Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý nghiên cứu khoa học tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích giáo dục quản lý nghiên cứu khoa học tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

224
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý nghiên cứu khoa học tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ giáo dục (CSBD CBQLGD). Nghiên cứu đã tổng quan các công trình liên quan đến quản lý NCKH trong và ngoài nước, từ đó đưa ra nhận định về tình hình nghiên cứu hiện tại. NCKH tại các CSBD CBQLGD được định nghĩa là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Luận án cũng phân tích các khái niệm liên quan như quản lý giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, và quản lý khoa học, đồng thời đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của NCKH.

1.1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý NCKH

Phần này trình bày các nghiên cứu về quản lý NCKH trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu nước ngoài tập trung vào việc áp dụng các mô hình quản lý hiện đại, trong khi các nghiên cứu trong nước nhấn mạnh vào thực trạng và thách thức trong quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD. Nhận định chung cho thấy, việc quản lý NCKH tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

1.2. Khái niệm và nội dung NCKH tại CSBD CBQLGD

Luận án định nghĩa CSBD CBQLGD là các cơ sở có chức năng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục. NCKH tại các cơ sở này bao gồm các hoạt động nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý giáo dục. Nội dung NCKH được chia thành các đề tài cấp cơ sở, quy trình thực hiện, và quản lý kết quả nghiên cứu.

II. Thực trạng quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD

Luận án tiến hành khảo sát thực trạng quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD thông qua các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như điều tra, phỏng vấn, và phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy, mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của NCKH đã được nâng cao, nhưng việc thực hiện và quản lý các đề tài NCKH còn nhiều bất cập. Các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý NCKH cũng được phân tích chi tiết.

2.1. Khái quát về các CSBD CBQLGD

Phần này mô tả sự phát triển, chức năng, và nhiệm vụ của các CSBD CBQLGD. Các cơ sở này có vai trò quan trọng trong việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, đồng thời thực hiện các hoạt động NCKH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

2.2. Thực trạng quản lý đề tài NCKH cấp cơ sở

Luận án chỉ ra rằng, việc quản lý các đề tài NCKH cấp cơ sở tại các CSBD CBQLGD còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong quy trình thực hiện và áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Các yếu tố như thiếu nguồn lực, cơ chế quản lý chưa hiệu quả, và thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

III. Giải pháp quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD. Các giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao vai trò của chủ thể quản lý, và phát triển mối quan hệ giữa các bên liên quan. Luận án cũng tiến hành khảo nghiệm và thực nghiệm các giải pháp đề xuất để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

3.1. Định hướng các giải pháp

Các giải pháp được đề xuất nhằm góp phần thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN và Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020. Luận án nhấn mạnh việc ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ NCKH phục vụ công tác quản lý giáo dục và giảng dạy tại các CSBD CBQLGD.

3.2. Các giải pháp cụ thể

Ba giải pháp chính được đề xuất bao gồm: (1) Nâng cao vai trò, trách nhiệm của chủ thể quản lý thông qua việc hoàn thiện cơ chế, chính sách; (2) Hoàn thiện quy trình thực hiện đề tài NCKH cấp cơ sở; (3) Phát triển mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và các bên liên quan. Các giải pháp này được khảo nghiệm và thực nghiệm tại Học viện Quản lý giáo dục để đảm bảo tính khả thi.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý nghiên cứu khoa học tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý NCKH 1. Nghiên cứu quản lý NCKH ở nước ngoài Về cách xác định và chọn vấn đề nghiên cứu: Hầu như các nước phát triển mạnh mẽ về KH&CN đã chuyển các nhiệm vụ nghiên cứu thành các đề tài, đề án hoặc chương trình dài hạn và quản lý thống nhất theo một quy trình được công bố công khai, ổn định. [18, 48] Các tiêu chuẩn để xác định và lựa chọn vấn đề nghiên cứu bao gồm: - Mục tiêu, nội dung và kế hoạch nghiên cứu phải rõ ràng.

- Phương pháp nghiên cứu phải chứng tỏ được tính khả thi. - Kết quả nghiên cứu trong những năm trước. - Danh sách các bài báo, tạp chí đã công bố trong 5 năm của từng thành viên. - Các thành viên chính của đề tài phải nêu rõ đã làm các đề tài nào, nhận bao nhiêu tiền và kết quả được đánh giá ra sao.

Ở Nhật quy định: Tháng 10 hằng năm nộp đề cương. Xét chọn đề cương trong 6 tháng và cuối tháng 4 năm sau kết quả xét chọn được công bố. Về phân bổ và quản lý kinh phí: Mô hình thứ nhất: Hằng năm, Chính phủ có một Hội đồng (bao gồm phần lớn các thành viên là những người được biệt phái từ các Bộ, các tổ chức nghiên cứu và các công ty nghiên cứu) thực hiện nhiệm vụ đánh giá các đề tài và các chương trình và Chính phủ giao cho một Bộ chịu trách nhiệm phân bổ kinh phí cho các đề tài và chương trình đã được Hội đồng của Chính phủ (như nói ở trên) xếp loại. 20 Đại diện tiêu biểu của mô hình này là Nhật Bản (Hội đồng của Chính phủ mang tên Hội đồng Chính sách KH&CN.

Bộ Tài chính được giao phân bổ kinh phí). [18, 48] Ở Nhật, một phần lớn kinh phí KH&CN của mỗi Bộ nhận từ Nhà nước lại được giao cho một số tổ chức và Viện nghiên cứu thực hiện; Có quy định lĩnh vực ưu tiên về KH&CN. Mô hình thứ hai: Một tổ chức hoạt động độc lập chuyên làm nhiệm vụ “đặt hàng” và “mua” kết quả nghiên cứu. Tổ chức này còn chịu trách nhiệm đấu thầu, phân bổ và quản lý kinh phí KH&CN từ các nguồn (của cả Nhà nước và tư nhân).

Đại diện tiêu biểu của mô hình này là Newzealand (tổ chức chịu trách nhiệm đấu thầu, phân bổ và quản lý kinh phí KH&CN ở Newzealand là Quỹ nghiên cứu KH&CN) [48]. Cách xác định, lựa chọn đề tài nghiên cứu và phân bổ kinh phí KH&CN ở Newzealand giúp tránh được sự chồng chéo giữa các cơ quan cấp vốn, đảm bảo sự chủ động và thích ứng của các viện nghiên cứu, định hướng được các quá trình nghiên cứu theo chương trình lớn từ trên xuống dưới và thể hiện thành các sản phẩm cụ thể ngay từ đầu để phối hợp đầu tư (thường ngân sách Nhà nước đầu tư cho các bước đi ban đầu, khi nghiên cứu chỉ mang tính lý thuyết và vốn của doanh nghiệp được tập trung đầu tư vào giai đoạn cuối gắn với ứng dụng thực tiễn). Về đánh giá KQNC: Ở các trường đại học ở Nhật Bản, cuối mỗi năm tài chính, trong các báo cáo của người nghiên cứu phải thể hiện được danh sách các bài báo, các bằng sáng chế. đã được công bố trong thời gian nghiên cứu.

[18, 48] Với các đề tài nhỏ và vừa, khi đánh giá, chủ yếu là quan tâm đến các bài báo của người nghiên cứu được đăng trên Tạp chí quốc tế hoặc trong Hội nghị hàng đầu thuộc chuyên ngành. [18, 48] 21 Với các đề tài lớn, sau 2 năm nghiên cứu, sẽ được đánh giá xếp loại. Sau đó, các đề tài được xử lý: Hoặc là được tiếp tục nghiên cứu và giữ nguyên kinh phí; Hoặc là được tiếp tục nghiên cứu và giảm/tăng kinh phí; Hoặc là ngừng không được nghiên cứu tiếp. [18, 48] Trên cơ sở một số chỉ số thống kê phản ánh năng lực KH&CN và đổi mới, bao gồm: Công bố khoa học (số bài báo công bố quốc tế, chủ đề nghiên cứu, số lần được trích dẫn), chỉ số kinh tế tri thức, chỉ số nhân tài toàn cầu và chỉ số sáng tạo toàn cầu (do Cục Thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia, Bộ KH&CN xuất bản năm 2011 [24]), có thể thấy: Hai nước Philipin và Indonesa là hai nước có điều kiện về năng lực KH&CN tương đối giống Việt Nam.

Công bố quốc tế tính trên triệu dân (gọi là năng suất nghiên cứu quốc gia) có tương quan chặt chẽ với bình quân GDP và Chỉ số Phát triển con người (HDI), do đó, chúng có thể được sử dụng như các tiêu chí thể hiện trình độ phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia [Phạm Duy Hiển. So sánh năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á dựa trên các công bố quốc tế và bài học rút ra cho Việt Nam. Tương quan mạnh giữa năng suất nghiên cứu quốc gia với bình quân GDP (Dữ liệu năm 2004) 22 Ở Philipin, Bộ KH&CN là cơ quan chủ chốt trong việc phát triển chính sách được điều phối bởi hàng loạt các hội đồng ngành. Kế hoạch KH&CN Quốc gia 2002-2020 đặt ra chiến lược trước mắt và lâu dài để thu được những lợi ích lớn hơn từ đầu tư vào khoa học.

Trọng tâm chiến lược được đặt vào tăng chỉ tiêu nghiên cứu và phát triển quốc gia lên tới 2% GDP vào năm 2020 và tăng gấp đôi tỷ lệ đầu tư nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp. Trọng tâm chiến lược còn hướng vào việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ, cải thiện các chỉ số phát triển con người, phổ biến KH&CN và mở rộng mạng lưới khoa học [24, tr 168]. Ở Indonesia, Bộ Nghiên cứu và Công nghệ chịu trách nhiệm chính về chính sách KH&CN. Trong năm 2005, Bộ này đã công bố tầm nhìn 20 năm, trong đó KH&CN là “động lực chính“ cho sự thịnh vượng bền vững.

Bốn chương trình khoa học chủ chốt được xác định phát triển trong giai đoạn 2005-2009 là: 1). Nghiên cứu và Phát triển; 2). Phổ biến và sử dụng KH&CN; 3). Xây dựng năng lực thể chế; 4).

Nâng cao năng lực công nghiệp của KH&CN [24, tr 164]. Các chỉ số giữa 3 nước Việt Nam, Philipin và Indonesia (ba nước được coi là các nước có năng suất nghiên cứu quốc gia chưa cao trong khu vực Đông Á) có mặt Việt Nam nổi trội như [24, tr 216 đến 221]: Công nghệ thông tin-truyền thông; Chỉ số sáng tạo toàn cầu; Nhân lực và nghiên cứu trong trụ cột nhân lực và nghiên cứu; Đại học trong trụ cột nhân lực và nghiên cứu; Trụ cột hạ tầng; Hạ tầng chung trong trụ cột hạ tầng; Sự tinh xảo thị trường trong trụ cột tinh xảo thị trường; Thương mại và cạnh tranh trong trụ cột tinh xảo thị trường; Tín dụng trong trụ cột tinh xảo thị trường; Sự tinh xảo kinh doanh trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Tiếp thu tri thức trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Kết quả khoa học trong trụ cột các kết quả khoa học; Tác động của tri thức trong trụ cột các kết quả khoa học; Kết quả sáng tạo trong trụ cột các kết quả sáng tạo; Hàng hóa và dịch vụ sáng tạo trong trụ cột các kết quả sáng tạo. Cũng trong so sánh ba mước Việt Nam, Philipin và Indonesia, có những chỉ số Việt Nam cần phấn đấu, ví dụ như [24, tr 212 đến 221]: Chỉ số kinh tế tri thức; Chỉ số tri thức; Kích thích kinh tế và định chế tổ chức; Đổi mới 23 sáng tạo; Giáo dục; Môi trường chính trị trong trụ cột thể chế; Đầu tư trong trụ cột tinh xảo thị trường; Lao động tri thức trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Liên kết sáng tạo trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Sáng tạo tri thức trong trụ cột kết quả khoa học; Phổ biến tri thức trong trụ cột kết quả khoa học; Sáng tạo vô hình trong trụ cột kết quả sáng tạo; Chỉ số nhân tài toàn cầu. Việt Nam được đánh giá là nước có năng suất nghiên cứu quốc gia chưa cao.

Nhìn vào kết quả các chỉ số đánh giá ở các nước cùng hạng và các nước ở hạng trên về năng suất nghiên cứu quốc gia, một cách vĩ mô, có thể khẳng đinh: Để có thể nâng cấp năng suất nghiên cứu, Việt Nam cần phải quan tâm đến Chiến lược phát triển KH&CN, trong đó, tập trung để nâng cao chỉ số “Chỉ số kinh tế tri thức (KEI)“ và trước mắt phải cải thiện được chỉ số tri thức (KI). Chỉ số KEI là trung bình đơn giản của các giá trị/biến số được chuẩn hóa (1. Tăng trưởng GDP hàng năm; 2. Chỉ số phát triển con người; 3.

Tỷ lệ biết chữ; 4. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; 5. Trình độ điều hành quản lý; 6. Sở hữu trí tuệ; 8.

Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển trên GDP; 9. Số bài báo khoa học; 10. Sáng chế được cấp; 11. Số máy tính trên 1.000 người dân; 12.

Số điện thoại trên 1.000 người dân). KEI đo lường năng lực của 4 trụ cột của kinh tế tri thức, bao gồm: 1. Khuyến khích/kích thích kinh tế và thể chế tổ chức; 2. Giáo dục và đào tạo; 3.

Đổi mới sáng tạo và tiếp thu công nghệ; 4. Hạ tầng Công nghệ thông tin – Truyền thông. KI đo năng lực của trụ cột thứ 2, 3 và 4 như đã trình bày ở trên. Nghiên cứu quản lý NCKH ở Việt Nam Có một số tác giả đã nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý NCKH như: Tác giả Hoàng Thị Nhị Hà (2009), với tên luận án là: “Quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học sư phạm” [31]; Tác giả Lê Yên Dung (2010), với tên luận án: “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” [25]; Tác giả Nguyễn Phúc Châu (Học viện Quản lý giáo dục), với đề tài NCKH cấp Bộ: “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động KH&CN của các trường Cán bộ Quản lý GD&ĐT”, mã số B2006-29.10 [21]; Tác giả Trần Khánh Đức (Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục), với đề tài NCKH cấp Bộ trọng điểm: “Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học giai đoạn 1996-2000”, mã số B2001-52-TĐ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ: Quản Lý Nghiên Cứu Khoa Học Tại Các Cơ Sở Bồi Dưỡng Cán Bộ Giáo Dục là một nghiên cứu chuyên sâu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng cán bộ giáo dục. Luận án tập trung vào việc phân tích các mô hình quản lý, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, và đóng góp vào sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, nghiên cứu viên, và những người quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục và nghiên cứu khoa học, bạn có thể tham khảo thêm Danh mục luận văn luận án chuyên ngành giáo dục học và quản lý giáo dục đại học quốc gia thành phố hồ chí minh, cung cấp nhiều tài liệu chuyên sâu về chủ đề này. Ngoài ra, Luận văn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở việt nam cũng là một tài liệu liên quan, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs mang đến góc nhìn về phương pháp giáo dục hiệu quả, bổ sung kiến thức cho chủ đề quản lý và đào tạo.