1995).

Tuy nhiên, hệ thống đo lường HQHĐKD truyền thống không còn hiệu quả quả trong bối cảnh môi trường kinh doanh biến đổi ngày càng phức tạp như ngày nay. Toàn cầu hoá kinh tế đã làm cho tình hình cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, dẫn đến mối quan tâm của DN có sự chuyển hướng từ đối thủ cạnh tranh sang khách hàng, chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Hệ thống đo lường HQHĐKD có những bước phát triển qua 4 giai đoạn sau: [9] Bảng 1. 1: Các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống đo lường HQHĐKD Giai đoạn Nội dung trọng tâm Kỹ thuật/hệ thống/mô hình/khuôn Được xây dựng và của hệ thống đo mẫu đo lường phát triển bởi lường HQHĐKD Trước 1980 Thước đo TC Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hiện giá thuần, hệ thống kế toán chi phí truyền thống.

- Giá trị kinh tế tăng thêm Những năm Thước đo phi TC bắt đầu được - Hệ thống kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động 1980 quan tâm nhằm tìm kiếm phương thức mới để quy trình - Hệ thống quản trị trên cơ sở trên hoạt động ra quyết định được hiệu quả Những năm Một số hệ thống/mô - Hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ Lynch & Cross (1991); 1990 hình/khuôn mẫu đo lường thuật báo cáo (Strategic Measurement Analysis McNair et al (1990) HQHĐKD được xây dựng và and Reporting Technique) thiết kế - Bảng câu hỏi đo lường HQHĐKD (Performance Dixon et al (1990) measurement Questionnaire) - Ma trận kết quả & quyết định (Results and Fitzgerald et al (1991); Determinants Matrix) Fitzgerald & Moon (1996) - Bảng điểm cân bằng (The Balanced Scorecard) Kaplan & Norton (1992, 1996a) - Hệ thống đo lường HQHĐKD tích hợp Bititci et al (1997, 1998a, b) (Integrated Performance Measurement Systems) Những năm Hệ thống/mô hình/khuôn mẫu - Quy trình đo lư ờng HQHĐKD Cambridge Neely et al (2000); Bourne et 2000 đo lường HQHĐKD được cải (Cambridge Performance Measurement Process) al (2000) tiến - Hệ thống đo lường HQHĐKD năng động Bititci et al (2000) (Dynamic Performance Measurement System) - Bảng đi ểm kinh doanh so sánh (Comparative Kanji & Mours e Sá (2002) Business Scorecard) - Lăng kính HQHĐKD (The Performance Prism) Neely et al (2002) - Hệ thống điểm chuẩn HQHĐKD, phát triển và St-Pierre & Delisle (2006) tăng trưởng (The performance, development and growth benchmarking system) Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước (như Pun & White, 2005; Taticchi, Balachandran & Tonelli, 2012; Lisiecka & Czyż-Gwiazda, 2013; Hasan & Chyi TM, 2017) Như vậy, chúng ta có thể thấy từ những năm 1990 đến nay, hệ thống đo lường HQHĐKD có xu hướng vận dụng tích hợp thước đo phi TC bên cạnh thước đo TC. Những nguyên nhân lý giải cho xu hướng này là do: Hạn chế của thước đo TC (Neely, 1999; Tung, Baird & Schoch, 2011): - Là thước đo thiếu tập trung vào chiến lược; từ đó, không có thước đo đánh giá hiệu quả công việc mà nhân viên đạt được như thế nào để giúp DN đạt chiến lược đặt ra. [10] - Là thước đo phản ảnh kết quả, không phản ảnh nguyên nhân của kết quả. Do đó, nhà quản trị không xác định được điều gì cần làm để đạt mục tiêu.

- Không hướng sự tập trung ra khỏi phạm vi DN, có thể mâu thuẫn với chiến lược DN. - Khuyến khích nhà quản trị thực hiện những hành vi làm tối đa hóa HQHĐKD ngắn hạn tại chi phí của HQHĐKD dài hạn; chẳng hạn, khuyến khích thực hiện hành vi giảm thiểu biến động giữa chi phí thực tế và chi phí mục tiêu thay vì cải tiến liên tục. - Chính xác hơn và kịp thời hơn thước đo TC (Medori & Steeple, 2000) - Thích hợp với mục tiêu dài hạn và chiến lược của tổ chức (Massalla, 1994) - Có thể thay đổi để phù hợp với nhu cầu mới của thị trường, chẳng hạn tăng cường cải tiến thay vì giám sát (Medori & Steeple, 2000) - Hữu ích đối với nhân viên vì hỗ trợ cho họ thực hiện cải tiến liên tục (Banker, Potter & Srinivisan, 2000) Tuy nhiên, các hệ thống đo lường HQHĐKD tích hợp vận dụng thước đo phi TC bên cạnh thước đo TC bên cạnh những ưu điểm đạt được cũng bộc lộ nhiều hạn chế. 1/ Hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ thuật báo cáo Là hệ thống đo lường được xây dựng và phát triển bởi Lynch & Cross (1991) và McNair et al (1990), nhằm chuyển mục tiêu, chiến lược (thường hướng ưu tiên vào khách hàng) từ lãnh đạo cấp cao xuống cho toàn nhân viên bên dưới, thông qua cấu trúc đo lường 4 cấp độ dưới hình thức kim tự tháp gồm: (1) Tầm nhìn DN (sau đó được triển khai thành các mục tiêu); (2) thước đo thị trường, tài chính (nhằm giám sát mục tiêu, chiến lược); (3) thước đo đo lường hướng ưu tiên của DN (sự thoả mãn khách hàng, sự linh hoạt, năng suất lao động); (4) thước đo đo lường hiệu quả hoạt động các bộ phận (chẳng hạn chất lượng, chu kỳ sản xuất, thời gian giao hàng, thiệt hại sản phẩm hỏng).

1: Hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ thuật báo cáo (Lynch & Cross, 1991) Ưu điểm của hệ thống này là giúp DN giám sát hiệu quả hoạt động ở tất cả các cấp tổ chức nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu chiến lược. Bên cạnh đó, hệ thống cũng tích hợp các thước [11] đo đo lường mối quan tâm của cả những người bên ngoài DN (như sự thỏa mãn khách hàng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ) và những người bên trong DN (như năng suất lao động, thiệt hại sản phẩm hỏng, chu trình sản xuất, …) (Lynch & Cross, 1991). Tuy nhiên, hệ thống cũng có nhược điểm là không đưa ra cơ sở nhận diện các thước đo đo lường hiệu quả hoạt động chính (ví dụ chất lượng sản phẩm, thời gian của 1 chu kỳ, thời gian giao hàng, …) cũng như không tích hợp khái niệm cải tiến liên tục (Ghalayini & Noble, 1996; Bourne et al. 2/ Bảng câu hỏi đo lường HQHĐKD Bảng câu hỏi đo lường được xây dựng bởi Dixon et al (1990) - là bảng câu hỏi có cấu trúc được thiết lập nhằm đánh giá tính tương thích của thước đo HQHĐKD với mục tiêu cải tiến của DN.

Từ đó, giúp DN xây dựng hệ thống đo lường HQHĐKD phù hợp với những yếu tố được đánh giá có tầm quan trọng đối với sự thành công của DN. 2: Bảng câu hỏi đo lường kết quả (Dixon et al., 1990) Bảng câu hỏi này rất hữu ích trong việc phản hồi những khu vực nào cần cải tiến (Ghalayini & Noble, 1996) và duy trì sự nhất quán giữa chiến lược, các hành động cải tiến và thước đo cải tiến (Bititci, 2015). Tuy nhiên, nhược điểm của nó là không cung cấp khuôn mẫu cụ thể để thiết kế, xây dựng hệ thống đo lường HQHĐKD đúng nghĩa, chỉ là công cụ đánh giá sự phù hợp của hệ thống (Bititci, 2015). Đồng thời, bảng câu hỏi cũng thiếu sự tham gia của ban lãnh đạo vào quá trình đánh giá (Bourne & Neely, 2003) và cũng gặp phải hạn chế giống hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ thuật báo cáo là không xem trọng khái niệm cải tiến liên tục (Ghalayini & Noble, 1996).

Do vậy, không được xem là hệ thống đo lường HQHĐKD tích hợp toàn diện (Digalwar & Sangwan, 2011). 3/ Ma trận kết quả & quyết định Là hệ thống đo lường HQHĐKD được xây dựng và phát triển bởi Fitzgerald et al (1991) và Fitzgerald & Moon (1996) cho ngành dịch vụ, với 6 loại thước đo HQHĐKD thuộc hai nhóm: 1/ Nhóm kết quả: gồm 2 loại thước đo phản ảnh sự thành công của chiến lược, đó là thước đo hiệu quả cạnh tranh và thước đo hiệu quả TC. [12] 2/ Nhóm quyết định: gồm 4 loại thước đo phản ảnh nhân tố quyết định kết quả cạnh tranh và TC, đó là thước đo chất lượng dịch vụ, sự linh hoạt, kết quả sử dụng nguồn lực và sự đổi mới. Ưu điểm của ma trận kết quả và ra quyết định là đề cập 6 loại thước đo rất cần thiết để xây dựng, thiết kế hệ thống đo lường một cách hiệu quả (Ted and Carol, 2012).

Là mô hình đo lường phản ảnh năng lực cạnh tranh dựa trên thời gian và vì vậy bao gồm các thước đo theo đuổi sứ mệnh cạnh tranh dựa trên thời gian (Neetu, Sushil, & Mahim, 2013). Tuy nhiên, mô hình đo lường không kết hợp các thước đo phi TC khác cũng như thước đo khía cạnh hành vi và các bên hữu quan (Neetu, Sushil, & Mahim, 2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ