Đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình - Luận án tiến sĩ ngữ văn Nguyễn Thị Thu Hà

Luận án tiến sĩ phân tích chi tiết đặc trưng kết cấu của thể loại ca dao trữ tình trong văn học dân gian Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào cấu trúc nội dung

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ
174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là thể loại văn học dân gian có trữ lượng phong phú nhất trong kho tàng văn học Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ví tục ngữ, ca dao là 'những hòn ngọc quý' của dân tộc. Kết cấu ca dao trữ tình mang những đặc thù riêng biệt, khác với thơ trữ tình ở cách tổ chức tác phẩm, tính chất đặc biệt của từng yếu tố và dòng mở đầu. Nghiên cứu kết cấu ca dao trữ tình từ góc độ ngữ văn học đòi hỏi tiếp cận đa chiều. Các yếu tố diễn xướng, công thức truyền thống và biện pháp tu từ tạo nên bản sắc độc đáo của thể loại này. Kết cấu ca dao phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người Việt, thể hiện qua hình thức nghệ thuật cô đọng, hàm súc. Đặc trưng này bắt nguồn từ đặc thù của folklore nói chung và folklore Việt Nam nói riêng, gắn liền với sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

1.1. Khái niệm ca dao trữ tình và vị trí trong văn học dân gian

Ca dao trữ tình là những bài hát dân gian ngắn gọn, thể hiện tình cảm cá nhân hòa quyện trong cộng đồng. Loại hình này chiếm vị trí quan trọng trong văn học dân gian Việt Nam. Ca dao trữ tình khác biệt với thơ viết ở tính tập thể, khẩu truyền và diễn xướng. Mỗi bài ca dao là sản phẩm của quá trình sáng tạo tập thể qua nhiều thế hệ. Thể loại này phản ánh đời sống tình cảm đa dạng: tình yêu đôi lứa, tình quê hương, tình gia đình. Ca dao trữ tình có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa người Việt.

1.2. Lý do nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình

Nghiên cứu kết cấu ca dao trữ tình giúp hiểu sâu hơn về thi pháp thể loại. Kết cấu ca dao có những đặc thù mà thơ viết không có, như tính lặp, tính công thức và tính diễn xướng. Các công trình trước đây mới chỉ khám phá phần nào sự phong phú của thể loại này. Nhiều vấn đề về thi pháp, đặc biệt kết cấu, vẫn còn mở ra nhiều hướng tiếp cận mới. Nghiên cứu này góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện đại.

II. Phân tích diễn xướng và công thức truyền thống trong ca dao trữ tình

Diễn xướng là đặc tính cơ bản của nhiều thể loại văn hóa dân gian, trong đó có ca dao trữ tình. Thuật ngữ 'diễn xướng' bao gồm hai yếu tố: 'diễn' (thể hiện, hành động) và 'xướng' (âm thanh, hát, đọc, hò). Qua thời gian, diễn xướng phát triển từ giản đơn đến phức tạp, kết hợp ngôn từ, âm nhạc và hình thể. Công thức truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kết cấu ca dao. Các công thức này tạo nên mẫu đề đặc trưng, giúp ca dao dễ nhớ, dễ truyền miệng. Phép đối ngẫu tâm lý, biện pháp thu hẹp dần tầng bậc hình tượng và biện pháp lặp là những yếu tố tu từ chủ đạo. Các phương thức kết nối tạo nên sự liên kết chặt chẽ trong bài ca. Đặc trưng diễn xướng tác động trực tiếp đến quá trình hình thành kết cấu ca dao trữ tình.

2.1. Đặc trưng diễn xướng và ảnh hưởng đến kết cấu ca dao

Diễn xướng dân gian Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm, từ thời Đông Sơn đến nay. Đặc trưng diễn xướng bao gồm nhiều yếu tố: ngôn từ, âm nhạc, hình thể, trò diễn. Trong ca dao trữ tình, diễn xướng tạo nên tính nhạc, tính nhịp điệu đặc trưng. Dòng mở đầu ca dao thường mang tính truyền thống, được lặp lại trong nhiều bài ca khác nhau. Độ dài dòng mở đầu biến đổi từ 1 đến 8 âm tiết, tạo nên sự đa dạng về hình thức. Đặc trưng này phản ánh cách thức sáng tạo và truyền bá của nghệ thuật dân gian.

2.2. Công thức truyền thống và mẫu đề trong ca dao trữ tình

Công thức truyền thống là những khuôn mẫu được sử dụng lặp đi lặp lại trong ca dao. Các công thức này giúp xác định mẫu đề - chủ đề chính của bài ca dao. Việc tìm hiểu công thức truyền thống cho phép nhận diện hệ thống mẫu đề phong phú trong ca dao trữ tình. Các mẫu đề phổ biến bao gồm: tình yêu đôi lứa, nhớ thương, chờ đợi, chia ly. Công thức truyền thống không chỉ là hình thức mà còn chứa đựng nội dung văn hóa sâu sắc. Phương pháp phân tích công thức giúp giải mã tầng tầng ý nghĩa trong mỗi bài ca dao.

III. Phương pháp nghiên cứu biện pháp tu từ trong kết cấu ca dao trữ tình

Biện pháp tu từ là yếu tố cấu thành kết cấu quan trọng của ca dao trữ tình. Phép đối ngẫu tâm lý tạo nên sự tương phản, đối lập trong cảm xúc và hình tượng. Biện pháp thu hẹp dần tầng bậc hình tượng giúp tập trung ý nghĩa, tạo hiệu quả nghệ thuật đặc sắc. Biện pháp lặp xuất hiện ở nhiều mức độ: từ, cụm từ, cấu trúc câu, tạo nên tính nhạc và nhấn mạnh nội dung. Phương thức kết nối giữa các dòng, các khổ trong ca dao thể hiện tư duy nghệ thuật độc đáo của người dân. Nghiên cứu biện pháp tu từ đòi hỏi phương pháp phân tích ngôn ngữ kết hợp với tiếp cận thi pháp học. Phương pháp so sánh đối chiếu giữa ca dao với thơ viết giúp làm rõ đặc trưng riêng của thể loại. Công trình nghiên cứu của nhiều học giả đã chỉ ra tính hệ thống của biện pháp tu từ trong ca dao trữ tình.

3.1. Phép đối ngẫu tâm lý và biện pháp lặp trong ca dao trữ tình

Phép đối ngẫu tâm lý là biện pháp tu từ đặc trưng của ca dao trữ tình Việt Nam. Biện pháp này tạo ra sự tương phản giữa hai hình ảnh, hai cảm xúc đối lập. Ví dụ: gần-xa, vui-buồn, nhớ-quên. Biện pháp lặp xuất hiện phổ biến ở nhiều mức độ trong ca dao. Lặp từ tạo nhịp điệu, lặp cấu trúc tạo tính công thức cho bài ca. Hai biện pháp này phối hợp tạo nên kết cấu chặt chẽ, hàm súc cho ca dao trữ tình. Chúng phản ánh tư duy biện chứng của người Việt trong cảm nhận cuộc sống.

3.2. Biện pháp thu hẹp tầng bậc hình tượng và phương thức kết nối

Biện pháp thu hẹp dần tầng bậc hình tượng là kỹ thuật tu từ tinh tế trong ca dao. Hình tượng đi từ rộng đến hẹp, từ chung đến riêng, tạo chiều sâu nghệ thuật. Phương thức kết nối giữa các dòng ca dao thể hiện qua nhiều dạng: nối tiếp, tương phản, bổ sung. Các phương thức này tạo nên sự liên kết logic và cảm xúc trong bài ca. Sự kết hợp giữa thu hẹp hình tượng và kết nối tạo nên kết cấu hoàn chỉnh. Đặc trưng này giúp ca dao trữ tình đạt hiệu quả biểu đạt cao trong hình thức ngắn gọn.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình

Nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình mang lại nhiều phát hiện quan trọng về thi pháp thể loại. Kết cấu ca dao trữ tình có những nguyên tắc riêng, khác biệt với thơ viết cá nhân. Ba góc độ nghiên cứu - diễn xướng, công thức truyền thống và biện pháp tu từ - bổ sung cho nhau. Chúng tạo nên bức tranh toàn diện về bản sắc nghệ thuật của ca dao trữ tình Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn. Về mặt khoa học, công trình góp phần làm sáng tỏ thi pháp folklore Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu giúp bảo tồn và phát huy giá trị ca dao trong giáo dục và đời sống văn hóa. Phương pháp tiếp cận đa chiều mở ra hướng nghiên cứu mới cho văn học dân gian.

4.1. Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình

Nghiên cứu này góp phần bổ sung lý luận về thi pháp văn học dân gian Việt Nam. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ nguyên tắc tổ chức kết cấu đặc thù của ca dao trữ tình. Công trình cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân loại và đánh giá giá trị nghệ thuật ca dao. Phương pháp tiếp cận đa chiều từ diễn xướng, công thức và tu từ học được kiểm chứng. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới cho các thể loại folklore khác. Đây là đóng góp quan trọng vào lĩnh vực ngữ văn học và nghiên cứu văn hóa dân gian.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong giáo dục và bảo tồn văn hóa

Kết quả nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình có nhiều ứng dụng thực tiễn. Trong giáo dục, nghiên cứu giúp xây dựng phương pháp giảng dạy ca dao hiệu quả hơn. Giáo viên có thể sử dụng kiến thức về kết cấu để hướng dẫn học sinh cảm thụ ca dao sâu sắc. Trong bảo tồn văn hóa, nghiên cứu cung cấp cơ sở để sưu tầm, biên soạn ca dao khoa học hơn. Kiểu thức về công thức truyền thống giúp nhận diện và bảo tồn vốn ca dao đang mai một. Nghiên cứu cũng phục vụ việc xây dựng chương trình giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ngữ văn đặc trưng kết cấu ca dao trữ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu dễ thấy hơn cả, “những hình ảnh khác nhau nhưng lại theo một kiểu câu giống nhau xuất phát từ một ý giống nhau…Những tâm trạng giống nhau được nhiều địa phương mô tả cũng thể hiện ở những câu ca dao trùng lặp” [131, tr.Cravxốp trong “Thi pháp dân ca trữ tình Nga” [140] và X.Lazuchin trong cuốn “Thi pháp văn học dân gian Nga” (1984, Nxb. Đại học, Matxcova) cũng phân tích rất sâu các hình thức kết cấu của dân ca Nga. Đặc biệt, hai tác giả này đã phân tích chất trần thuật, “tính cốt truyện” đặc 17 thù của kết cấu dân ca Nga, đi sâu miêu tả “phép đối ngẫu tâm lý”, “thủ pháp thu hẹp dần các tầng bậc hình tượng” của bài ca. Theo các tác giả, khi sử dụng “phép đối ngẫu tâm lý”, bài ca sẽ so sánh, đối chiếu (tương đồng hoặc tương phản) con người, hành động và tâm trạng con người với bức tranh thiên nhiên.

Sự so sánh, đối chiếu đó chi phối cách sắp xếp các yếu tố, các bộ phận của bài ca, tạo nên sự cân đối của các phần trong bài ca. Một trong những ví dụ mà các nhà folklore học Nga thường dẫn ra khi nói về phép đối ngẫu tâm lý là bài ca sau đây: Trong sương mù mặt trời hồng, trong sương mù Mặt trời hồng không nhìn rõ trong sương mù Nỗi buồn, cô gái đẹp, nỗi buồn Không ai nhìn thấy nỗi buồn của cô [2, tr. Khi sử dụng “thủ pháp thu hẹp dần các tầng bậc hình tượng”, bài ca đi từ rộng tới hẹp, từ bức tranh thiên nhiên, sinh hoạt và kết lại cuối cùng ở hình ảnh, tình cảm, tình ý của nhân vật trữ tình: Trên thảo nguyên, thảo nguyên Xaratốp Và thảo nguyên khác ở miền Camuwsca Giữa rừng rậm bao la Bên dòng nước chảy qua Bên giếng khơi lạnh buốt Chàng Coodawsc sông Đông Đang cho ngựa uống nước [2, tr.104] Đặc biệt, các tác giả đã phân tích ý nghĩa kết cấu của hình tượng con người trong dân ca Nga. Đây là những ý kiến sâu sắc, thi vị, giúp chúng ta tiếp cận tìm hiểu kết cấu ca dao từ góc độ các biện pháp tu từ (có người còn gọi là “phong cách học”).

18 Ngoài những công trình nghiên cứu về kết cấu ca dao đề cập đến một góc độ của kết cấu như đã nêu trên, còn có những công trình mà trong đó kết cấu ca dao được nhìn nhận không phải từ một mà từ hai hay ba góc độ như đã nêu. Chẳng hạn như công trình của tác giả Hoàng Tiến Tựu “Bước đầu tìm hiểu sự khác nhau giữa ca dao và thơ lục bát”, của Đặng Văn Lung “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình”, chương sách của Chu Xuân Diên “Cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian và những truyền thống nghệ thuật của ca dao, dân ca Việt Nam”, “Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính, “Những thế giới nghệ thuật ca dao” của Phạm Thu Yến và các công trình của N.Lazuchin mà chúng tôi đã dẫn. Những truyền thống nghiên cứu trên, những đóng góp của các thế hệ nghiên cứu rất đáng trân trọng. Luận án tiếp thu những ý kiến quý báu, trên cơ sở đó tiếp tục đào sâu và mở rộng một số vấn đề thuộc đặc trưng kết cấu ca dao.

Các khái niệm, quan niệm liên quan đến đề tài 7. Khái niệm ca dao Có nhiều quan niệm khác nhau về cách gọi “ca dao”, “dân ca”. Theo sách Mao truyện, từ “ca” là hát có kèm theo nhạc. Còn trong sách “Thuyết văn”, “dao” là hát không có đàn sáo.

Nhĩ Nhã cũng viết: “Dao vi vô ti trúc chi loại, độc ca chi”, ca dao là thuật ngữ chỉ những bài hát có nhạc hoặc không có nhạc. Trong thực tế, những bài hát cổ ở Trung Quốc và Việt Nam khi ghi lại trong các tập sách, chỉ còn phần lời ca, giống như ca dao mà thôi. Nhà văn Sơn Nam đã nhận xét: “Trong ngôn ngữ bình dân không nghe nói đến từ ca dao. Căn cứ vào nhạc điệu, trường hợp sử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê tình, hát đối, hò chèo ghe, hò xay lúa, hò cấy,…”[73, tr.

Phạm Duy thì cho rằng: “Dân ca Việt là những bài thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát, hay 19 song thất lục bát, được những giọng hát địa phương phổ nhạc, rồi tùy theo công dụng hay thổ ngơi mà mang tên là ca, là hò, là lý, vân vân.Dân ca Việt là những bài thơ hoặc văn vần do kẻ sĩ hay nông dân sáng tạo và hát lên, rồi tùy theo nhu cầu mà có thêm nhịp điệu cần thiết cho sự sống còn của giai điệu và lời ca” [25, tr28 - 29]. Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng giữa ca dao và dân ca ranh giới không rõ. Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, ông đã viết: “Không chỉ riêng điệu “hò Đồng Tháp” đã sử dụng ca dao, hát trống quân, hát quan họ Bắc Ninh, hát ru em, hát xẩm, hát lý cũng hay dùng nguyên ca dao, và tùy theo từng loại dân ca, người ta thêm vào những tiếng đệm, những tiếng láy, những điệp khúc, tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loại dân ca, làn điệu khác nhau. Điều này chứng tỏ rằng nếu chỉ nghiên cứu dân ca riêng về mặt văn học thì không thấy được hết giá trị của dân ca.

Theo cuốn “Việt Nam tự điển” thì “Ca” là bài hát thành khúc, “Dao” là câu hát ngắn độ một vài câu. Ca dao là câu hát phổ thông trong nhân gian. Từ "dân ca" thì không có. Từ “dân ca” có lẽ chỉ được khai sinh trong giai đoạn phát triển của tân nhạc vào khoảng giữa thập niên 40, khi các nhà soạn nhạc muốn quay về cội nguồn và khởi sự công việc sưu tầm nghiên cứu dân nhạc cổ truyền, để từ đó sáng tác ra những nhạc phẩm có tinh thần dân tộc.

Dân ca là những bài hát đã đi vào kho tàng nghệ thuật dân gian bằng phương thức truyền miệng [10]. Các nhà khảo cứu của tổ chức Văn học dân gian, trong cuốn “Ca dao Việt Nam trước Cách mạng” đã định nghĩa: “Ca” là: câu thành khúc điệu. “Dao”: câu không thành khúc điệu. “Dân ca”: bài hát có nhạc điệu nhất định.

Họ khẳng định: "hầu hết dân ca Việt Nam là ca dao có khúc điệu, có tiếng đệm, tiếng lót" [179]. Quan niệm này gắn chặt dân ca với ca dao. 20 “Từ điển thuật ngữ văn học” cũng đưa ra định nghĩa về “ca dao” đồng nghĩa với “dân ca” như sau: “ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu…Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu”. Dân ca là “một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng” [66].

Như vậy, thuật ngữ “ca dao”, “dân ca” không phải bắt nguồn trong sinh hoạt dân gian, mà do các nhà sưu tầm và biên soạn thơ ca dân gian “mượn từ sách Hán thi, đồng thời mượn luôn cả định nghĩa của họ”. Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Chu Xuân Diên và Nguyễn Xuân Kính. Tác giả Chu Xuân Diên viết: “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát, phong phú…Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca” [94, tr. Còn Nguyễn Xuân Kính trong bộ “Kho tàng ca dao người Việt” thì khẳng định: “Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)…Không phải tòan bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi,…thì sẽ đều là ca dao.

Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian” [99]. Mặt khác, chúng tôi nhấn mạnh: Vì thuật ngữ ca dao, dân ca có quan hệ chặt chẽ với nhau nên tách ca dao ra khỏi dân ca khi khảo sát, nghiên cứu nhiều khi sẽ sa vào tình trạng không giải thích đúng, thậm chí không lý giải được hiện tượng. Về nguyên tắc lý thuyết, cần phải quan niệm hai khái niệm “ca dao”, “dân ca” gắn bó 21 chặt với nhau, nhiều khi là một.

Nhưng trên thực tế, phải thừa nhận sự tồn tại song song hai thuật ngữ “ca dao”, “dân ca” để phục vụ mục đích nghiên cứu. Tiếp cận ca dao phải chú ý đến mối quan hệ chặt chẽ với hồn cảnh diễn xướng, hình thức diễn xướng, làn điệu và ngược lại. Trong luận án, chúng tôi dùng thuật ngữ “ca dao”, hay “lời ca dao”, “bài ca dao” để nói về đơn vị tác phẩm ca dao. Kết cấu Thuật ngữ kết cấu mượn từ kiến trúc, hội họa.

Bất cứ tác phẩm nào cũng được xem như là một công trình kiến trúc. Kết cấu tác phẩm nhằm mục đích phản ánh đời sống, biểu lộ thái độ, tình cảm với đời sống. Trong tác phẩm, từ một ký hiệu ngôn ngữ đến một hệ thống hình tượng đều thể hiện phương diện này hay phương diện khác của kết cấu. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về kết cấu.

Dương Quảng Hàm viết: “Kết cấu (kết: tết lại, cấu: gây thành) nghĩa là cách sắp đặt các ý tứ cho thành một bài văn” [67, tr. Hà Như Chi cũng cho rằng kết cấu “nghĩa là cách xếp đặt ý tứ” [23, tr. Quan niệm về kết cấu như thế còn đơn giản. Kết cấu phải bao gồm các yếu tố nghệ thuật gắn bó với nội dung và thể loại.

“Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục tác phẩm…Kết cấu là một yếu tố của hình thức,…thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố của nội dung tác phẩm như: chủ đề, tư tưởng,…Trong mối quan hệ giữa kết cấu và chủ đề, tư tưởng, bao giờ chủ đề, tư tưởng cũng đóng vai trò chủ đạo và chi phối kết cấu, ngược lại, nếu kết cấu thay đổi thì chủ đề tư tưởng cũng chịu ảnh hưởng…Nhiệm vụ quan trọng nhất của kết cấu là phải tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tư tưởng tập trung thông qua kết cấu” [58, tr. Trần Đình Sử thì quan niệm: “Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm. Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác 22 nghệ thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ