phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình ng ên cứu về n ềm t n v n ềm t n c ín trị Về vấn đề niềm tin đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - ênin đề cập, đánh giá vai trò lớn lao, sự tác động mạnh mẽ của niềm tin tới hoạt động con người, đặc biệt là niềm tin khoa học có thể tạo ra động lực th c đẩy tiến bộ xã hội.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - ênin đã đánh giá cao vai trò của nó trong sự th c đẩy phát triển xã hội, là một trong những nội dung cơ bản để có phong trào cách mạng. Quan điểm chủ nghĩa Mác về thế giới quan duy vật, vấn đề phương pháp luận, lôgic học, lý luận nhận thức, các hình thái ý thức xã hội, triết học lịch sử và con người…, đều coi trọng vai trò của niềm tin. Trong tác phẩm B n c n của t n n, Ph.Ăngghen đã cho rằng con người sẽ không có chỗ dựa nếu không có niềm tin khoa học, nhằm cởi trói cho khoa học phát triển khắc phục mặt tiêu cực của niềm tin tôn giáo, Ông đề cao tư duy lý luận, tri thức, nhất là tri thức khoa học trong việc xây dựng niềm tin khoa học, xác lập được niềm tin khoa học, đó sẽ là động lực to lớn th c đẩy sự tiến bộ xã hội, tạo ra khả năng sáng tạo trong cuộc sống. Ông khẳng định: Không đứng vững trên lập trường khoa học và phép biện chứng thì một khi có những phát hiện mới, phát minh mới ra đời, người ta sẽ dễ mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm, “sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại”[85, tr.
Kế thừa chủ đề nghiên cứu này, một số nhà khoa học ở iên Xô (trước đây), đã nghiên cứu, đưa ra và giải quyết các khía cạnh khác nhau về niềm tin. Nói chung đều đề cao vai trò của tri thức, trí tuệ, tình cảm và đạo đức đối với nhiệm vụ tạo lập niềm tin. Bôguxlápxki, trong Tr t c và n m t n tôn áo đã đề cập và lý giải cơ sở của niềm tin khoa học (tri thức khoa học). Tác giả cho rằng, không có tri thức con người sẽ bất lực trước tự nhiên và đó là điều kiện để niềm tin tôn giáo xuất hiện và khẳng định tri thức là sức mạnh, tôn giáo là cội nguồn của sự bất lực.
Niềm tin tôn giáo và niềm tin khoa học không thể hòa đồng cùng nhau. Không làm chủ được tri thức, con người sẽ lệ thuộc và là nô lệ của hoàn cảnh. Con người không có tri thức thì không thể trở thành chủ nhân của hạnh ph c, dễ rơi vào trạng quá sợ hãi trước tự nhiên.Lapin, trong Ý t c tr ết ọc, đã phê phán quan niệm đồng nhất một cách đơn giản mâu thuẫn giữa niềm tin tôn giáo và tri thức với sự đối lập giữa tôn giáo và khoa học. Đặc biệt, ông cho rằng, lâu nay ch ng ta hiểu khái niệm niềm tin chưa thật đầy đủ, coi niềm tin chỉ là đối tượng nghiên cứu, kiểm chứng ở các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viện nghiên cứu tôn giáo chứ không phải ở viện triết học, khoa học triết học, tâm lý học… còn đồng nhất niềm tin với tín ngưỡng tôn giáo và do vậy, các hình thức niềm tin phi tôn giáo đã được đề cập tới.
Cũng với quan điểm đó, B. Aliépva trong Niềm tin và lý tính đã khẳng định vai trò to lớn của tri thức, của lý tính đối với niềm tin và cho rằng với tri thức khoa học, con người sẽ có được niềm tin vào lý tính hợp lý của đời sống trần tục, phủ định niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh, ảo tưởng, mơ hồ và bí hiểm. Trong bài Tr t c k oa ọc và tôn áo trước t m t ế kỷ XXI, (tác giả: Lep Nicôlaivich Mitơrôkhin). Bài viết này được tác giả trình bày tại Hội nghị phối hợp các khoa học xã hội thuộc Đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga.
Viện Hàn lâm khoa học Nga cho rằng, khoa học và công nghệ thế giới phát triển mạnh mẽ, trình độ dân trí nâng lên, cuộc sống của con người được cải thiện, nhiều vấn đề của chính con người, của vũ trụ đang được khoa học tập trung nghiên cứu, lý giải và đang hé mở nhiều lời giải đáp có tính thuyết phục cho niềm tin khoa học. Tuy các phương tiện thông tin đại ch ng đã được một số nhóm trí thức huy động có lợi cho tôn giáo. Những điều này, theo N.Berdiaev, không chỉ là những vấn đề như niềm tin vào thượng đế, nỗi sợ hãi trước đấng siêu nhiên, “sự tìm kiếm say mê Vương quốc của Ch a” mà chủ yếu là “sự ngây ngất tôn giáo”, một hiện tượng tinh thần phổ biến, một sức đẩy từ phía đối diện. Tiếng cổ vũ đầy nhiệt tình cho các hiện tượng thần giao cách cảm, sự tác động từ xa (télékinésie), đĩa bay, thần trí luận (theosophie), thần bí học và nhiều hiện tượng quỷ quái khác mà mọi người đều biết đã chứng tỏ điều này.
Sự xa lánh cuộc sống trần tục dần dần được khắc phục một cách đáng kể. Mặt khác, ông cũng cho rằng, ch ng ta không nên nhìn nhận niềm tin tôn giáo một cách phiến diện, cần phải trân trọng những giá trị văn hóa, đạo đức, nhân đạo chủ nghĩa do tôn giáo đem lại. Trong tác phẩm Tốc ộ của n m t n, tác giả Stephen M.Covey đã nghiên cứu sâu vấn đề niềm tin đến tận cội nguồn của nó và đưa ra nhiều giải pháp để xây dựng niềm tin lâu dài trong các mối quan hệ cá nhân và công việc nhằm đạt được sự thành công và thịnh vượng bền vững trong mọi mặt của cuộc sống. Về khái niệm niềm tin, các tác giả cho rằng niềm tin chính là sự tin c y, trái nghĩa với nó là sự nghi ngờ.
Khi tin ai, người ta đặt hết niềm tin vào người đó, tin vào phẩm chất đạo đức và năng lực của họ. Còn khi không tin ai, người ta sẽ nghi ngờ người đó cả về phẩm chất đạo đức, hành động, năng lực, hay thành tích của người đó. Niềm tin là một yếu tố có tác động vô cùng mạnh mẽ bởi không gì có thể nhanh bằng tốc độ của niềm tin; không gì có thể truyền cảm hứng mạnh mẽ bằng tác động của niềm tin và cũng không gì có sức ảnh hưởng lớn hơn sức mạnh của niềm tin. Niềm tin là cái có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể làm thay đổi mọi thứ và có khả năng tạo ra sự khác biệt đáng kể trên mọi phương diện trong cuộc sống của mỗi người.
Tác giả cũng cho rằng coi niềm tin chỉ dựa trên cơ sở tính cách là một định kiến sai lầm bởi vì niềm tin hình thành trên cả hai yếu tố: tính cách và năng lực. Tính cách bao gồm sự chính trực, động cơ, ý định của bạn đối với người khác. Năng lực bao gồm các khả năng, kỹ năng, thành tích, hiệu quả. Cả hai yếu tố này đều cần thiết.
Đạo đức (vốn là một phần của tính cách) là yếu tố cơ bản của niềm tin, nhưng bản thân nó chưa đủ để xây dựng niềm tin. Nếu biết mở rộng niềm tin sáng suốt đ ng l c và đ ng cách, con người sẽ làm chủ được hoàn cảnh và đạt được những thành tựu đáng kể trong cuộc sống. Mặc dù không bàn sâu về niềm tin chính trị mà chỉ nói về niềm tin theo cách hiểu rộng nhất của từ này, cuốn sách vẫn thực sự là nguồn tài liệu bổ ích gi p ch ng tôi có những hiểu biết ban đầu để xây dựng khung lý thuyết của đề tài. Đặc biệt cần phải nhắc đến một nghiên cứu gần đây với tiêu đề: Tìm ểu v vấn n m t n tron c n trị ọc (qua trường hợp tái thắng cử của Barack Obama), tác giả Nguyễn Hồng Hải đã khái quát được những nét cơ bản về khái niệm niềm tin trong lý thuyết chính trị học từng được nêu ra bởi nhiều học giả trên thế giới.
Theo đó, rất khó tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi “niềm tin là gì?”. Bởi vì, niềm tin “là một cảm giác, không thể mô tả hình thù của nó”. Đặc tính của niềm tin là sự dao động, tăng - giảm, nhiều - ít tùy thuộc vào cảm nhận chủ quan của mỗi cá nhân. Cách đây hơn bốn thập kỷ, nhà chính trị học người Mỹ Robert Putnam đã nói đến “vốn xã hội” bao gồm niềm tin, các quy phạm đạo đức và những giá trị xã hội trong một nghiên cứu về cách thức để một nền dân chủ vận hành ở Italia.
Niềm tin được nhiều nhà lý luận chính trị xem là yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển nền quản trị dân chủ. Niềm tin thể hiện ở hai cấp độ: thể chế và cá nhân. Về phương diện thể chế, niềm tin đóng vai trò quan trọng, là bằng chứng về hiệu quả hoạt động, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của những người được coi là “đầy tớ” - công chức nhà nước với “người chủ” - nhân dân. Nhà chính trị học Cynthia Horne dẫn lại lập luận của một số học giả cho rằng niềm tin vào chính phủ, niềm tin vào các thể chế công quyền, niềm tin vào các thiết chế xã hội, và niềm tin giữa các cá nhân với nhau hay còn được gọi là niềm tin xã hội góp phần quan trọng vào quá trình dân chủ hóa.
Horne đi đến kết luận rằng thiếu niềm tin vào những phạm trù này sẽ là rào cản cho việc củng cố dân chủ và phát triển kinh tế. Nhận định này cũng phù hợp với quan điểm của học giả Francis Fukuyama khi ông cho rằng niềm tin là yếu tố cốt lõi trong hoạt động kinh tế của đời sống xã hội, là đặc trưng văn hóa thẩm thấu cho sự thịnh vượng của một đất nước. Trong một nhà nước dân chủ, khi chính quyền muốn người dân tuân theo những quy định mà mình ban 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành, thì chính phủ phải làm sao cho người dân tin rằng những quy định đó là đ ng và đem lại lợi ích cho người dân. Bên cạnh đó, nhà nước cũng phải có niềm tin ở dân vì không thể có một nhà nước nếu nhà nước đó không dựa vào dân.