Luận án: Nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu Quảng Nam - Đà Nẵng phục vụ xây dựng đường giao thông

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết 'Tính chất cơ lý đất yếu Quảng Nam - Đà Nẵng phục vụ giao thông': { "ai_description": "Tìm hiểu tính chất cơ lý

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tính chất cơ lý nền đất yếu đồng bằng ven biển Quảng Nam Đà Nẵng

Đồng bằng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam. Khu vực này có nền đất yếu phân bố rộng rãi, chủ yếu là đất sét, bùn và cát pha có tính chất cơ lý phức tạp. Các loại đất này hình thành từ quá trình bồi tụ phù sa sông Vu Gia - Thu Bồn và tác động của thủy triều. Nền đất yếu tại đây thường có cường độ thấp, độ nén lún cao và khả năng chịu tải kém. Điều này gây ra nhiều thách thức lớn cho việc xây dựng các công trình giao thông. Nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu giúp xác định chính xác các chỉ tiêu thiết kế. Từ đó đưa ra giải pháp xử lý nền phù hợp, đảm bảo an toàn và bền vững cho đường giao thông. Các chỉ tiêu cơ bản cần xác định bao gồm: module biến dạng, hệ số cố kết, sức kháng cắt, áp lực nước lỗ rỗng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tính toán ổn định và lún nền đường.

1.1. Đặc điểm địa hình và địa chất khu vực nghiên cứu

Khu vực đồng bằng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0-5m so với mực nước biển. Địa chất công trình phân thành nhiều tầng đất khác nhau, từ lớp phủ bề mặt đến tầng đất yếu sâu. Các tầng đất chủ yếu gồm: đất sét pha, sét dẻo, cát pha và bùn hữu cơ. Độ dày lớp đất yếu thay đổi từ vài mét đến hơn 20 mét tùy vị trí. Mực nước ngầm cao, thường xuyên biến động theo mùa và thủy triều. Điều kiện địa chất phức tạp này ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất cơ lý của nền đất.

1.2. Tình hình nghiên cứu tính chất cơ lý đất yếu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu đã được nhiều tác giả thực hiện. Các công trình tập trung vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và ven biển miền Trung. Đối với khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng, một số nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm riêng của đất yếu vùng này. Tuy nhiên, số liệu còn hạn chế và chưa hệ thống đầy đủ. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến (2018) là công trình chuyên sâu đầu tiên về tính chất cơ lý nền đất yếu tại khu vực này. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ thiết kế đường giao thông.

II. Phân tích tính chất cơ lý của nền đất yếu vùng đồng bằng ven biển

Tính chất cơ lý của nền đất yếu đồng bằng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng có những đặc trưng riêng biệt. Đất yếu tại đây thường có hàm lượng nước tự nhiên cao, vượt giới hạn lỏng của đất. Hệ số rỗng lớn, dao động từ 0,7 đến 1,8 tùy loại đất. Module biến dạng của đất yếu rất thấp, chỉ từ 5-15 kg/cm². Sức kháng cắt không排水 dao động trong khoảng 0,1-0,4 kg/cm². Hệ số cố kết đứng Cv có giá trị từ 1,5×10⁻³ đến 5×10⁻³ cm²/phút. Thời gian cố kết hoàn thành thường kéo dài từ vài tháng đến nhiều năm. Áp lực trước cố kết Pc thấp hơn nhiều so với ứng suất tự nhiên. Điều này cho thấy đất ở trạng thái quá tái nén hoặc tái nén nhẹ. Các chỉ tiêu này có sự biến động lớn giữa các vị trí và độ sâu khác nhau. Cần phải tiến hành khảo sát chi tiết để có số liệu đại diện cho từng dự án.

2.1. Các chỉ tiêu cơ lý đặc trưng của đất yếu vùng ven biển

Các chỉ tiêu cơ lý của đất yếu vùng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng được xác định qua thí nghiệm. Chỉ tiêu vật lý gồm: độ ẩm tự nhiên W dao động 25-65%, giới hạn dẻo Wp từ 15-28%, giới hạn lỏng Wl từ 35-65%. Hệ số nén a có giá trị 0,02-0,08 cm²/kg. Module biến dạng E₀ từ 5-30 kg/cm² tùy loại đất. Sức kháng cắt Cu từ 0,05-0,4 kg/cm². Hệ số thấm k từ 10⁻⁶ đến 10⁻⁸ cm/s. Các chỉ tiêu này cho thấy đất yếu có tính chất nén lún cao và cường độ thấp.

2.2. Sự biến đổi tính chất cơ lý theo độ sâu và không gian

Tính chất cơ lý của đất yếu biến đổi đáng kể theo độ sâu phân bố. Lớp đất bề mặt thường có độ ẩm cao, cường độ rất thấp. Khi độ sâu tăng, các chỉ tiêu cường độ cải thiện dần do áp lực phủ ngày càng lớn. Sự phân bố không gian của đất yếu không đồng đều giữa các khu vực. Tại vùng gần cửa sông, hàm lượng bùn hữu cơ cao hơn. Vùng xa biển, đất có tính chất tốt hơn do quá trình bồi tụ khác nhau. Cần khảo sát mật độ cao để xác định chính xác ranh giới và đặc tính từng lớp đất yếu.

III. Phương pháp nghiên cứu và thí nghiệm tính chất cơ lý nền đất yếu

Nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu đòi hỏi phương pháp khoa học và hệ thống. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát địa chất công trình, lấy mẫu và thí nghiệm. Khảo sát được thực hiện bằng khoan địa chất, xuyên tĩnh CPT và SPT. Lấy mẫu nguyên trạng bằng ống mỏng Shelby để thí nghiệm trong phòng. Thí nghiệm xác định chỉ tiêu vật lý gồm: độ ẩm, tỷ trọng, giới hạn Atterberg. Thí nghiệm cơ học gồm: nén một trục, nén ba trục, cắt trực tiếp. Thí nghiệm cố kết được thực hiện để xác định module nén và hệ số cố kết. Nghiên cứu còn áp dụng phương pháp số để mô phỏng hành vi nền đất. Phần mềm Plaxis, GeoStudio được sử dụng để phân tích ổn định và lún. Kết hợp kết quả thí nghiệm hiện trường và phòng thí nghiệm để đánh giá toàn diện. Phương pháp nghiên cứu đa chiều này đảm bảo độ tin cậy cao cho số liệu đầu vào thiết kế.

3.1. Phương pháp khảo sát và lấy mẫu đất yếu

Khảo sát địa chất công trình được tiến hành theo quy trình tiêu chuẩn. Khoan thăm dò thực hiện tại các vị trí đại diện, mật độ khoan phù hợp quy mô dự án. Xuyên tĩnh SPT thực hiện mỗi 1,5-2m để đánh giá sức kháng xuyên. Xuyên tĩnh CPT cho phép xác định liên tục profile đất theo độ sâu. Lấy mẫu nguyên trạng bằng ống mỏng Shelby đường kính 75mm. Mẫu được bảo quản cẩn thận, vận chuyển đến phòng thí nghiệm trong 24 giờ. Tại hiện trường còn đo áp lực nước lỗ rỗng bằng piezometer. Số liệu khảo sát là cơ sở quan trọng để đánh giá chính xác tính chất nền đất.

3.2. Phương pháp thí nghiệm xác định chỉ tiêu cơ lý đất

Thí nghiệm chỉ tiêu vật lý xác định độ ẩm tự nhiên, tỷ trọng khối, tỷ trọng hạt. Giới hạn Atterberg đo bằng phương pháp Casagrande và cone penetrometer. Thí nghiệm nén một trục xác định module biến dạng và sức kháng nén. Thí nghiệm nén ba trục CU xác định thông số Mohr-Coulomb. Thí nghiệm cắt trực tiếp đánh giá sức kháng cắt tại mặt cắt yếu. Thí nghiệm cố kết một chiều xác định hệ số nén, module nén, thời gian cố kết. Mỗi loại thí nghiệm có quy trình nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn TCVN. Kết quả thí nghiệm được xử lý bằng phương pháp thống kê để đảm độ tin cậy.

IV. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong xây dựng đường giao thông

Kết quả nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu được ứng dụng trực tiếp trong xây dựng đường giao thông. Các chỉ tiêu cơ lý là đầu vào thiết kế tính toán ổn định taluy nền đắp. Tính toán lún tức thời và lún cố kết để dự báo biến dạng nền đường. Từ đó xác định thời gian thi công hợp lý và giai đoạn chờ lún. Kết quả nghiên cứu giúp lựa chọn phương án xử lý nền phù hợp. Các phương án xử lý phổ biến gồm: đắp gia tải trước, cọc đất gia cố, cọc bê tông cốt liệu. Thiết kế hệ thống thoát nước ngầm để giảm áp lực nước lỗ rỗng. Giám sát lún trong quá trình thi công bằng thiết bị đo biến dạng. Kết quả nghiên cứu còn phục vụ lập quy chuẩn kỹ thuật địa phương. Dữ liệu tính chất cơ lý đất yếu là tài liệu tham khảo quý cho các dự án tương tự. Ứng dụng thực tế cho thấy nền đường ổn định, lún trong giới hạn cho phép.

4.1. Tính toán ổn định và lún nền đường đất yếu

Tính toán ổn định nền đường đất yếu sử dụng phương pháp cân bằng giới hạn. Phần mềm GeoStudio, Plaxis được áp dụng để phân tích hệ số an toàn. Hệ số an toàn ổn định tổng thể phải đạt tối thiểu 1,3 theo quy chuẩn 22TCN262-2000. Tính toán lún gồm lún tức thời và lún cố kết. Lún tức thời áp dụng phương pháp module đàn hồi. Lún cố kết tính theo lý thuyết Terzaghi với các thông số từ thí nghiệm. Thời gian cố kết hoàn thành từ 6 tháng đến 2 năm tùy độ dày lớp đất yếu. Kết quả tính toán phải đảm bảo lún sai biệt trong giới hạn cho phép.

4.2. Giải pháp xử lý nền đất yếu phục vụ xây dựng đường giao thông

Giải pháp xử lý nền đất yếu được lựa chọn dựa trên đặc tính cơ lý từng khu vực. Phương án đắp gia tải trước áp dụng khi thời gian thi công cho phép. Cọc đất gia cố xi măng phù hợp với đất sét pha có module biến dạng thấp. Cọc bê tông cốt liệu ứng dụng cho nền đất yếu có độ dày lớn. Biện pháp thoát nước ngầm bằng giếng cát giúp tăng tốc độ cố kết. Lớp geotextile gia cường phân bố tải trọng đều hơn. Mỗi giải pháp cần tính toán chi tiết dựa trên số liệu thí nghiệm thực tế. Giám sát thi công và đo lún là bước quan trọng đảm bảo chất lượng công trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu đồng bằng ven biển quảng namđà nẵng phục vụ xây dựng đường giao thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu tính chất cơ lý và ứng dụng cho xử lý nền đất yếu. Chƣơng 2: Điều kiện địa kỹ thuật đồng bằng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng. Chƣơng 3: Nghiên cứu thành phần vật chất và tính chất cơ lý của đất yếu. Chƣơng 4: Cấu trúc nền đất yếu và phân tích lựa chọn thông số đất nền trong tính toán xử lý nền đất yếu.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT CƠ LÝ VÀ ỨNG DỤNG CHO XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 1.1 Tổng quan về nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu 1.1 Khái quát về đất yếu và nền đất yếu Trong tự nhiên, những loại đất yếu thƣờng gặp là đất loại sét (cát pha, sét pha và sét) trạng thái dẻo chảy đến chảy, cát bụi bão hòa nƣớc hoặc các loại đất ở dạng bùn, than bùn,.Tùy thuộc vào thành phần vật chất, phƣơng thức và điều kiện hình thành, vị trí trong không gian, điều kiện địa lý, khí hậu,.mà tồn tại những loại đất yếu khác nhau. Xét theo nguồn gốc, đất yếu có thể đƣợc hình thành trong điều kiện lục địa, vũng vịnh, đầm hồ ở khu vực vùng cửa sông, tam giác châu, vịnh biển hoặc nguồn gốc biển đƣợc hình thành ở khu vực nƣớc nông (<200 m), khu vực thềm lục địa (200 - 3000 m). Đất yếu đƣợc phân chia nhƣ sau: - Đất dính yếu hay còn gọi là đất loại sét yếu trạng thái dẻo chảy đến chảy, độ sệt IL > 0,75. Tên của loại sét yếu này đƣợc gọi theo chỉ số dẻo (PI) và bao gồm cát pha (PI <7), sét pha (PI =7 - 17 ) và đất sét (PI >17).

- Đất bùn hữu cơ, trong nghiên cứu đất xây dựng ngƣời ta thƣờng chia đất hữu cơ theo hàm lƣợng vật chất hữu cơ chứa trong đất yếu và đƣợc gọi tên nhƣ sau: nếu hàm lƣợng hữu cơ <10% đƣợc gọi là bùn hữu cơ, đất than bùn có hàm lƣợng hữu cơ từ 10% - 60% và than bùn có chứa hữu cơ > 60% [1]. Tuy vậy, theo 22TCN262-2000 thì đất than bùn, than bùn đƣợc gộp lại và thƣờng gọi là than bùn với hàm lƣợng hữu cơ từ 20 - 80%, bùn hữu cơ nếu hàm lƣợng hữu cơ < 20%. Ngoài ra, còn gọi tên đất theo mức độ chứa hàm lƣợng hữu cơ: đất chứa ít hữu cơ (2 - 5%), đất chứa hàm lƣợng hữu cơ trung bình (5 - 10%), đất chứa nhiều hữu cơ (10 - 15%) và đất chứa rất nhiều hữu cơ (15 - 20%). Có các loại bùn hữu cơ nhƣ: bùn cát pha (PI< 7; e0= 0,9 - 1,0), bùn sét pha (PI = 7 - 17; e0 = 1,0 - 1,5) và bùn sét (PI >17; e0 >1,5) [2].

Trong các tiêu chuẩn Anh (BS), Mỹ (ASTM) thì than bùn và các loại đất chứa hữu cơ khác có giới hạn chảy và giới hạn dẻo rất cao, chúng đều nằm dƣới đƣờng A trên biểu đồ dẻo và khi gọi tên đất đều phải kèm theo chữ Pt hoặc O nhƣ trên hình 1 phụ lục. 5 - Cát bụi bão hòa nƣớc thuộc loại đất rời hay đất loại cát. Tên gọi loại đất này phải thoả mãn điều kiện: nhóm hạt có đƣờng kính <2 mm chiếm > 50% và nhóm hạt có đƣờng kính >0,1 mm phải <75% [1]. Các công trình nghiên cứu về đất yếu đƣợc đề cập rất nhiều trong các Hội nghị quốc tế về “Cơ học đất, nền và móng” ở trên thế giới: Cambridge (1936), Rotterdam (1948), Paris (1961), Tallin (1965), Riga (1972).

Tuy nhiên, khái niệm về đất yếu cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất cao.Lomtadze xếp đất yếu vào nhóm đất có thành phần, trạng thái và tính chất đặc biệt [3]. Bên cạnh đó, Lareal Pierre quan niệm đất yếu là đất có khả năng chịu tải thấp (50 -100 kPa), tính nén lún lớn, hầu nhƣ bão hòa nƣớc, hệ số rỗng lớn (e0 >1), môđun biến dạng thấp (Eo< 5000 kPa), sức kháng cắt nhỏ [4]. Theo quan điểm xây dựng của một số nƣớc, đất yếu đƣợc xác định theo tiêu chuẩn về sức kháng cắt không thoát nƣớc Su và chỉ số xuyên tiêu chuẩn N30 (đất rất yếu khi Su ≤ 12,5 kPa hoặc N30 ≤ 2 và đất yếu khi Su ≤ 25 kPa hoặc N30 ≤ 4) [5], [6], [7]. Theo TCVN 9355-2012 đất yếu là loại đất cần phải tiến hành xử lý mới có thể làm nền móng cho công trình.

Các loại đất yếu thƣờng gặp là bùn, đất loại sét ở trạng thái dẻo chảy đến chảy. Những loại đất này thƣờng có độ sệt lớn (IL >0,75), hệ số rỗng lớn (e0 >1), góc ma sát trong nhỏ ( <100), cƣờng độ lực dính đơn vị theo kết quả cắt nhanh không thoát nƣớc c < 15 kPa, sức kháng cắt không thoát nƣớc theo VST Su < 35 kPa, có sức chống mũi xuyên qc < 10 kPa và chỉ số SPT là N30 < 5 [8]. Nền đất là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của đất gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn, cƣờng độ lực dính đơn vị c theo kết quả cắt nhanh không thoát nƣớc c ≤15 kPa, φ = 00 - 100 hoặc sức kháng cắt không thoát nƣớc theo VST Su ≤ 35 kPa [8]. Có thể nhận thấy trên thế giới và trong nƣớc, khái niệm về đất yếu và nền đất yếu cho đến nay vẫn chƣa rõ ràng và nhất quán, bởi lẽ đất có thể xem là “tốt” đối với CTXD này nhƣng lại “yếu” với CTXD khác.

Trên quan điểm xem xét mối quan hệ tƣơng tác giữa tính chất, quy mô tải trọng công trình và sức chịu tải của nền đất, tác giả cho rằng: Đất yếu là đất có khả năng chịu tải thấp (<50 - 100 kPa), độ bền kháng cắt được đặc trưng bằng cường độ lực dính đơn vị và góc ma sát trong thấp (c<10 kPa, φ<80), khả năng biến dạng được đặc trưng bằng hệ số nén lún lớn (a≥ 10 kPa-1) và môđun tổng 6 biến dạng nhỏ (E0≤5000 kPa). Nếu không có biện pháp xử lý thích hợp thì không thể xây dựng công trình trên đó. Nền đất yếu là nền đất không thuận lợi cho việc xây dựng công trình, khi xây dựng công trình trên nền đất yếu cần phải áp dụng các giải pháp xử lý nền một cách hợp lý và hiệu quả, nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài cho công trình.2 Nghiên cứu, sử dụng nền đất yếu trên thế giới Khi nghiên cứu đất yếu, việc đảm bảo đƣợc độ nguyên trạng của mẫu đất ở trong phòng là quan trọng nhất và vấn đề này đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. TCCL của mẫu đất trƣớc và sau khi phá hủy kết cấu tự nhiên có sự khác biệt nhau rất lớn, điều này đƣợc thể hiện rõ trên các đồ thị nén lún, quan hệ giữa ứng suất và biến dạng, sức kháng cắt và hệ số cố kết thấm của đất.

Thông qua các kết quả quan trắc hiện trƣờng, các biểu đồ quan hệ giữa độ lún và thời gian, sự thay đổi ALNLR và dịch chuyển ngang theo thời gian, Zhang đã đƣa ra các nhận định tƣơng tự nhƣ đã đề cập ở trên. Khi bị phá hủy kết cấu tự nhiên thì tính chất cơ học của đất loại sét yếu rất khó khôi phục. Để đánh giá độ nguyên trạng của mẫu có thể sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ: dựa vào độ hút dính của đất tại ứng suất hữu hiệu tự nhiên  v' 0 , tốc độ truyền sóng cắt. Dựa vào độ biến dạng khi nén cố kết hoặc độ biến dạng thể tích   khi cố kết đẳng hƣớng trên máy nén ba trục ở trạng thái ứng suất hữu hiệu tự nhiên, Andresen và nnk chỉ ra rằng các mẫu có độ biến dạng thể tích   4% đƣợc xem là đảm e  e1 bảo tính nguyên trạng (với   0 , %), đây là phƣơng pháp đơn giản và thƣờng sử 1  e1 dụng nhiều nhất để đánh giá chất lƣợng mẫu (chất lƣợng mẫu: rất tốt   1% ; tốt   1 2% ; khá tốt   2  4% ; mẫu bị phá hoại   4  8% và mẫu xấu   8% ) [6].

Nhằm cung cấp đầy đủ và chính xác các chỉ tiêu cơ lý của đất yếu phục vụ xây dựng đƣờng giao thông, cần phải sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu thành phần vật chất, đặc điểm sức kháng cắt và cố kết của đất yếu đƣợc đề cập bởi Nagaraj. TPVC là yếu tố đóng vai trò quyết định đến TCCL của đất yếu. Các nghiên cứu về 7 TPVC, trong đó nghiên cứu về TPKV của Ohtsubo và nnk đã khẳng định điều kiện tồn tại của đất yếu có vai trò quan trọng quyết định tới TPVC và TCCL của đất yếu [10]. Đất loại sét yếu ở Nhật Bản có TPKV chủ yếu là Smectit với độ nhạy cao, đất sét ở Singapore có khoáng vật sét chiếm ƣu thế là Kaolinit với độ nhạy trung bình và thấp, đất loại sét ở Pusan có khoáng vật chính là Vermiculit, Illit và có độ nhạy trung bình [6], [10].

Ngoài ra, các tác giả nhƣ V.Petrukhin cũng đã chú trọng đến việc nghiên cứu ảnh hƣởng của độ nhiễm mặn đến giới hạn chảy, chỉ số dẻo và sức kháng cắt của đất. Các nghiên cứu này đƣợc xem nhƣ là cơ sở cho những nghiên cứu về sau đối với đất nhiễm mặn ở nƣớc ta. Đất nhiễm phèn và các tính chất cơ học của đất cũng đƣợc nhiều tác giả đề cập [6]. Trong tự nhiên, TCXD của đất đá không chỉ phụ thuộc vào TPVC mà còn phụ thuộc vào đặc điểm kiến trúc của nó (E.

Bên cạnh đó, cấu tạo tự nhiên của đất cũng có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến TCXD của đất. Mặt khác, các tính chất cơ học của đất yếu cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu một cách chuyên sâu. Thật vậy, từ những năm 20 của thế kỷ trƣớc, đặc tính cố kết của mẫu đất bão hòa nƣớc đã đƣợc nghiên cứu bởi K. Terzaghi dựa trên mô hình thí nghiệm nén một trục và lý thuyết này dần đƣợc hoàn thiện bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới [6].

Trên thực tế, các bài toán cố kết một trục của K.Terzaghi vẫn là mô hình chính để tính toán các đặc tính cố kết của đất [5], [11], [12]. Theo lý thuyết của K. Terzaghi và nnk (1925-1948), quá trình cố kết thấm xảy ra khi áp lực ngoài tác dụng vào đất hoặc do trọng lƣợng của các lớp nằm trên, khi đó đất đƣợc nén chặt và nƣớc lỗ rỗng thoát ra ngoài. Lần đầu tiên K.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ