MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Trong nhiều thập kỷ qua, những tiến bộ không ngừng trong công nghệ đã tạo ra những dịch chuyển mang tính chuyển đổi lớn trong phương thức hoạt động của nền kinh tế toàn cầu, trong đó có cả cách thức mà hàng hóa, sản phẩm dịch vụ và tài sản được trao đổi. Một trong những sự phát triển quan trọng trong quá trình này là sự xuất hiện của tiền điện tử với nhiều lợi ích tiềm năng phù hợp với xu thế số hóa, trong đó có việc nâng cao tốc độ và hiệu quả thanh toán, đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy tài chính toàn diện. Tuy nhiên, chúng cũng đồng thời gây ra những rủi ro đáng kể cho cộng đồng tài chính nói riêng và xã hội nói chung khi là những phương tiện tiềm năng để rửa tiền, tài trợ khủng bố, trốn thuế và lừa đảo.
Đồng thời, chúng cũng có thể gây hại cho hiệu quả của chính sách tiền tệ và sự ổn định tài chính khi các sản phẩm này không được quản lý hiệu quả và người sử dụng không hiểu đúng bản chất của sản phẩm. Chính vì vậy, mặc dù xuất hiện từ những năm 1980 tại Nhật Bản, châu Âu và được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, tuy nhiên, tiền điện tử chỉ thực sự bắt đầu được sử dụng rộng rãi và nhận diện trên toàn thế giới từ những năm 2000 với sự thành công của các cơ chế tiền di động tại châu Phi, và sự lan rộng các hình thức ví điện tử tại châu Á. Các khuôn khổ quản lý đối với tiền điện tử cũng bắt đầu được xây dựng đầy đủ với nhiều khía cạnh cụ thể tại nhiều quốc gia và trở thành chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm. Cụ thể, tại một số quốc gia, tiền điện tử đã được đưa vào quy định quản lý trong Luật các hệ thống thanh toán (hoặc tương đương), và/hoặc hướng dẫn thi hành chi tiết trong các văn bản dưới Luật như Thông tư hay chỉ thị với những quy định về khái niệm tiền điện tử (hoặc thuật ngữ tương đương), đối tượng phát hành tiền điện tử (loại hình tổ chức, điều kiện cấp phép), quy định về bảo vệ tiền của khách hàng tiền điện tử, quy định về phòng, chống rửa tiền và quy định về chế độ báo cáo, thống kê.
Trong đó, cho đến nay, tại nhiều quốc gia, các vấn đề liên quan đến bảo vệ tiền của khách hàng tiền điện tử vẫn tiếp tục được quan tâm, nghiên cứu với nhiều góc độ, quan điểm khác nhau, và vẫn còn nhiều vướng mắc đang được đặt ra; các vấn đề về phòng, chống rửa tiền vẫn tiếp tục được nghiên cứu, khuyến nghị; các quy định về đối tượng phát hành tiền điện tử tùy theo khẩu vị từng quốc gia có những mô hình khác nhau, dần dần được nới lỏng hơn ở một số nước theo thời gian. Tại Việt Nam, các sản phẩm tiền điện tử đã tồn tại dưới các hình thức thẻ trả trước ngân hàng, các sản phẩm ví điện tử, và gần đây mới bắt đầu triển khai thí điểm dịch vụ tiền di động (mobile money). So với các nước, tiền điên tử ở Việt Nam chưa có lịch sử lâu dài, vì vậy, khuôn khổ quản lý cho lĩnh vực này mặc dù 2 đã hình thành nhưng vẫn còn ở các bước đầu xây dựng, thí điểm và điều chỉnh, hoàn thiện dần. Các quy định này nằm trong các văn bản khác nhau đối với từng loại hình sản phẩm như các quy định về thẻ ngân hàng (đối với thẻ trả trước), quy định về dịch vụ trung gian thanh toán (đối với ví điện tử) và mới quyết định thí điểm thực hiện (đối với tiền di động).
Để phù hợp với xu hướng phát triển chung của tiền điện tử trên thế giới, xu thế số hóa nền kinh tế trong đó có việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và góp phần thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, việc nghiên cứu, ban hành các quy định liên quan đến tiền điện tử để tạo hành lanh pháp lý cho loại hình sản phẩm này tồn tại và phát triển tại Việt Nam vẫn liên tục được quan tâm. Trong khi đó, các nghiên cứu được công bố về quản lý tiền điện tử tại Việt Nam còn khá hạn chế. Với những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Quản lý tiền điện tử tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận án tiến sỹ nhằm cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn từ một góc nhìn khách quan cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam, góp phần phát triển thị trường tiền điện tử phù hợp với nhu cầu, xu hướng của nền kinh tế số, thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện, hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho người sử dụng và sự phát triển lành mạnh của thị trường. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu 2.
Tổng quan nghiên cứu Với những diễn biến và tiềm năng phát triển như trên, sự phát triển của tiền điện tử hiện nay luôn thu hút sự quan tâm của không chỉ các nhà kinh tế mà cả các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới để hiểu và có cách thức ứng xử phù hợp. Các công trình nghiên cứu về tiền điện tử hiện nay khá đa dạng, dưới hình thức các văn bản nghiên cứu/ đánh giá chính sách, các tài liệu kỹ thuật hay khuyến nghị của các tổ chức đa quốc gia, các tổ chức tài chính tiền tệ như EU, IMF, BIS…; các hiệp hội ngành nghề, các quỹ hỗ trợ như AFI, GSMA, CGAP, Bill &Melinda Gates Foundation…; hay các nghiên cứu, đánh giá của NHTW các nước, và các trường đại học. Liên quan đến việc quản lý tiền điện tử, các nghiên cứu hiện có đề cập tới các vấn đề sau: 2. Nhận diện tiền điện tử và phân loại các sản phẩm tiền điện tử Tiền điện tử và các thuật ngữ liên quan cũng như cách thức phân loại các loại hình tiền điện tử đã được khá nhiều tài liệu đề cập đến.
Tuy nhiên, tùy theo quốc gia, tùy theo mục tiêu nghiên cứu, mà các thuật ngữ này còn chưa hoàn toàn có một sự thống nhất xuyên suốt trong cách sử dụng. Cụ thể: (i) Về việc sử dụng khái niệm tiền điện tử (electronic money) và các thuật ngữ liên quan khác. 3 Theo IMF (2016), tiền kỹ thuật số (digital currency) là thuật ngữ chung để ám chỉ các đồng tiền được hiện diện dưới hình thức số hóa, trong đó có hai loại là tiền ảo (virtual currrencies) - là tiền kỹ thuật số không được niêm yết bằng đồng tiền pháp định và tiền điện tử (electronic money) - là tiền kỹ thuật số được niêm yết bằng đồng tiền pháp định. Tiền ảo lại được phân thành hai nhóm là có khả năng chuyển đổi và không có khả năng chuyển đổi sang hàng hóa dịch vụ và tiền thực (chẳng hạn như các đồng tiền sử dụng trong các trò chơi online, dặm bay…).
Trong nhóm có khả năng chuyển đổi, chia làm hai loại là tiền ảo phi tập trung và tiền ảo tập trung (tương ứng với việc có cơ quan trung ương quản lý như Webmoney). Ngoài ra, cũng có cơ chế lai giữa hai cơ chế này – một số chức năng được thực hiện bởi một đơn vị trung tâm, một số khác do các thành viên thị trường thực hiện (chẳng hạn như đồng Ripple). Tiền ảo có khả năng chuyển đổi sang hàng hóa, dịch vụ, tiền thực với cơ chế phi tập trung sử dụng công nghệ mã hóa để xác thực hình thành nên nhóm tiền mã hóa (cryptocurrency). Trong khi đó, cũng là một trong các tổ chức có nhiều nghiên cứu liên quan đến tiền kỹ thuật số, Ủy ban Thanh toán và Cơ sở hạ tầng thị trường (CPMI) thuộc BIS thường xuyên nhắc tới 2 thuật ngữ “e – money - tiền điện tử”, “digital currencies - tiền kỹ thuật số” với cách cách hiểu có sự khác biệt nhỏ so với các tài liệu của IMF.
Trong Danh mục thuật ngữ sử dụng trong hệ thống thanh toán và quyết toán của CPMI/BIS, tiền điện tử là “giá trị được lưu trữ dưới hình thức điện tử trong một thiết bị như thẻ chip hay ổ cứng trong một máy tính cá nhân”. Danh mục thuật ngữ sử dụng trong hệ thống thanh toán và quyết toán của CPMI/BIS chưa đề cập tới thuật ngữ tiền kỹ thuật số (digital currency), tuy nhiên trong các tài liệu nghiên cứu được phát hành chính thức của CPMI/BIS như BIS (2015), BIS (2018), tiền kỹ thuật số được hiểu thống nhất là các loại tiền tồn tại ở dạng điện tử nhưng không được công nhận về mặt pháp lý, và theo đó tiền điện tử theo nghĩa mở rộng sẽ bao gồm cả tiền điện tử theo nghĩa hẹp của CPMI và tiền kỹ thuật số (tiền điện tử không được không công nhận về mặt pháp lý). Như vậy, thuật ngữ về tiền điện tử và thuật ngữ liên quan khác như tiền kỹ thuật số, tiền ảo được sử dụng và đề cập tới trong một số tài liệu của IMF và BIS có một số sai khác nhất định. Tiếp tục tìm hiểu về các thuật ngữ này trong các văn bản pháp lý hoặc các hướng dẫn của các tổ chức công quyền tại một số quốc gia cũng nhận thấy, thuật ngữ “tiền điện tử” (electronic money hay e-money) được đề cập tới trong nhiều văn bản chính sách pháp luật tại các nước do tiền điện tử đã phát triển từ đầu những năm 1990s.
Tuy nhiên nếu xem xét kỹ lưỡng nội hàm của thuật ngữ này khi được sử dụng tại các khu vực pháp lý khác nhau như EU, Hoa Kỳ thì có sự khác nhau nhất định trong cách sử dụng thuật ngữ này. Nếu như Mỹ dùng thuật 4 ngữ e-money cho cả các loại tiền ảo như Bitcoin (tương tự như BIS) thì tại khu vực châu Âu, e-money và bitcoin là 2 đối tượng khác nhau (tương tự như IMF). Tương tự, trong nhiều tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “tiền điện tử” đôi khi được sử dụng để ám chỉ tất cả các hình thái ở dạng điện tử của tiền và giá trị, trong đó có cả tiền ảo như Bitcoin hay thẻ quà tặng và các sản phẩm lưu trữ giá trị khác (MIT, 2016). Do vậy, việc dịch thuật đơn thuần thuật ngữ “e-money” trong mọi văn bản thành “tiền điện tử”, nếu không thận trọng có thể gây hiểu nhầm và có khả năng gây nhiễu khi so sánh để nghiên cứu áp dụng cho Việt Nam.
(ii) Về việc nhận diện và phân loại các sản phẩm tiền điện tử Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các loại hình sản phẩm tiền điện tử ngày càng đa dạng hơn so với khi mới ra đời.