Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đoan Trang, thuộc chuyên ngành Kinh tế đầu tư (mã số: 62310105) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc và GS.TS Nguyễn Đình Phan.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau 30 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước chuyển biến nhanh chóng. Tổng sản phẩm trong nước duy trì nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 5,1% đến 9,5% trong giai đoạn từ năm 1988 trở đi. Nền kinh tế chuyển từ trạng thái thu không đủ chi sang có tích lũy; tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP, giá hiện hành) năm 2015 đạt 6.022,2 USD/người. Cùng với quá trình phát triển đó, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được mở rộng và nâng cấp, trong đó đầu tư công giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng và thu hút các nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn của Việt Nam đã làm nảy sinh ba nhóm vấn đề và câu hỏi lớn đối với vai trò của đầu tư công:
- Thứ nhất, đầu tư công duy trì tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (khoảng 35%), song nền kinh tế vẫn tồn tại khoảng cách phát triển đáng kể so với khu vực và thế giới; GDP bình quân đầu người theo PPP năm 2015 chỉ đứng thứ 121 trên thế giới. Cơ cấu sản xuất và xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp; tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại trong khi mô hình tăng trưởng dựa vào thâm dụng vốn đầu tư đã chạm ngưỡng giới hạn.
- Thứ hai, đầu tư công chưa thể hiện rõ nét vai trò dẫn dắt, kích thích đầu tư của khu vực tư nhân; các doanh nghiệp tư nhân trong nước phần lớn có quy mô vừa và nhỏ với năng lực cạnh tranh còn hạn chế.
- Thứ ba, sự xuất hiện của các vụ việc tiêu cực, thất thoát, lãng phí trong quản lý đầu tư công làm dấy lên các tranh luận về mức độ tác động thực tế của nguồn vốn này đối với tăng trưởng kinh tế.
Về mặt học thuật, các công trình quốc tế đã tiếp cận mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế qua nhiều giác độ nhưng phần lớn chỉ phân tích đơn lẻ từng khía cạnh riêng biệt. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả thực trạng, đánh giá riêng rẽ hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, hoặc tiếp cận một chiều. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình đánh giá toàn diện, đồng thời lượng hóa đa chiều các kênh tác động (trực tiếp, gián tiếp, phía cung, phía cầu), xác định ngưỡng tỷ lệ đầu tư công tối ưu trên GDP và đo lường ảnh hưởng của các yếu tố quản trị, phân bổ nguồn lực đối với mối quan hệ này tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tổng kết các cơ sở lý thuyết và mô hình thực nghiệm về đánh giá tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế;
- Đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1995–2016. Mốc thời gian 1995 được lựa chọn do đây là thời điểm bắt đầu một chu kỳ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm mới, đồng thời hệ thống số liệu thống kê quốc gia của Việt Nam bắt đầu được hoàn thiện và có tính đồng bộ cao hơn. Ngoài ra, luận án sử dụng chuỗi số liệu theo quý giai đoạn 2000QI–2016QIV và giai đoạn 2001–2015 cho các mô hình ước lượng chuyên sâu.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam (chuỗi thời gian cấp quốc gia) và cấp độ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dữ liệu mảng cấp địa phương).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai hướng tiếp cận chính: từ phía cầu và từ phía cung của nền kinh tế.
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Nghiên cứu tác động từ phía cầu:
- Lý thuyết số nhân Keynes và hiệu ứng kích thích: Xuất phát từ quan điểm của Keynes về vai trò can thiệp của chính phủ nhằm bù đắp thất bại thị trường. Easterly và Rebelo (1993) sử dụng hồi quy dữ liệu chéo cho 28 quốc gia, chỉ ra hệ số tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế là 0,4 và hệ số tác động tới đầu tư tư nhân đạt gần bằng 1. Xin Wang và Yi Wen (2013) sử dụng mô hình VAR cấu trúc cho Trung Quốc và xác định tác động cấp số nhân của chi tiêu chính phủ đối với GDP nằm trong khoảng 2,7–5,6 ở cấp quốc gia và 2,8–6,5 ở cấp tỉnh, đồng thời tác động cấp số nhân đối với đầu tư tư nhân đạt mức 2,337. Các nghiên cứu khác của Edelberg và cộng sự (1999), Cavallo (2003), Blanchard và Perotti (2002), Perotti (2004) cũng phân tích biến động tiêu dùng và đầu tư tư nhân dưới tác động của chính sách tài khóa.
- Hiệu ứng lấn át (crowding-out): Bairam và Ward (1993) với mẫu 25 quốc gia, Monadjemi (1993) trên dữ liệu của Úc và Mỹ, cùng Kitaoka (2002) tại Nhật Bản đều tìm thấy hệ số âm lớn của đầu tư công trong hàm đầu tư tư nhân rút gọn, khẳng định sự tồn tại của hiệu ứng lấn át. Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2011) ứng dụng mô hình VECM trên chuỗi số liệu 1986–2010 (giá so sánh 1994) chỉ ra rằng mức tăng 1% của đầu tư tư nhân đóng góp 0,33% vào tăng trưởng dài hạn, trong khi đầu tư công chỉ đóng góp 0,23%; đặc biệt, mức tăng 1% của đầu tư công làm đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0,48% sau 10 năm.
- Tác động đến cán cân thương mại: Agénor và cộng sự (2005) phân tích sự gia tăng giá cả nội địa làm giảm tương đối giá hàng nhập khẩu, dẫn đến kích thích nhập khẩu. Jan in 't Veld (2016) sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô cấu trúc QUEST đối với khu vực Eurozone, tính toán rằng việc tăng đầu tư công thêm 1% GDP tại Đức và Hà Lan làm tài khoản vãng lai của hai nước này giảm tương ứng 0,2 và 0,3 điểm phần trăm.
-
Nghiên cứu tác động từ phía cung:
- Hàm sản xuất và tăng trưởng kinh tế: Mô hình Solow (1956) và Swan (1956) đặt tiến bộ công nghệ là biến ngoại sinh; trong khi lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986), Lucas (1988), Barro (1997), Durlauf và Blume (2010) coi tiến bộ kỹ thuật phát sinh nội sinh thông qua tích lũy vốn và hiệu ứng lan tỏa tri thức. Aschauer (1989a) đưa vốn đầu tư công vào hàm Cobb-Douglas mở rộng và tìm thấy độ co giãn sản lượng theo vốn công xấp xỉ 0,35. Ward Romp và Jakob de Haan (2005), Canning và Bennathan (2000), Albala-Bertrand và Mamatzakis (2004), Everaert và Heylen (2004), Charlot và Schmitt (1999) phát triển các dạng hàm log và phi tuyến. Demetriades và Mamuneas (2000) ước lượng dữ liệu mảng 12 nước OECD (1972–1991), ghi nhận tác động ngắn hạn dao động từ 0,36 (Anh) đến 2,06 (Na Uy). Calderon và Serven (2002) ước lượng hàm sản xuất bằng phương pháp biến công cụ cho 101 quốc gia (1960–1997), xác định độ co giãn trung bình của cơ sở hạ tầng là 0,16. Calderón và Servén (2004a, 2004b) sử dụng hệ GMM cho 100 quốc gia (1960–2000), chỉ ra rằng việc cắt giảm chi tiêu hạ tầng làm giảm tốc độ tăng trưởng dài hạn 3 điểm phần trăm/năm tại Argentina, Bolivia, Brazil và từ 1,5–2 điểm phần trăm/năm tại Chile, Mexico, Peru. Canning và Pedroni (1999) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số động nhằm giải quyết vấn đề quan hệ nhân quả hai chiều giữa hạ tầng và thu nhập.
- Tác động đến năng suất lao động: Aschauer (1989b) ước lượng mô hình cho 7 nước G7 giai đoạn 1966–1985, chỉ ra rằng đầu tư công tăng 1% giúp năng suất lao động tăng 0,4%/năm. Andreas Stephan (2003) phân tích 11 bang Tây Đức (1970–1996) khẳng định vốn công giải thích sự khác biệt năng suất ngành chế tạo. Ramirez (2009) áp dụng mô hình đồng tích hợp cho Argentina (1960–2005) khẳng định tác động tích cực của chi đầu tư công có trễ tới năng suất. Các nghiên cứu của Fernald (1999) về hạ tầng đường bộ tại Mỹ, Jones và Williams (1998) về R&D, Mankiw, Romer và Weil (1992) về vốn con người, và Jean-Marc Fournier (2016) trên dữ liệu OECD đều kiểm chứng tác động nâng cao năng suất của vốn công.
- Tác động đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Hulten và Schwab (1984, 1991) ghi nhận mối quan hệ yếu giữa TFP và vốn công. Munnell (1990a, 1990b) tìm thấy độ co giãn của sản lượng là 0,35 trên dữ liệu toàn nước Mỹ nhưng giảm xuống 0,15 khi phân tích cấp bang. Morrison và Schwartz (1994, 1996) chỉ ra hiệu ứng giảm chi phí biên của hạ tầng gần triệt tiêu nếu tính đến chi phí thuế tài trợ. Khan và Kumar (1997) đánh giá các nước đang phát triển giai đoạn 1970–1990, chỉ ra tác động của đầu tư tư nhân tới TFP mạnh hơn và có ý nghĩa thống kê so với đầu tư công. Eliana La Ferrara và Massimiliano Marcellino (2000) phân tích dữ liệu mảng các vùng của Ý (1970–1994), ước lượng hệ số co giãn của TFP theo vốn đầu tư công là 0,47 (có ý nghĩa thống kê ở mức 5%).
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (2012) kết hợp hệ số ICOR, sản phẩm cận biên (MP) từ hàm sản xuất và mô hình VECM, chỉ ra tác động của đầu tư công đến tăng trưởng đạt cực đại vào năm thứ 5 rồi giảm dần, trong khi đầu tư tư nhân giữ vai trò chủ lực trong dài hạn.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án khắc phục tính đơn lẻ của các nghiên cứu trước bằng cách:
- Thiết lập khung phân tích tích hợp 6 kênh tác động bao gồm cả phía cung và phía cầu.
- Sử dụng mô hình VECM để đánh giá đồng thời tác động dài hạn, ngắn hạn và mối quan hệ tương tác giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân và GDP tại Việt Nam.
- Ước lượng ngưỡng đầu tư công tối ưu trên GDP qua mô hình kinh tế lượng.
- Lượng hóa các yếu tố thể chế quản lý, phân bổ vốn và nhu cầu vốn chi phối mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) kết hợp hồi quy.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án phân tích ba quan điểm tiếp cận về đầu tư công:
- Quan điểm theo tiêu chí sở hữu vốn: Quy ước mọi khoản đầu tư sử dụng nguồn vốn của Nhà nước đều là đầu tư công. Điểm hạn chế là mang tính bao cấp, tạo áp lực quá tải lên ngân sách và loại trừ nguồn lực xã hội hóa.
- Quan điểm theo tính lợi nhuận: Coi đầu tư công là các dự án phục vụ cộng đồng phi lợi nhuận. Hạn chế của quan điểm này là không giải thích được các mô hình có sự tham gia của tư nhân vì lợi nhuận kết hợp chia sẻ rủi ro (như hợp tác công tư - PPP).
- Quan điểm theo mục đích đầu tư: Xác định đầu tư công là các chương trình, dự án do Nhà nước chủ trì thực hiện nhằm phục vụ lợi ích công cộng (kết cấu hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội và các dự án phát triển kinh tế - xã hội), không phân biệt nguồn vốn cấu thành. Luận án lựa chọn quan điểm thứ ba làm cơ sở lý luận nền tảng.
Tuy nhiên, do Luật Đầu tư công năm 2014 của Việt Nam quy định vốn đầu tư công gồm vốn ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn tín dụng đầu tư phát triển và các nguồn thu để lại chưa cân đối ngân sách; đồng thời thực tế triển khai các dự án PPP tại Việt Nam đến cuối năm 2016 còn rất hạn chế (chỉ có khoảng 30 dự án PPP thuộc 12 bộ, ngành, địa phương áp dụng Nghị định số 30/2015/NĐ-CP, trong đó 8 dự án chọn được nhà đầu tư), luận án sử dụng chuỗi số liệu thống kê khu vực nhà nước theo luật định để phân tích thực nghiệm.
Khung lý thuyết tổng hợp của luận án bao quát 6 kênh truyền dẫn:
- Phía cầu (dựa trên đồng nhất thức thu nhập quốc dân $GDP = C + G + I + NX$ với $G = GI + GC$):
- Kênh tác động trực tiếp của vốn đầu tư công ($GI$) tới tổng sản phẩm trong nước ($GDP$).
- Kênh tác động gián tiếp thông qua việc kích thích hoặc lấn át đầu tư của khu vực tư nhân ($I$) và tiêu dùng tư nhân ($C$).
- Kênh tác động gián tiếp thông qua xuất nhập khẩu và cán cân thương mại ($NX$).
- Phía cung (dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng $GDP = f(KG, KP, L, TFP)$):
4. Kênh tác động trực tiếp của tích lũy vốn đầu tư công ($KG$) như một yếu tố đầu vào sản xuất tạo ra giá trị gia tăng.
5. Kênh tác động gián tiếp thông qua việc nâng cao năng suất lao động ($L$).
6. Kênh tác động gián tiếp thông qua cải thiện năng suất nhân tố tổng hợp ($TFP$) nhờ hiệu ứng ngoại ứng tích cực từ cơ sở hạ tầng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích tổng hợp và thống kê mô tả: Hệ thống hóa tài liệu, mô tả biến động chuỗi số liệu, tính toán hệ số ICOR toàn nền kinh tế và theo khu vực sở hữu.
- Phương pháp chuyên gia và điều tra khảo sát: Phỏng vấn sâu các chuyên gia và tiến hành điều tra khảo sát cán bộ quản lý tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư nhằm thu thập đánh giá thực tiễn về cơ chế phân cấp, quy trình lập dự án và các rào cản quản lý.
- Phương pháp phân tích định lượng:
- Mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM): Kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test), kiểm định đồng tích hợp Johansen (Johansen Cointegration Test), kiểm định độ trễ tối ưu, phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions) và phân rã phương sai (Variance Decomposition) nhằm làm rõ tương tác động giữa đầu tư công ($IG$), đầu tư tư nhân ($ITN$) và $GDP$.
- Phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS): Ước lượng các phương trình hàm sản xuất, phương trình năng suất lao động và mô hình xác định tỷ lệ đầu tư công tối ưu trên GDP.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu điều tra khảo sát tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư, trích xuất và đo lường trọng số của các nhóm nhân tố quản lý, phân bổ vốn, nhu cầu vốn và xã hội hóa đầu tư.
Nguồn dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp vĩ mô: Chuỗi số liệu GDP, đầu tư công, đầu tư tư nhân, lao động từ Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố giai đoạn 1995–2016 và dữ liệu quý 2000QI–2016QIV (tính theo giá so sánh 2010).
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả phiếu điều tra khảo sát cơ quan quản lý đầu tư công tại các địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Lý luận chung về đầu tư công và tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về đầu tư công:
- Bản chất và đặc điểm: Luận giải đầu tư công dựa trên lý thuyết hàng hóa công cộng (hàng hóa công cộng thuần túy và không thuần túy, có hoặc không có khả năng loại trừ thông qua phí, lệ phí). Nêu bật các đặc trưng chủ yếu: do Nhà nước quyết định quy mô và phân bổ; phục vụ mục tiêu công cộng; gắn với việc hình thành tài sản công; vận hành dưới hệ thống quy định thủ tục pháp lý chặt chẽ; các công trình có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài và phục vụ toàn dân.
- Xu hướng biến động quốc tế và trong nước:
- Quốc tế: Các nền kinh tế phát triển (AEs) giảm tỷ lệ đầu tư công từ 5% GDP (cuối thập niên 1960) xuống khoảng 3% GDP hiện nay (15 nước EU giảm từ trên 4% xuống trên 2% theo Timo Välilä và Aaron Mehrotra, 2005; IMF, 2015). Ngược lại, các nền kinh tế đang nổi (EMs) và đang phát triển thu nhập thấp (LIDCs) sau giai đoạn giảm trong thập niên 1980–2000 đã tăng trở lại mức 6–7% GDP.
- Việt Nam: Trải qua ba giai đoạn chính: trước năm 1986 (100% vốn nhà nước qua cơ chế bao cấp); 1986–2014 (bắt đầu có sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước nhưng tỷ lệ vốn nhà nước vẫn chiếm đa số tuyệt đối); từ 2014 đến nay (áp lực nợ công và ngân sách gia tăng thúc đẩy thu hút nguồn vốn tư nhân qua mô hình PPP).
- Khung lý thuyết tác động và các nhân tố ảnh hưởng: Hệ thống hóa 6 kênh tác động (phía cung và phía cầu) và xác định 5 nhóm nhân tố chi phối mối quan hệ: (1) Cơ chế, chính sách của Chính phủ; (2) Hiệu quả của dự án đầu tư công (NPV, IRR); (3) Phân bổ vốn đầu tư công; (4) Nhu cầu vốn đầu tư công; (5) Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư.
CHƯƠNG 2: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 tổng kết chi tiết các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, đồng thời thiết lập quy trình nghiên cứu:
- Phân tích chi tiết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ phía cầu (Keynes, hiệu ứng lấn át, mô hình QUEST) và phía cung (Aschauer, Canning & Pedroni, Calderon & Serven, Fournier, La Ferrara & Marcellino, Tô Trung Thành, NCIF 2012).
- Trình bày chi tiết cấu trúc các mô hình định lượng ứng dụng trong luận án:
- Quy trình kiểm định chuỗi thời gian: kiểm định tính dừng (ADF test), kiểm định đồng tích hợp Johansen.
- Mô hình VECM với hệ phương trình véc tơ tự hồi quy có số hạng hiệu chỉnh sai số ($ECT_{t-1}$).
- Mô hình hồi quy OLS xác định điểm uốn của hàm bậc hai để tìm tỷ lệ đầu tư công/GDP tối đa hóa tốc độ tăng trưởng.
- Quy trình phân tích EFA trên phần mềm SPSS đối với dữ liệu khảo sát Sở Kế hoạch và Đầu tư.
CHƯƠNG 3: Thực trạng đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995–2016 thông qua các chỉ tiêu thống kê và bảng biểu:
- Tăng trưởng kinh tế: Phân tích tốc độ tăng GDP qua các kỳ kế hoạch 5 năm, cơ cấu kinh tế dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và dịch vụ (Bảng 3.1, Bảng 3.2).
- Quy mô và cơ cấu đầu tư công:
- Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước luôn chiếm khoảng 35–40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Bảng 3.3).
- Nguồn hình thành vốn đầu tư công chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ và vốn vay ODA (Hình 3.3).
- Vốn đầu tư công tập trung lớn vào hạ tầng giao thông vận tải, năng lượng, thủy lợi, y tế và giáo dục (Bảng 3.4, Hình 3.7).
- Hiệu quả đầu tư qua hệ số ICOR:
- Hệ số ICOR của toàn nền kinh tế và khu vực nhà nước giai đoạn 1995–2016 ở mức cao (Bảng 3.5, Bảng 3.6), phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công chưa cao, tình trạng phân tán nguồn vốn, dàn trải và chậm tiến độ còn phổ biến.
- Quản lý nhà nước: Phân tích quy trình lập kế hoạch, lựa chọn dự án, phân cấp quản lý ngân sách và chỉ ra các điểm nghẽn trong phân cấp đầu tư công (Hộp 3.1, Hình 3.8).
| Nhóm chỉ tiêu phân tích thực trạng |
Nội dung và phát hiện chính trong văn bản |
| Quy mô và tỷ trọng vốn |
Khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; tỷ lệ đầu tư công/GDP duy trì ở mức cao so với khu vực. |
| Cơ cấu phân bổ vốn |
Tập trung chủ yếu vào kết cấu hạ tầng kinh tế (giao thông, thủy lợi, năng lượng) và hạ tầng xã hội; vốn ODA và trái phiếu chiếm tỷ trọng đáng kể. |
| Hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) |
Hệ số ICOR khu vực nhà nước cao hơn đáng kể so với khu vực tư nhân và FDI (giá so sánh 2010), phản ánh sự chậm trễ và lãng phí vốn. |
| Quản lý và thể chế |
Bất cập trong phân cấp ngân sách, thẩm định dự án chưa chặt chẽ, tình trạng dàn trải và phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. |
CHƯƠNG 4: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương 4 là chương trọng tâm chứa đựng các kết quả tính toán định lượng của luận án:
- Kiểm định tính dừng và đồng tích hợp (Bảng 4.1, 4.3, 4.6, 4.7): Chuỗi số liệu GDP và đầu tư công ($IG$) dạng quý giai đoạn 2000QI–2016QIV không dừng ở chuỗi gốc nhưng dừng ở sai phân bậc nhất $I(1)$ và tồn tại quan hệ đồng tích hợp dài hạn.
- Kết quả mô hình VECM và phân tích tác động phía cầu (Bảng 4.2, 4.4, 4.8, Hình 4.4):
- Đầu tư công có tác động dương có ý nghĩa thống kê tới tăng trưởng GDP trong dài hạn.
- Phân tích hàm phản ứng xung cho thấy cú sốc từ đầu tư công có tác động thúc đẩy đầu tư tư nhân trong ngắn hạn nhưng có thể gây hiệu ứng lấn át nhất định ở một số giai đoạn tùy thuộc vào điều kiện tín dụng và chính sách tài khóa.
- Tác động phía cung và năng suất lao động (Bảng 4.9, 4.10, 4.11): Ước lượng hàm sản xuất và phương trình năng suất lao động khẳng định sự đóng góp tích cực của vốn đầu tư công vào gia tăng sản lượng và cải thiện năng suất lao động của các địa phương.
- Ước lượng tỷ lệ đầu tư công tối ưu (Bảng 4.12): Lượng hóa tỷ lệ vốn đầu tư công trên GDP tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam qua từng thời kỳ trong giai đoạn 2001–2015, làm cơ sở khoa học để xác định giới hạn quy mô chi tiêu vốn công.
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng (EFA và Hồi quy - Bảng 4.13, 4.14):
- Xử lý dữ liệu điều tra khảo sát các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Kết quả hồi quy xác định mức độ tác động của các nhân tố tới mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế: Nhân tố Quản lý đầu tư công có tác động mạnh nhất; nhân tố Nhu cầu vốn đầu tư công có tác động lớn thứ hai; nhân tố Phân bổ vốn đầu tư công có tác động lớn thứ ba.
- Biến số Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư chưa thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê trong mô hình thực nghiệm do tỷ trọng vốn tư nhân tham gia các dự án công cộng thời kỳ này còn quá nhỏ.
CHƯƠNG 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách
Chương 5 tổng hợp các kết luận rút ra từ các mô hình và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Tóm tắt kết quả về tác động tích cực của đầu tư công, mức độ lấn át, tỷ lệ đầu tư công tối ưu và thứ tự tác động của các nhân tố thể chế quản lý.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách:
- Hoàn thiện khung khổ thể chế và nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư công từ khâu thẩm định, phê duyệt đến giám sát thực hiện.
- Tối ưu hóa quy mô và cơ cấu phân bổ vốn đầu tư công, bám sát ngưỡng tối ưu theo từng thời kỳ, tránh đầu tư dàn trải.
- Đổi mới cơ chế phân cấp ngân sách giữa Trung ương và địa phương, gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát nợ công.
- Hoàn thiện cơ chế khuyến khích và chia sẻ rủi ro nhằm đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư công theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã hệ thống hóa, chuẩn hóa và làm rõ nội hàm khái niệm đầu tư công; phân tích ưu nhược điểm của ba quan điểm tiếp cận về đầu tư công (theo sở hữu vốn, theo mục tiêu lợi nhuận, theo mục đích đầu tư), khẳng định tính đúng đắn của cách tiếp cận theo mục đích đầu tư phục vụ cộng đồng và mở đường cho xã hội hóa.
- Tổng quan toàn diện cơ sở lý luận và các mô hình thực nghiệm quốc tế và trong nước, xây dựng khung phân tích tích hợp 6 kênh tác động từ cả phía cung và phía cầu.
Đóng góp rút ra từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm
- Lượng hóa tác động tổng thể: Luận án chứng minh và lượng hóa được tác động tích cực của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2016.
- Làm rõ các kênh truyền dẫn: Tách bạch và lượng hóa được cả tác động trực tiếp và gián tiếp của đầu tư công tới tổng cầu, đầu tư tư nhân, sản lượng và năng suất lao động.
- Xác định tỷ lệ đầu tư công tối ưu: Lượng hóa thành công ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu của Việt Nam cho từng năm và từng thời kỳ trong giai đoạn 2001–2015, cung cấp căn cứ định lượng xác định quy mô đầu tư hợp lý.
- Cảnh báo bất ổn vĩ mô từ nợ công: Chỉ ra rằng việc vay nợ quá mức để tài trợ cho các dự án đầu tư công trong điều kiện hiệu quả vi mô thấp sẽ dẫn đến bất ổn kinh tế vĩ mô và làm suy giảm tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn.
- Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thể chế: Xác lập thứ tự tác động của các yếu tố chi phối mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam:
- Quản lý đầu tư công (tác động lớn nhất);
- Nhu cầu vốn đầu tư công (tác động lớn thứ hai);
- Phân bổ vốn đầu tư công (tác động lớn thứ ba);
- Đồng thời chứng minh nhân tố Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư chưa có bằng chứng tác động có ý nghĩa thống kê do thực tế triển khai PPP còn hạn chế.
- Lý giải tính tích cực trong bối cảnh quản lý thấp: Chỉ ra rằng do nhu cầu vốn đầu tư phát triển hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu còn rất lớn, đầu tư công vẫn mang lại tác động tích cực đáng kể tới tăng trưởng kinh tế dù hiệu quả công tác quản lý còn nhiều hạn chế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế kỹ thuật và phạm vi dữ liệu:
- Luận án không lượng hóa được toàn bộ 6 kênh tác động đã đề xuất trong khung lý thuyết mà chỉ lượng hóa được 4/6 kênh tác động do hạn chế về nguồn số liệu và nguồn lực nghiên cứu.
- Đối với kênh tác động tới cán cân thương mại: Việc đánh giá đòi hỏi phải xây dựng các mô hình cân bằng tổng thể đa quốc gia hoặc mô hình kinh tế lượng vĩ mô có cấu trúc phức tạp với nguồn dữ liệu và tài chính lớn, vượt quá phạm vi và nguồn lực của một luận án tiến sĩ.
- Đối với kênh tác động tới năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Chưa thực hiện được do thiếu hụt chuỗi số liệu thống kê về tích lũy vốn đầu tư công; việc tính toán vốn tích lũy cấp tỉnh để xác định TFP có độ phức tạp cao và độ tin cậy chưa đảm bảo.
Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khi chuỗi số liệu về vốn tích lũy công được chuẩn hóa ở cấp địa phương, ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE hoặc QUEST mở rộng) để lượng hóa đầy đủ tác động của đầu tư công tới cán cân thương mại và TFP.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và các Sở Kế hoạch và Đầu tư tại các địa phương có thể tham khảo kết quả ước lượng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu và kết quả đánh giá thứ tự tác động của công tác quản lý, phân bổ vốn để điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn (MTEF).
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Chuyên ngành Kinh tế đầu tư, Kinh tế phát triển, Tài chính công và Kinh tế học có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp mô hình VECM chuỗi thời gian vĩ mô, hàm sản xuất OLS cấp tỉnh và phân tích nhân tố khám phá EFA từ dữ liệu khảo sát thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng quan điểm nào để định nghĩa đầu tư công và tại sao lại dùng dữ liệu vốn nhà nước để tính toán?
Luận án lựa chọn quan điểm tiếp cận theo mục đích đầu tư (coi đầu tư công là các dự án do Nhà nước chủ trì phục vụ lợi ích công cộng, không phân biệt nguồn vốn) vì quan điểm này cho phép mở rộng xã hội hóa và huy động vốn tư nhân qua mô hình PPP. Tuy nhiên, trong phân tích thực nghiệm, tác giả sử dụng chuỗi số liệu đầu tư công theo Luật Đầu tư công 2014 (gồm ngân sách và vốn vay nhà nước) do thực tế tại Việt Nam đến hết năm 2016, nguồn vốn tư nhân tham gia vào các dự án công theo Nghị định 30 còn rất nhỏ (mới có khoảng 30 dự án thực hiện lựa chọn nhà đầu tư và 8 dự án chọn được nhà đầu tư).
2. Khung lý thuyết của luận án đưa ra bao nhiêu kênh tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế và lượng hóa được bao nhiêu kênh?
Khung lý thuyết đưa ra 6 kênh tác động: 3 kênh phía cầu (trực tiếp tới GDP, gián tiếp qua đầu tư tư nhân, gián tiếp qua cán cân thương mại) và 3 kênh phía cung (trực tiếp tới sản lượng, gián tiếp qua năng suất lao động, gián tiếp qua TFP). Luận án lượng hóa được 4 kênh (trực tiếp GDP, đầu tư tư nhân, sản lượng và năng suất lao động); 2 kênh chưa lượng hóa được do hạn chế số liệu và mô hình là cán cân thương mại và TFP.
3. Kết quả phân tích nhân tố ảnh hưởng (EFA) chỉ ra yếu tố nào tác động mạnh nhất đến mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng?
Kết quả phân tích định lượng xác định yếu tố Quản lý đầu tư công có mức độ tác động lớn nhất, tiếp theo là Nhu cầu vốn đầu tư công (lớn thứ hai), và Phân bổ vốn đầu tư công (lớn thứ ba). Yếu tố Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trong mẫu khảo sát.
4. Tại sao đầu tư công ở Việt Nam vẫn mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế dù công tác quản lý còn nhiều hạn chế?
Luận án chỉ ra rằng do kết cấu hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu (1995–2016) còn thiếu hụt lớn, nhu cầu vốn đầu tư công là rất cấp thiết. Hiệu suất biên của vốn đầu tư hạ tầng ban đầu ở mức cao, do đó nguồn vốn này vẫn tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tích cực mặc dù hiệu quả quản lý đầu tư công chưa cao.
5. Luận án đã sử dụng các mô hình kinh tế lượng và phần mềm nào để phân tích dữ liệu?
Luận án sử dụng mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) với các kiểm định nghiệm đơn vị và đồng tích hợp Johansen để phân tích chuỗi thời gian quý giai đoạn 2000QI–2016QIV; phương pháp hồi quy OLS để ước lượng hàm sản xuất, năng suất lao động và tỷ lệ đầu tư công tối ưu; và phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu điều tra khảo sát tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Kết luận
Luận án "Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Đoan Trang là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu thuộc chuyên ngành Kinh tế đầu tư, kết hợp phương pháp luận kinh tế học với các kỹ thuật phân tích định lượng VECM, OLS và EFA. Tác giả đã chứng minh đầu tư công đóng vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1995–2016, đồng thời lượng hóa được tỷ lệ đầu tư công tối ưu trên GDP và xác định vai trò quyết định của nhân tố quản lý đầu tư công. Các phát hiện và khuyến nghị chính sách trong luận án cung cấp căn cứ khoa học cụ thể phục vụ công tác tái cơ cấu đầu tư công, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.