CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE PHONG TRÀO ĐÔ THỊ VA TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE PHONG TRAO ĐÔ THI SAI GON - GIA ĐỊNH TRONG CHIEN TRANH 1. Một số khái niệm học thuật Trong quá trình nghiên cứu về PTĐT SG - GD giai đoạn 1965-1975, có một số khái niệm học thuật có liên quan cần được quan tâm làm rõ, bao gồm: Đô thị, Vùng chiến lược đô thị, PTĐT. - Đô thị Đô thị hay vùng đô thị (urban area) là khái niệm đã được các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất, được dùng để chỉ những nơi có sự tập trung đông dân cư sinh sống bằng các nghề phi nông nghiệp hoặc nông nghiệp phát triển. Theo Tôn Nữ Quỳnh Trân và cộng sự thì đô thị hình thành do quá trình định cư và tăng dan số hoặc là do nông nghiệp phát triển đưa đến sự hình thành hình thái tập trung dân cư với các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp (Tôn Nữ Quỳnh Trân, cb, 2010, tr.
Trong Tiếng Việt, có nhiều từ để biểu đạt khái niệm đô thị như đô thị, thành thị, thành phó, thị xã, thị tran,. với đặc điểm chung là bao gồm hai yêu tô chức năng là hành chính (đô, thành, tran, xã,.) và địa điểm buôn bán (thị, phd). Các vùng đô thị ở Việt Nam đã xuất hiện từ thời cổ trung đại, là các điểm dân cư mà ở đó người làm nông nghiệp chiếm tỷ lệ không đông, có thé được gọi là đô, thành, dinh, tran, phố (Mạc Đường, 2002, tr. Theo khái niệm đô thị nay, vùng đô thị SG - GD là vùng đô thị hình thành và phát triển liên tục từ thế kỷ XVIII, XIX, khởi đầu với hai khu vực Bến Nghé và Sài Gòn (vùng Chợ Lớn).
Dưới thời thực dân Pháp cai trị, đô thị Sài Gòn được quy hoạch và xây dựng với quy mô là đô thị lớn nhất ở Đông Dương với các công trình kiến trúc về hành chính, văn hóa, tôn giáo, hải cảng được xây dựng hoàn chỉnh về mặt cấu trúc như hiện trạng của nó vào năm 1954 (Mạc Đường, 2002, tr. Trong giai đoạn 1954-1975, vùng đô thị này tiếp tục được xây dựng theo hướng phục vụ nhu cầu của quân đội, chiến tranh nên các công trình xây dựng chủ yếu là các khu cư xá, đường giao thông, sân bay, hải cảng. Hiện tượng đô thị hóa cưỡng bức diễn ra liên tục do các đợt ném bom, càn quét nông thôn và vùng ven đô của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã dồn một lực lượng lớn dân cư từ nông thôn vào đô thị. Bên cạnh Sai Gòn, các vùng ven như Thủ Đức, Tân Bình, Gò Vấp cũng có hiện tượng tập trung dân cư, kết nối với Sài Gòn.
- Vùng chiến lược đô thị Khái niệm vùng chiến lược đô thị cùng với các vùng chiến lược rừng núi và nông thôn/đồng bằng được sử dụng trong các văn kiện chỉ đạo cuộc KCCM của Đảng LDVN với vai trò và nhiệm vụ cách mạng được xác định ngày càng cụ thê. 8 Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đã buộc Mỹ phải thay đổi chính sách đối với miền Nam bằng việc sử dụng chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Trong bối cảnh đó, ngày 28-4-1960, Trung ương Dang đã gửi Điện cho Xứ ủy Nam Bộ dé chỉ đạo cụ thé phong trào đấu tranh, trong đó, nhận định rằng tình hình so sánh lực lượng giữa địch và ta biêu hiện ở mỗi vùng là khác nhau, do đó đã chủ trương các hình thức đấu tranh cụ thé trên ba vùng đô thị, nông thôn và rừng núi (ĐCSVN, 2004b, tr. Tiếp đó, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng (31-1-1961) trên cơ sở đánh giá tình hình cách mạng ở miền Nam sau Đồng Khởi đang phát triển không đều nên phải vận dụng phương châm đấu tranh linh hoạt, phù hợp với từng vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị, cụ thể: Ở các vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu, ở các vùng đồng bằng, đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự ngang nhau, ở các vùng đô thị, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, gồm cả hai hình thức hợp pháp và bat hợp pháp (DCSVN, 200%c, tr.
Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược CTCB, trong thư gửi Khu ủy SG - GD ngày 1-7-1967, Bi thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duan đã nhấn mạnh việc phân chia các vùng rừng núi, nông thôn và đồng bằng, thành thị cũng như việc vận dụng phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị ở mỗi vùng đều được xem xét trên quan điểm chiến lược. Nghị quyết “Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam” của Trung ương Đảng (tháng 10-1967) còn nêu rõ trong tổng công kích — tổng khởi nghĩa “Hai mũi tiến công chính là tiến công quân sự trên các chiến trường chính và nôi dậy của nhân dân các đô thị lớn, trong đó, cuộc tiền công và nổi dậy ở đô thị là mũi nhọn quyết định thăng lợi” (Trịnh Nhu, 2008, tr. Như vậy, việc phân chia miền Nam thành các vùng chiến lược rừng núi, nông thôn/đồng bang và đô thi là căn cứ vào so sánh lực lượng và điều kiện mỗi vùng dé đề ra phương thức đấu tranh thích hợp. Vùng chiến lược đô thị được xác định là nơi sử dụng hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu.
- Phong trào đô thị PTĐT là thuật ngữ xuất hiện trong một số văn bản chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam của Đảng LDVN và trong các thư, điện của các lãnh đạo Trung ương Đảng gửi Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy SG - GD chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân đô thị. Dựa vào nội dung văn kiện này có thê xác định các van đề cơ bản của PTĐT. Trước hết, PTĐT là phong trào cách mạng của quan chúng đô thị, một bộ phận của công tác đô thị hay công tác thành thị theo chủ trương của Dang LDVN. Trong các văn kiện của Đảng LDVN chi đạo cuộc KCCM, có thể thấy thuật ngữ công tác thành thị được sử dụng đề nói về những nhiệm vụ cách mạng ở đô thị.
Trong Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 6-9-1954 hay trong Nghị quyết của Bộ Chính trị xác định “công tác thành thị cần được 9 giữ vững cùng với giữ vững và phát triển cơ sở nông thôn (DCSVN, 2004a, tr 275 và 310). Sau khi phong trào cách mạng miền Nam chuyên từ thé giữ gìn lực lượng sang thé tiến công, Trung ương Đảng LDVN đã khang định đô thị cùng với nông thôn và rừng núi là ba địa bàn chiến lược của cách mạng và ở đô thị sử dụng đấu tranh chính trị là chủ yếu. Khi xác định PTĐT là phong trào cách mạng có nghĩa là PTĐT bao gồm các phong trào đấu tranh cho mục tiêu của cách mạng miền Nam trong cuộc KCCM, đó là mục tiêu dân tộc (dau tranh đòi độc lập và thống nhất đất nước) và dân chủ (đấu tranh cho các quyên lợi dân sinh, dân chủ). Điều này được Lê Duan nhắn mạnh trong Thư gửi Khu ủy SG - GD ngày 1 tháng 7 năm 1967, bên cạnh độc lập dân tộc là nội dung có tính xuyên suốt nhằm đánh đuôi Mỹ xâm lược và đánh đồ chính quyền tay sai công cụ xâm lược của Mỹ thì “ở các thành thị miền Nam, tự do, dân chủ, dân sinh là những yêu cầu bức thiết của quần chúng, đồng thời cũng là những van đề rất cơ bản của cách mạng” (Lê Duan, 2015, tr.
Bên cạnh đó, PTĐT là phong trào đấu tranh chính trị công khai của quần chúng đô thị. Trong KCCMở SG - GD, công tác đô thị bao gồm tất cả các hoạt động xây dung và phát triển phong trào cách mạng ở đô thị, trong đó có những công tác bí mật như xây dựng phát triển cơ sở Dang, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, biệt động, duy trì hoạt động quân sự một cách linh hoạt, khéo léo, có những công tác là bán công khai như xây dựng các tổ chức quần chúng, và có hoạt động sử dụng hình thức công khai, hợp pháp, đó là phong trào đấu tranh của quần chúng. Do đặc thù của địa bàn chiến lược đô thị là nơi thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của CQSG và với vùng đô thị SG - GD là thủ đô của VNCH nên địch phải khoác lên đó cái áo dan chủ dé che mắt dư luận trong và ngoài nước, địch chưa dam thăng tay đàn áp nên Trung ương Đảng xác định “chủ trương của ta ở vùng đô thị là đây mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, dựa vào lực lượng của đông đảo quần chúng lao động, sử dạng các phương tiện hợp pháp, phát động và liên hợp với phong trào của các tầng lớp trên” (ĐCSVN, 2004b, tr 294-295). Về lực lượng tham gia vào PTĐT được xác định “không chỉ đơn thuần xem xét khả năng cách mạng của các tầng lớp xã hội xuất phát từ vị trí giai cấp, mà còn phải nhận định thái độ chính trị của họ đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ” (Lê Duan, 2015, tr.
Đầu tiên là công nhân và các tầng lớp lao động khác, trong đó thanh niên, phụ nữ có vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, học sinh, sinh viên, các nhà khoa học, những người làm văn học, nghệ thuật, nói chung là giới trí thức cũng là lực lượng cần được tập hợp, lôi cuốn vào phong trào. Ngoài ra, trong bối cảnh đô thị chịu sự kiểm soát gắt gao của CQSG, việc chỉ đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị chủ yếu thông qua một số cơ sở Đảng, có khi chỉ có một vài Đảng viên hoạt động đơn tuyến và làm nòng cốt trong một phong trào hoặc tác động tới các tang lớp khác dé thúc day phong trào dau tranh. Do đó, thực tế phát triển của PTĐT cho thấy ngoài những phong trào đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng còn có những phong trào do quần chúng nòng cốt, chịu ảnh 10 hưởng của cơ sở Đảng phát động một cách linh hoạt dé đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ trong những thời điểm cụ thể.
Tất cả các phong trào đó có điểm chung là đều hướng tới mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là hòa bình, độc lập, dân sinh, dân chủ. Như vậy, từ những chủ trương của Đảng, có thé thay PTĐT ở miền Nam trong cuộc KCCM được xác định là một bộ phận của phong trào cách mạng miền Nam. Bộ phận này cùng với phong trảo dau tranh chính trị ở nông thôn tạo thành mặt trận đấu tranh chính trị của cách mạng.