Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam - Luận án TS Nguyễn Thị Kim Chung

Phân tích chuyên sâu luận án tiến sĩ về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

243
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam

Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án thuộc danh mục đầu tư công theo Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14. Nguồn vốn đầu tư công bao gồm ngân sách nhà nước, vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ, vai trò của đầu tư công ngày càng được nhấn mạnh như một công cụ quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chung (2021) tại Học viện Ngân hàng đã phân tích toàn diện mối quan hệ giữa đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam. Kết quả cho thấy đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ gây áp lực lạm phát. Các công trình hạ tầng giao thông, năng lượng, thủy lợi đóng góp đáng kể vào năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công phụ thuộc nhiều vào cơ chế quản lý, phân bổ nguồn lực và giám sát triển khai dự án. Việc cân bằng giữa thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát luôn là bài toán chính sách quan trọng đối với các nhà hoạch định.

1.1. Khái niệm đầu tư công theo pháp luật Việt Nam

Theo khoản 15, điều 4 Luật Đầu tư công 2019, đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án đầu tư công. Đối tượng đầu tư công bao gồm: đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; đầu tư của Nhà nước tham gia dự án theo phương thức đối tác công tư; đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch. Vốn đầu tư công là vốn ngân sách nhà nước và vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Khung pháp lý này tạo cơ sở vững chắc cho việc quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn công trong nền kinh tế.

1.2. Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế

Đầu tư công tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau. Thứ nhất, đầu tư vào kết cấu hạ tầng giảm chi phí giao thông, logistics, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thứ hai, đầu tư công tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu vực được hưởng lợi từ hạ tầng mới. Thứ ba, đầu tư vào giáo dục, y tế nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng tuyến tính. Khi đầu tư công vượt quá ngưỡng tối ưu, hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân có thể xảy ra, làm giảm hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề của đầu tư công tại Việt Nam

Thực tế triển khai đầu tư công tại Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Tình trạng giải ngân chậm, dự án treo, đội vốn vẫn phổ biến ở nhiều địa phương. Theo số liệu thống kê giai đoạn 2010-2020, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công hàng năm thường đạt dưới mức kế hoạch, đặc biệt ở các dự án trọng điểm quốc gia. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công chưa cao. Nhiều dự án hạ tầng sau khi hoàn thành không phát huy được tác dụng như kỳ vọng, gây lãng phí nguồn lực nhà nước. Về tác động đến lạm phát, nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách kích cầu đầu tư kéo dài đã tạo ra chênh lệch lớn giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm so với GDP. Giai đoạn 2007-2008, mức chênh lệch này ở mức cao, là nguyên nhân chính khiến chính sách kích cầu năm 2009 không những không thúc đẩy tăng trưởng mà còn gây mất ổn định các biến số vĩ mô như lạm phát, nhập siêu, nợ công. Huỳnh Bửu Sơn (2010) nhận định chính sách tài khóa nới lỏng kéo dài và lãng phí trong đầu tư công là tác nhân chính gây ra lạm phát tại Việt Nam.

2.1. Thực trạng giải ngân và hiệu quả đầu tư công

Giải ngân vốn đầu tư công tại Việt Nam luôn là vấn đề nan giải qua nhiều năm. Nguyên nhân chính bao gồm: vướng mắc trong thủ tục bồi thường giải phóng mặt bằng, quy trình đấu thầu phức tạp, năng lực quản lý dự án hạn chế ở nhiều địa phương. Nhiều dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần, dẫn đến đội vốn và kéo dài thời gian thi công. Tình trạng đầu tư dàn trải, phân bổ vốn cho quá nhiều dự án nhỏ lẻ cũng làm giảm hiệu quả tập trung nguồn lực. Hệ quả là cơ sở hạ tầng phát triển không đồng bộ, không đáp ứng kịp nhu cầu tăng trưởng kinh tế ở các vùng trọng điểm.

2.2. Tác động của đầu tư công đến lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Mối quan hệ giữa đầu tư công và lạm phát được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Han và Mulligan (2008) phát hiện bằng chứng cho thấy lạm phát có mối liên hệ chặt chẽ và cùng chiều với quy mô chi tiêu của chính phủ. Tại Việt Nam, Nguyễn Đức Độ (2014) sử dụng mô hình định lượng chỉ ra rằng khi tỷ lệ đầu tư/GDP vượt quá xa so với tỷ lệ tiết kiệm/GDP sẽ làm lạm phát gia tăng bất chấp tốc độ tăng trưởng suy giảm. Giai đoạn 2009-2011, lạm phát tăng vọt lên hai con số phần lớn do áp lực từ chính sách kích cầu đầu tư. Becker và Mulligan (2003) lại tìm thấy tương quan trái chiều giữa chi tiêu chính phủ và lạm phát ở một số quốc gia phát triển, cho thấy bối cảnh kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng tác động.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công

Nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát đòi hỏi phương pháp định lượng chặt chẽ. Luận án của Nguyễn Thị Kim Chung áp dụng các mô hình kinh tế lượng tiên tiến như VAR (Vector Autoregression), VECM (Vector Error Correction Model) và phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments) để phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các biến số. Dữ liệu sử dụng bao gồm chuỗi thời gian GDP, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư công, tỷ lệ tiết kiệm quốc gia trong giai đoạn 1990-2020. Về giải pháp, nghiên cứu đề xuất cần tái cơ cấu đầu tư công theo hướng tập trung vào các dự án có hiệu quả lan tỏa cao. Việc tăng cường giám sát, minh bạch hóa quy trình đấu thầu và quản lý dự án là then chốt. Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế đánh giá tác động của từng dự án đầu tư công đến mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát trước khi phê duyệt. Chính sách tài khóa nên được phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ để đạt mục tiêu kép: tăng trưởng bền vững và ổn định giá cả.

3.1. Phương pháp kinh tế lượng áp dụng trong nghiên cứu

Phương pháp VAR và VECM được sử dụng để phân tích mối quan hệ động giữa đầu tư công, tăng trưởng GDP và lạm phát. Mô hình VAR cho phép kiểm nghiệm phản ứng của các biến số trước các cú sốc chính sách, từ đó đánh giá tác động lan tỏa của đầu tư công theo thời gian. Phương pháp GMM giúp giải quyết vấn đề nội sinh trong mô hình hồi quy, đảm bảo tính nhất quán của các hệ số ước lượng. Kiểm định nhân quả Granger được áp dụng để xác định hướng tác động giữa các biến số. Các phép thử ổn định như ADF và PP đảm bảo tính dừng của chuỗi thời gian trước khi đưa vào mô hình.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công và kiểm soát lạm phát

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục đầu tư theo hướng ưu tiên các dự án hạ tầng chiến lược có hiệu ứng lan tỏa lớn. Thứ hai, tăng cường năng lực quản lý dự án tại các địa phương thông qua đào tạo và chuyển giao công nghệ quản lý. Thứ ba, xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư công theo tiêu chuẩn quốc tế. Về kiểm soát lạm phát, cần phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, duy trì tỷ lệ đầu tư công/GDP ở mức hợp lý, không vượt quá khả năng huy động tiết kiệm quốc gia. Việc phát triển thị trường trái phiếu chính phủ cũng giúp giảm áp lực tài trợ từ nguồn phát hành tiền.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu đầu tư công tại Việt Nam

Nghiên cứu đã chứng minh rằng đầu tư công có tác động tích cực nhưng không tuyến tính đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Ở mức độ hợp lý, đầu tư công thúc đẩy GDP thông qua nâng cấp hạ tầng, cải thiện năng suất lao động và thu hút đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, khi vượt ngưỡng tối ưu, đầu tư công trở thành gánh nặng cho ngân sách và gây áp lực lạm phát đáng kể. Kết quả nghiên cứu phù hợp với các phát hiện quốc tế của Han và Mulligan (2008) về mối liên hệ giữa chi tiêu công và lạm phát.Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở nhiều khía cạnh. Đối với các nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xác định quy mô đầu tư công tối ưu, cân nhắc mối đánh đổi giữa tăng trưởng và ổn định giá cả. Đối với các nhà nghiên cứu, luận án mở ra hướng tiếp cận mới khi phân tích đồng thời hai kênh tác động của đầu tư công.Đề xuất chính sách quan trọng bao gồm: xây dựng ngưỡng đầu tư công an toàn theo tỷ lệ GDP, tăng cường minh bạch ngân sách, và hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư trước và sau triển khai dự án.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án tiến sĩ về đầu tư công

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Chung có nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học tài chính ngân hàng tại Việt Nam. Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ ba chiều giữa đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi. Thứ hai, áp dụng phương pháp kinh tế lượng hiện đại với dữ liệu dài hạn, cho phép đánh giá chính xác mối quan hệ nhân quả và độ trễ tác động. Thứ ba, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm cụ thể về ngưỡng đầu tư công tối ưu cho Việt Nam, giúp bổ sung vào kho tài liệu học thuật về chính sách tài khóa ở các nước đang phát triển.

4.2. Khuyến nghị chính sách cho quản lý đầu tư công hiệu quả

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị chính sách được đề xuất. Về ngắn hạn, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt tại các dự án trọng điểm quốc gia. Về trung hạn, xây dựng cơ chế sàng lọc dự án dựa trên phân tích chi phí-lợi ích, ưu tiên các dự án có hiệu quả kinh tế xã hội cao. Về dài hạn, hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư công, tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và người dân. Cần thiết lập ngưỡng nợ công và tỷ lệ đầu tư công/GDP an toàn. Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt để đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững đi đôi với kiểm soát lạm phát ở mức một con số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Theo World Bank, “Đầu tƣ công là khoản chi tiêu công giúp làm tăng thêm t ch lũy vốn vật chất. Tổng đầu tƣ công bao gồm đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng vật chất do chính phủ trung ƣơng, ch nh quyền địa phƣơng và các công ty thuộc khu vực công thực hiện”. Trong khi đó, OECD cho rằng đầu tƣ công đƣợc định nghĩa và đo lƣờng khác nhau giữa các nƣớc, nhƣng nhìn chung muốn nói đến đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng vật chất (đƣờng giao thông, tòa nhà chính phủ, v.) và cơ sở hạ tầng mềm (ví dụ nhƣ hỗ trợ cho đổi mới, nghiên cứu và phát triển, v.) với thời gian sử dụng hữu ích kéo dài trên một năm.

Đầu tƣ công luôn đƣợc xem là một trong những công cụ tài khóa của Ch nh phủ, để tác động đến hệ thống kinh tế nhằm tối đa hóa phúc lợi kinh tế với mục tiêu ch nh là k ch th ch tăng trƣởng kinh tế dài hạn (Tanzi và Zee, 1997). Có thể nói đầu tƣ công là một trong những ch nh sách quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia nói chung, đặc biệt rất quan trọng với những nƣớc đang phát triển. Chi tiêu của Chính phủ sẽ bao gồm 2 bộ phận: Chi cho nhu cầu của chính bản thân Chính phủ (và việc thực hiện những chức năng có t nh bản chất của Chính phủ), và chi cho các biện pháp mà Chính phủ thực hiện để can thiệp vào thị trƣờng. Trong các khoản chi tiêu này, đầu tƣ công là những khoản chi có tác dụng kép: Một mặt, bản thân nó là những khoản tiêu dùng, trực tiếp làm tăng tổng cầu của xã hội.

Mặt khác, nó k ch th ch đầu tƣ tƣ nhân thông qua hiệu ứng lan tỏa do nhu cầu tăng sẽ kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tƣ của các nhà kinh doanh. Thông qua tác động kép này, đầu tƣ công sẽ thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Đầu tƣ công có cả tác động trực tiếp và tác động gián tiếp tới tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế thông qua những tác động tới các yếu tố khác trong nền kinh tế. Tác động của đầu tƣ công tới tăng trƣởng kinh tế từ phía cầu đƣợc xuất phát từ quan điểm của trƣờng phái Keynes.

Theo Keynes, thị trƣờng không bao giờ hoạt động hoàn hảo nên cần có sự can thiệp của Chính phủ để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, k ch th ch đầu tƣ để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập. 2 Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam đƣợc khởi xƣớng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào năm 1986. Trải qua 35 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bƣớc tiến vƣợt bậc vƣơn lên trở thành một trong những nƣớc có nền kinh tế phát triển nhất khu vực Châu Á. Quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng, GDP năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001.

Tốc độ tăng GDP tƣơng đối cao, bình quân năm trong giai đoạn 2001-2010 tăng 7,26%, đạt xấp xỉ tốc độ tăng 7,56%/năm của Chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 1991-2000, đây là một thành tựu phát triển kinh tế rất quan trọng của đất nƣớc ta trong giai đoạn này. Trong giai đoạn 2011-2019, GDP tăng 6,3%/năm, trong đó năm 2018 tăng 7,08% và là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008. Quy mô GDP tăng gấp 2,4 lần, từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD vào năm 2020. GDP bình quân đầu ngƣời tăng từ 1.331 USD năm 2010 lên khoảng 2.

Những kết quả trên của Việt Nam có đƣợc trƣớc hết là sự đóng góp của quá trình đầu tƣ công. Tuy nhiên bên cạnh thành công về phát triển kinh tế thì việc kiềm chế lạm phát ở mức an toàn luôn là vấn đề mà chính phủ Việt Nam quan tâm hàng đầu. Vào năm 1999 và 2 năm đầu thế kỷ 21, tỷ lệ lạm phát của nƣớc ta rất thấp. Thực tế, năm 1999, 2000, 2001, tốc độ tăng CPI chỉ ở mức rất thấp chỉ dừng lại ở mức 1 con số.

Thậm ch năm 2000 còn giảm phát khi tỷ lệ lạm phát -0,6%. Hai năm 2002 và 2003, lạm phát tăng trở lại nhƣng không quá cao. Năm 2002, với tỷ lệ lạm phát là 4%, năm 2003 là 3%. Tuy nhiên trong giai đoạn 2004 – 2009 thì lạm phát ở Việt Nam luôn duy trì ở mức cao, duy trì ở mức 10%.

Trong 3 năm đầu thời kỳ này, lạm phát tăng mạnh hơn hẳn so với thời kỳ trƣớc dù vẫn chỉ dừng lại ở 1 con số, cụ thể là: năm 2004 tỷ lệ lạm phát là 9,5% (tăng 216,7% so với 2003), năm 2005 là 8,4% và năm 2006 là 6,6%. Tuy vậy, trƣớc tình hình đó, nƣớc ta đã không có những giải pháp thỏa đáng. Vì lẽ đó, năm 2007 và 2008, lạm phát của nƣớc ta đã tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng vọt lên mức 2 con số. Cụ thể là lạm phát đã đạt ngƣỡng 2 con số lần lƣợt là 12,36% và 24,4% vào các năm 2007 và 2008.

Nguyên nhân là do cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu thô tăng cao, giá cả lƣơng thực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhƣợc 3 điểm cố hữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Sau đó, nhờ những nổ lực kịp thời trong các chính sách kinh tế trong đó có ch nh sách về đầu tƣ công mà Chính phủ đã bình ổn đƣợc lạm phát, đƣa nó về một con số 7% vào năm 2009. Thời kỳ 2010-2019, nhờ áp dụng đồng bộ các chính sách tiền tệ trong đó có việc kiểm soát chặt chẽ ch nh sách đầu tƣ công và tài khóa, cùng với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, gia tăng hàng xuất khẩu, lạm phát đƣợc duy trì ổn định ở mức một con số và có xu hƣớng giảm. Tác động của đầu tƣ công đến lạm phát hoặc tăng trƣởng chƣa rõ ràng trong 1 số giai đoạn nhƣ giai đoạn 1995-2019, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam có nhiều biến động.

Trong đó, những năm có tỷ lệ lạm phát ở mức hai con số rơi vào giai đoạn năm 1995, giai đoạn 2007-2008. Trong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tƣ, công tác quy hoạch chƣa thật sự hiệu quả sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực vẫn còn lỏng lẻo. Các căn cứ xây dựng kế hoạch đầu tƣ công trung hạn, kế hoạch đầu tƣ công hàng năm chƣa đƣợc xây dựng phù hợp với thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam việc kêu gọi và thu hút đầu tƣ từ các tổ chức kinh tế và ngƣời dân còn chƣa đƣợc triên khai đồng bộ. Theo kết quả phân tích thực trạng đầu tƣ công và tăng trƣởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2019 cho thấy, tốc độ tăng trƣởng của đầu tƣ công của một số năm vẫn còn cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nhất là ở những giai đoạn năm 1996, 1998-2000, năm 2017.

Hệ số ICOR của vốn đầu tƣ công/GDP của giai đoạn 2006 – 2016 vẫn còn cao hơn so với giai đoạn 1996 – 2005. Mặc dù hệ số ICOR của đầu tƣ công nằm ở mức < 3, tuy nhiên ICOR của tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội giai đoạn 2007 – 2019 lại > 6, trong khi chỉ tiêu ICOR đƣợc đề ra cho giai đoạn 2015-2020 tối đa là 5 (Theo Chiến lƣợc Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020). Và vốn đầu tƣ công lại chiếm tỷ lệ chủ đạo trong cấu thành tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, hiệu quả của đầu tƣ công trong giai đoạn này vẫn chƣa đem lại hiệu quả cao cho tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam.

Đầu tƣ công của Việt Nam vừa có tác dụng định hƣớng, vừa có tác dụng thu hút các nguồn vốn khác cùng góp phần đầu tƣ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của 4 các ngành sản xuất kinh doanh, phát triển các lĩnh vực hoạt động xã hội và nâng cao tiềm lực của các vùng kinh tế trong cả nƣớc cùng phát triển vì những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Chƣơng trình đầu tƣ công thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, và là đối tƣợng quan trọng của công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân kìm chế lạm phát. Tuy nhiên t nh đến thời điểm hiện tại thì chƣa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế và lạm phát của việt nam trong giai đoạn 5 năm trở lại đây. Đầu tƣ công có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không kiểm soát tốt đầu tƣ công thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế và đẩy lạm phát tăng cao.

Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa đó tác giả đã chọn đề tài “Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở t m” làm luận án. Với mục đ ch nghiên cứu, đồng thời tìm hiểu một cách sâu sắc về thực trạng đầu tƣ công của Việt Nam trong 25 năm qua, từ năm 1995-2019 và tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế và cả tác động của đầu tƣ công đến lạm phát trong nƣớc. Chƣa có nghiên cứu trong nƣớc thực hiện đồng thời cả hai khía cạnh này. Ngoài ra, nghiên cứu thêm về các bài học kinh nghiệm trong sử dụng, quản lý vốn đầu tƣ công của một số quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng.

Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để giúp đầu tƣ công có hiệu quả đồng thời kích thích tăng trƣởng kinh tế hiệu quả, bền vững trong giai đoạn mới. Mục tiêu nghiên cứu  c t u c ung Phân t ch sự tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam. Từ đó đề xuất các giải pháp để phát huy hiệu quả chi đầu tƣ công và đạt mục tiêu tăng trƣởng kinh tế và kiểm soát lạm phát trong thời gian tới.  ct uc t : - Phân t ch, đánh giá đƣợc kinh nghiệm một số nƣớc điển hình về tác động của đầu tƣ công với tăng trƣởng kinh tế và lạm phát, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm của Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ