Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý NCKH tại các CSBD CBQLGD 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý NCKH 1. Nghiên cứu quản lý NCKH ở nước ngoài Về cách xác định và chọn vấn đề nghiên cứu: Hầu như các nước phát triển mạnh mẽ về KH&CN đã chuyển các nhiệm vụ nghiên cứu thành các đề tài, đề án hoặc chương trình dài hạn và quản lý thống nhất theo một quy trình được công bố công khai, ổn định. [18, 48] Các tiêu chuẩn để xác định và lựa chọn vấn đề nghiên cứu bao gồm: - Mục tiêu, nội dung và kế hoạch nghiên cứu phải rõ ràng.
- Phương pháp nghiên cứu phải chứng tỏ được tính khả thi. - Kết quả nghiên cứu trong những năm trước. - Danh sách các bài báo, tạp chí đã công bố trong 5 năm của từng thành viên. - Các thành viên chính của đề tài phải nêu rõ đã làm các đề tài nào, nhận bao nhiêu tiền và kết quả được đánh giá ra sao.
Ở Nhật quy định: Tháng 10 hằng năm nộp đề cương. Xét chọn đề cương trong 6 tháng và cuối tháng 4 năm sau kết quả xét chọn được công bố. Về phân bổ và quản lý kinh phí: Mô hình thứ nhất: Hằng năm, Chính phủ có một Hội đồng (bao gồm phần lớn các thành viên là những người được biệt phái từ các Bộ, các tổ chức nghiên cứu và các công ty nghiên cứu) thực hiện nhiệm vụ đánh giá các đề tài và các chương trình và Chính phủ giao cho một Bộ chịu trách nhiệm phân bổ kinh phí cho các đề tài và chương trình đã được Hội đồng của Chính phủ (như nói ở trên) xếp loại. 20 Đại diện tiêu biểu của mô hình này là Nhật Bản (Hội đồng của Chính phủ mang tên Hội đồng Chính sách KH&CN.
Bộ Tài chính được giao phân bổ kinh phí). [18, 48] Ở Nhật, một phần lớn kinh phí KH&CN của mỗi Bộ nhận từ Nhà nước lại được giao cho một số tổ chức và Viện nghiên cứu thực hiện; Có quy định lĩnh vực ưu tiên về KH&CN. Mô hình thứ hai: Một tổ chức hoạt động độc lập chuyên làm nhiệm vụ “đặt hàng” và “mua” kết quả nghiên cứu. Tổ chức này còn chịu trách nhiệm đấu thầu, phân bổ và quản lý kinh phí KH&CN từ các nguồn (của cả Nhà nước và tư nhân).
Đại diện tiêu biểu của mô hình này là Newzealand (tổ chức chịu trách nhiệm đấu thầu, phân bổ và quản lý kinh phí KH&CN ở Newzealand là Quỹ nghiên cứu KH&CN) [48]. Cách xác định, lựa chọn đề tài nghiên cứu và phân bổ kinh phí KH&CN ở Newzealand giúp tránh được sự chồng chéo giữa các cơ quan cấp vốn, đảm bảo sự chủ động và thích ứng của các viện nghiên cứu, định hướng được các quá trình nghiên cứu theo chương trình lớn từ trên xuống dưới và thể hiện thành các sản phẩm cụ thể ngay từ đầu để phối hợp đầu tư (thường ngân sách Nhà nước đầu tư cho các bước đi ban đầu, khi nghiên cứu chỉ mang tính lý thuyết và vốn của doanh nghiệp được tập trung đầu tư vào giai đoạn cuối gắn với ứng dụng thực tiễn). Về đánh giá KQNC: Ở các trường đại học ở Nhật Bản, cuối mỗi năm tài chính, trong các báo cáo của người nghiên cứu phải thể hiện được danh sách các bài báo, các bằng sáng chế. đã được công bố trong thời gian nghiên cứu.
[18, 48] Với các đề tài nhỏ và vừa, khi đánh giá, chủ yếu là quan tâm đến các bài báo của người nghiên cứu được đăng trên Tạp chí quốc tế hoặc trong Hội nghị hàng đầu thuộc chuyên ngành. [18, 48] 21 Với các đề tài lớn, sau 2 năm nghiên cứu, sẽ được đánh giá xếp loại. Sau đó, các đề tài được xử lý: Hoặc là được tiếp tục nghiên cứu và giữ nguyên kinh phí; Hoặc là được tiếp tục nghiên cứu và giảm/tăng kinh phí; Hoặc là ngừng không được nghiên cứu tiếp. [18, 48] Trên cơ sở một số chỉ số thống kê phản ánh năng lực KH&CN và đổi mới, bao gồm: Công bố khoa học (số bài báo công bố quốc tế, chủ đề nghiên cứu, số lần được trích dẫn), chỉ số kinh tế tri thức, chỉ số nhân tài toàn cầu và chỉ số sáng tạo toàn cầu (do Cục Thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia, Bộ KH&CN xuất bản năm 2011 [24]), có thể thấy: Hai nước Philipin và Indonesa là hai nước có điều kiện về năng lực KH&CN tương đối giống Việt Nam.
Công bố quốc tế tính trên triệu dân (gọi là năng suất nghiên cứu quốc gia) có tương quan chặt chẽ với bình quân GDP và Chỉ số Phát triển con người (HDI), do đó, chúng có thể được sử dụng như các tiêu chí thể hiện trình độ phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia [Phạm Duy Hiển. So sánh năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á dựa trên các công bố quốc tế và bài học rút ra cho Việt Nam. Tương quan mạnh giữa năng suất nghiên cứu quốc gia với bình quân GDP (Dữ liệu năm 2004) 22 Ở Philipin, Bộ KH&CN là cơ quan chủ chốt trong việc phát triển chính sách được điều phối bởi hàng loạt các hội đồng ngành. Kế hoạch KH&CN Quốc gia 2002-2020 đặt ra chiến lược trước mắt và lâu dài để thu được những lợi ích lớn hơn từ đầu tư vào khoa học.
Trọng tâm chiến lược được đặt vào tăng chỉ tiêu nghiên cứu và phát triển quốc gia lên tới 2% GDP vào năm 2020 và tăng gấp đôi tỷ lệ đầu tư nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp. Trọng tâm chiến lược còn hướng vào việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ, cải thiện các chỉ số phát triển con người, phổ biến KH&CN và mở rộng mạng lưới khoa học [24, tr 168]. Ở Indonesia, Bộ Nghiên cứu và Công nghệ chịu trách nhiệm chính về chính sách KH&CN. Trong năm 2005, Bộ này đã công bố tầm nhìn 20 năm, trong đó KH&CN là “động lực chính“ cho sự thịnh vượng bền vững.
Bốn chương trình khoa học chủ chốt được xác định phát triển trong giai đoạn 2005-2009 là: 1). Nghiên cứu và Phát triển; 2). Phổ biến và sử dụng KH&CN; 3). Xây dựng năng lực thể chế; 4).
Nâng cao năng lực công nghiệp của KH&CN [24, tr 164]. Các chỉ số giữa 3 nước Việt Nam, Philipin và Indonesia (ba nước được coi là các nước có năng suất nghiên cứu quốc gia chưa cao trong khu vực Đông Á) có mặt Việt Nam nổi trội như [24, tr 216 đến 221]: Công nghệ thông tin-truyền thông; Chỉ số sáng tạo toàn cầu; Nhân lực và nghiên cứu trong trụ cột nhân lực và nghiên cứu; Đại học trong trụ cột nhân lực và nghiên cứu; Trụ cột hạ tầng; Hạ tầng chung trong trụ cột hạ tầng; Sự tinh xảo thị trường trong trụ cột tinh xảo thị trường; Thương mại và cạnh tranh trong trụ cột tinh xảo thị trường; Tín dụng trong trụ cột tinh xảo thị trường; Sự tinh xảo kinh doanh trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Tiếp thu tri thức trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Kết quả khoa học trong trụ cột các kết quả khoa học; Tác động của tri thức trong trụ cột các kết quả khoa học; Kết quả sáng tạo trong trụ cột các kết quả sáng tạo; Hàng hóa và dịch vụ sáng tạo trong trụ cột các kết quả sáng tạo. Cũng trong so sánh ba mước Việt Nam, Philipin và Indonesia, có những chỉ số Việt Nam cần phấn đấu, ví dụ như [24, tr 212 đến 221]: Chỉ số kinh tế tri thức; Chỉ số tri thức; Kích thích kinh tế và định chế tổ chức; Đổi mới 23 sáng tạo; Giáo dục; Môi trường chính trị trong trụ cột thể chế; Đầu tư trong trụ cột tinh xảo thị trường; Lao động tri thức trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Liên kết sáng tạo trong trụ cột tinh xảo kinh doanh; Sáng tạo tri thức trong trụ cột kết quả khoa học; Phổ biến tri thức trong trụ cột kết quả khoa học; Sáng tạo vô hình trong trụ cột kết quả sáng tạo; Chỉ số nhân tài toàn cầu. Việt Nam được đánh giá là nước có năng suất nghiên cứu quốc gia chưa cao.
Nhìn vào kết quả các chỉ số đánh giá ở các nước cùng hạng và các nước ở hạng trên về năng suất nghiên cứu quốc gia, một cách vĩ mô, có thể khẳng đinh: Để có thể nâng cấp năng suất nghiên cứu, Việt Nam cần phải quan tâm đến Chiến lược phát triển KH&CN, trong đó, tập trung để nâng cao chỉ số “Chỉ số kinh tế tri thức (KEI)“ và trước mắt phải cải thiện được chỉ số tri thức (KI). Chỉ số KEI là trung bình đơn giản của các giá trị/biến số được chuẩn hóa (1. Tăng trưởng GDP hàng năm; 2. Chỉ số phát triển con người; 3.
Tỷ lệ biết chữ; 4. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; 5. Trình độ điều hành quản lý; 6. Sở hữu trí tuệ; 8.
Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển trên GDP; 9. Số bài báo khoa học; 10. Sáng chế được cấp; 11. Số máy tính trên 1.000 người dân; 12.
Số điện thoại trên 1.000 người dân). KEI đo lường năng lực của 4 trụ cột của kinh tế tri thức, bao gồm: 1. Khuyến khích/kích thích kinh tế và thể chế tổ chức; 2. Giáo dục và đào tạo; 3.
Đổi mới sáng tạo và tiếp thu công nghệ; 4. Hạ tầng Công nghệ thông tin – Truyền thông. KI đo năng lực của trụ cột thứ 2, 3 và 4 như đã trình bày ở trên. Nghiên cứu quản lý NCKH ở Việt Nam Có một số tác giả đã nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý NCKH như: Tác giả Hoàng Thị Nhị Hà (2009), với tên luận án là: “Quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học sư phạm” [31]; Tác giả Lê Yên Dung (2010), với tên luận án: “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” [25]; Tác giả Nguyễn Phúc Châu (Học viện Quản lý giáo dục), với đề tài NCKH cấp Bộ: “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động KH&CN của các trường Cán bộ Quản lý GD&ĐT”, mã số B2006-29.10 [21]; Tác giả Trần Khánh Đức (Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục), với đề tài NCKH cấp Bộ trọng điểm: “Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học giai đoạn 1996-2000”, mã số B2001-52-TĐ.