Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Nghiên cứu sử dụng xơ trung tính (NDF - Neutral Detergent Fibre) trong khẩu phần của bò lai hướng thịt (Black Angus, Charolais và Wagyu x lai Zebu)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Bình Trường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Thu, bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ năm 2022 thuộc chuyên ngành Chăn nuôi (mã số: 62620105). Công trình được tài trợ một phần bởi Dự án nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chương trình Zebu hóa đã cải tạo tầm vóc đàn bò địa phương. Gần đây, việc phối tinh bò chuyên thịt cao sản (Black Angus, Charolais, Wagyu) với bò cái nền lai Zebu nhằm tạo đàn bò lai hướng thịt thương phẩm đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, sự phát triển chăn nuôi bò thịt gặp hạn chế về khẩu phần dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh lý, nhóm giống và đặc biệt là giai đoạn vỗ béo. Trong bối cảnh giá thức ăn tinh và ngũ cốc gia tăng, việc tận dụng nguồn thức ăn thô xanh và phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ là giải pháp chủ đạo để hạ giá thành.

Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ điều chỉnh hàm lượng NDF thông qua việc thay đổi tỷ lệ thức ăn tinh/thức ăn hỗn hợp bổ sung (TABS), mà chưa làm rõ tác động từ sự thay đổi cấu trúc NDF nội tại của các nguồn thức ăn thô nhiệt đới. Đồng thời, việc xác định ngưỡng NDF tối ưu trong khẩu phần cho các nhóm bò lai hướng thịt cao sản thế hệ mới (Black Angus, Charolais, Wagyu lai Zebu) tại điều kiện sinh thái Tây Nam Bộ vẫn chưa được chuẩn hóa.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Đánh giá hàm lượng NDF trong khẩu phần ăn liên quan đến năng suất bò thịt được nuôi trong điều kiện nông hộ tại tỉnh An Giang.
  2. Xác định cấu trúc và ảnh hưởng của nguồn, mức NDF trong khẩu phần lên sự tiêu hóa và sinh khí trong điều kiện in vitro.
  3. Xác định hàm lượng NDF thích hợp trong khẩu phần ở điều kiện in vivo đối với các giống bò lai Black Angus, lai Charolais và lai Wagyu.
  4. Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng NDF trong khẩu phần đến tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 giống bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu.

Giả thuyết nghiên cứu

Cấu trúc và hàm lượng NDF từ thức ăn thô trong khẩu phần ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiêu thụ, tiêu hoá dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tăng khối lượng ở bò lai hướng thịt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bò đực lai Zebu nuôi tại nông hộ (giai đoạn 6, 12, 18, 24, 30 và 36 tháng tuổi) và 3 nhóm bò lai hướng thịt đực F1 gồm: (Black Angus x lai Zebu), (Charolais x lai Zebu) và (Wagyu x lai Zebu).
  • Phạm vi không gian: Các nông hộ chăn nuôi tại 3 huyện Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới (An Giang); Trại chăn nuôi bò thuộc Công ty TNHH MTV SD (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang); Phòng thí nghiệm E205, Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ dữ liệu và thí nghiệm được thực hiện từ tháng 02/2018 đến tháng 08/2020 (trong đó giai đoạn điều tra nông hộ diễn ra từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2018).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Cơ cấu giống và tiềm năng con lai hướng thịt: Giao (2018) thống kê tỷ lệ bò lai cả nước tăng từ 12,0% (năm 1995) lên 63,2% (năm 2017). Các nghiên cứu của Duy và ctv. (2020) tại Tây Nguyên; Quyến và ctv. (2020a, 2020b, 2020c) tại Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh; Trường & Thu (2017, 2018) tại An Giang cho thấy bò lai Zebu chiếm đa số (40,8 - 77,2%), trong khi các nhóm bò lai chuyên thịt (Angus, Charolais, Wagyu, BBB, Droughtmaster) đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Đặc điểm năng suất các giống chuyên thịt thuần và con lai được mô tả bởi Cương (2016), Moreira et al. (2013), Dũng & Ngoan (2015), Đoàn và ctv. (2019), Huệ (2010, 2017), Motoyama et al. (2016), Gotoh et al. (2014) và Vũ (2019).
  • Đặc trưng thành phần và vai trò của NDF: Van Soest et al. (1991) và Mertens (2014) xác lập NDF đại diện cho carbohydrate cấu trúc của vách tế bào thực vật ($NDF = Hemicellulose + Cellulose + Lignin$). Harper & McNeill (2015) phân lập NDF thành phần có khả năng tiêu hóa tiềm năng (pdNDF) và phần NDF không tiêu hóa (iNDF), đóng vai trò kiểm soát nhu động dạ cỏ, kích thích tiết nước bọt và cung cấp năng lượng trao đổi (ME).
  • Mối liên hệ giữa NDF, lượng thu nhận thức ăn (DMI) và năng lượng: Arelovich et al. (2008) tổng hợp 11 nghiên cứu trên bò thịt chỉ ra mối tương quan thuận giữa NDF và DMI theo khối lượng cơ thể ($y = 0,034x + 1,517$; $R^2 = 0,954$), DMI tuyệt đối ($y = 0,160x + 6,093$; $R^2 = 0,965$) và năng lượng thuần cho tăng trưởng NEg ($y = 1,189x + 61,52$; $R^2 = 0,859$). Mô & Thu (2008b) và Thu & Đông (2011) xác lập mối tương quan nghịch giữa NDF và ME trên thức ăn thô ($y = -0,0975x + 14,794$; $R^2 = 0,5546$) và thức ăn bổ sung ($y = -0,075x + 14,97$; $R^2 = 0,513$).
  • Ứng dụng mức NDF trên gia súc nhai lại: Nghiên cứu trên cừu của Thu & Đông (2013) ghi nhận tỷ lệ tiêu hóa NDF tối ưu ở mức 55-61% NDF ($y = -0,119x^2 + 14,7x - 384$; $R^2 = 0,895$). Trên dê, Thùy và ctv. (2016) và Sousa et al. (2017) chứng minh nguồn xơ ảnh hưởng rõ nét đến tiêu hóa dưỡng chất. Trên trâu Nili Ravi, Ahmad et al. (2014) kết luận mức NDF 33% cho hiệu quả tiêu hóa cao nhất. Trên bò thịt, Mô (2009) thử nghiệm khẩu phần NDF từ 63% đến 69% trên bò lai Sind; Vân và ctv. (2015) khuyến cáo mức NDF 24% trong khẩu phần TMR cho bò lai Droughtmaster x Lai Sind (18-21 tháng tuổi) nhưng sử dụng tỷ lệ thức ăn bổ sung cao (49-86%); Dũng và ctv. (2019), Lâm và ctv. (2019) và Thạch (2020) nghiên cứu tập tính nhai và chế phẩm sinh học phân giải xơ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết bài toán: Khi chăn nuôi dựa trên nguồn thức ăn thô sẵn có tại địa phương để giảm chi phí thức ăn tinh, hàm lượng NDF bao nhiêu là tối ưu để vừa đảm bảo hoạt động sinh lý bình thường của dạ cỏ, vừa tối đa hóa tỷ lệ tiêu hóa, tích lũy nitơ và tăng khối lượng trên 3 nhóm bò lai chuyên thịt (Black Angus, Charolais, Wagyu x lai Zebu).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết phân giải xơ của Van Soest: Sử dụng dung dịch tẩy rửa trung tính và axit để phân lập các hợp chất vách tế bào.
  • Lý thuyết lên men carbohydrate dạ cỏ (McDonald et al., 2010): Carbohydrate (cellulose, hemicellulose, pectin, tinh bột, đường) được vi sinh vật phân giải thành pyruvate, sau đó chuyển hóa thành các axit béo bay hơi (VFA: acetate, propionate, butyrate), $CO_2$ và $CH_4$. Axit acetic tạo 8 mol ATP/mol, butyric tạo 22 liên kết phosphat cao năng, propionic tạo 13,5 mol ATP/mol thông qua chu trình Krebs.
  • Cơ chế sinh khí mêtan: Vi khuẩn sinh mêtan (methanogens) sử dụng khí hydro ($H_2$) sinh ra từ quá trình lên men để khử $CO_2$ thành $CH_4$, giúp duy trì nồng độ hydro thấp trong dạ cỏ (Kobayashi, 2010; Kameshwar et al., 2021).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai 4 nội dung nghiên cứu phối hợp giữa điều tra khảo sát, thí nghiệm in vitro, thí nghiệm in vivo và thử nghiệm sinh trưởng:

[Khảo sát Nông hộ (NC1)] 
[Thí nghiệm In vitro (NC2)] 
[Thí nghiệm In vivo (NC3)] 
[Thử nghiệm Nuôi dưỡng Tăng trọng (NC4)] 
         (Đánh giá 3 giống bò lai ở mức NDF tối ưu 55%)
  1. Nội dung nghiên cứu 1 (NC1 - Điều tra khảo sát):
    • Áp dụng phương pháp điều tra cắt ngang và hồi cứu (Kaps & Lamberson, 2004) tại 52 hộ chăn nuôi bò thịt nuôi nhốt thuộc 3 huyện (Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, tỉnh An Giang).
    • Theo dõi 6 nhóm tuổi: 6, 12, 18, 24, 30 và 36 tháng tuổi. Cân lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa liên tục trong 7 ngày bằng cân đồng hồ lò xo Nhơn Hòa (5 kg và 30 kg). Đo vòng ngực bằng thước dây ILRI-IAS-L1 để quy đổi khối lượng cơ thể.
  2. Nội dung nghiên cứu 2 (NC2 - Thí nghiệm in vitro):
    • Thí nghiệm 2A (TN 2A): Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn NDF thức ăn thô đến khả năng sinh khí mêtan ($CH_4$) và carbonic ($CO_2$) bằng kỹ thuật sinh khí in vitro ở các mốc thời gian 0, 3, 6, 12, 24, 48 và 72 giờ.
    • Thí nghiệm 2B (TN 2B): Đánh giá ảnh hưởng của các mức NDF (35, 41, 47, 53, 59 và 65%) đến tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ in vitro (OMD).
  3. Nội dung nghiên cứu 3 (NC3 - Thí nghiệm in vivo tiêu hóa và cân bằng nitơ):
    • Bố trí thí nghiệm trên 3 nhóm bò đực lai: (Black Angus x Zebu - TN 3A), (Charolais x Zebu - TN 3B) và (Wagyu x Zebu - TN 3C) trong chuồng tiêu hóa cá thể.
    • Đánh giá 4 mức NDF trong khẩu phần (47, 51, 55 và 59% DM).
    • Xác định lượng thu nhận dưỡng chất, tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến (DMD, OMD, CPD, NDFD, ADFD), các thông số môi trường dạ cỏ (pH, nồng độ $N-NH_3$, tổng VFA tại thời điểm 0 giờ và 3 giờ sau khi ăn) và cân bằng nitơ.
  4. Nội dung nghiên cứu 4 (NC4 - Thử nghiệm nuôi dưỡng tăng trưởng):
    • Nuôi dưỡng cá thể 3 nhóm bò lai (Black Angus, Charolais, Wagyu x lai Zebu) với khẩu phần NDF thích hợp được lựa chọn từ NC3 (mức 55% NDF).
    • Theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ, tăng khối lượng hàng ngày (DWG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và phân tích hạch toán kinh tế (chênh lệch chi thu).

Nguồn dữ liệu và phân tích hóa học

  • Phân tích các chỉ tiêu vật chất khô (DM), chất hữu cơ (OM), đạm thô (CP), béo thô (EE), xơ thô (CF), xơ trung tính (NDF), xơ axit (ADF) và tro tại Phòng thí nghiệm E205, Trường Đại học Cần Thơ theo quy trình chuẩn của AOAC và Van Soest.
  • Dữ liệu được xử lý thống kê bằng phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định Duncan hoặc Tukey và hồi quy tuyến tính/đa biến trên phần mềm thống kê chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này phân tích bối cảnh phát triển chăn nuôi bò thịt tại ĐBSCL, nhấn mạnh vai trò chuyển đổi cơ cấu con giống từ bò lai Zebu kiêm dụng sang các tổ hợp lai chuyên thịt cao sản F1 (Black Angus, Charolais, Wagyu). Trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu mức NDF trong khẩu phần ăn từ các nguồn thức ăn thô sẵn có nhằm chủ động dinh dưỡng và giảm chi phí chăn nuôi. Xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu, 4 nội dung cụ thể, ý nghĩa khoa học và 4 điểm mới của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp toàn diện cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Cơ cấu giống: Phân tích 4 nhóm giống bò thịt trên thế giới (Cương, 2016); tổng kết cơ cấu giống bò tại Việt Nam và kết quả khảo sát 3.169 bò đực tại 651 hộ ở An Giang (Trường & Thu, 2017), cho thấy bò lai Zebu chiếm 98,5% và bò lai chuyên thịt mới chiếm 1,47%.
  • Giá trị dinh dưỡng của thực liệu: Tổng hợp giá trị hóa học và năng lượng của 48 loại thức ăn thô và 12 loại thức ăn bổ sung tại ĐBSCL:
Nhóm thức ăn Chỉ tiêu DM (%) Chỉ tiêu CP (%DM) Chỉ tiêu NDF (%DM) Năng lượng ME (MJ/kgDM)
Thức ăn thô (48 loại) $23,6 \pm 17,1$ $11,0 \pm 4,92$ $56,0 \pm 13,8$ $9,33 \pm 1,80$
Thức ăn bổ sung (12 loại) $72,2 \pm 30,3$ $17,8 \pm 13,4$ $32,2 \pm 18,2$ $12,6 \pm 1,90$

Ghi chú: Thức ăn thô có NDF dao động từ 29,2% (lá so đũa) đến 79,4% (cỏ vetiver); ME dao động từ 4,41 đến 13,4 MJ/kgDM. Mối tương quan nghịch giữa NDF và ME toàn bộ mẫu thức ăn thể hiện qua phương trình $y = -0,1044x + 15,328$ ($R^2 = 0,6709$).

  • Sinh lý dạ cỏ: Phân tích chi tiết chu trình phân giải carbohydrate thành pyruvate, chuyển hóa thành 3 axit béo bay hơi chính (acetate : propionate : butyrate với tỷ lệ mol thông thường $0,65 : 0,21 : 0,14$) và sinh tổng hợp mêtan.
  • Mối quan hệ NDF - tiêu hóa: Điểm lại các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của NDF trên cừu (Natel et al., 2014; Thu & Đông, 2013), trên dê (Cannas et al., 2007; Thùy và ctv., 2016), trên trâu (Ahmad et al., 2014) và trên bò thịt (Arelovich et al., 2008; Mô, 2009; Vân và ctv., 2015).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết thiết kế thí nghiệm cho 4 nội dung nghiên cứu:

  • Thiết lập quy trình điều tra cắt ngang tại 52 hộ ở An Giang, xác định khối lượng qua vòng ngực.
  • Quy trình ủ in vitro đo thể tích khí tổng số, $CH_4$ và $CO_2$ bằng xy-lanh thủy tinh ở các thời điểm từ 0 đến 72 giờ.
  • Thiết kế chuồng tiêu hóa cá thể chuyên dụng cho bò đực lai hướng thịt khối lượng lớn; kỹ thuật lấy mẫu phân, nước tiểu để xác định tiêu hóa biểu kiến và cân bằng nitơ; kỹ thuật lấy dịch dạ cỏ bằng ống thông thực quản ở thời điểm trước khi cho ăn (0 giờ) và sau khi cho ăn 3 giờ để đo pH, $N-NH_3$ và VFA.
  • Phương pháp bố trí nuôi dưỡng cá thể đánh giá DWG, FCR và phương pháp hạch toán kinh tế (chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y so với doanh thu bán bò thịt).

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày và thảo luận sâu kết quả của 4 nội dung nghiên cứu:

1. Nội dung nghiên cứu 1: Khảo sát tại nông hộ An Giang

Khẩu phần bò đực lai Zebu nuôi thịt tại nông hộ chủ yếu là cỏ tự nhiên kết hợp rơm lúa và lượng nhỏ phụ phẩm/thức ăn bổ sung. Hàm lượng NDF trong khẩu phần thực tế dao động từ 49,7% đến 57,9% DM (trung bình 49,9% ở giai đoạn 6-36 tháng tuổi). Khẩu phần giàu xơ nhưng thiếu năng lượng và protein đã gây hạn chế về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể của đàn bò thịt nuôi tại nông hộ.

2. Nội dung nghiên cứu 2: Cấu trúc NDF và thí nghiệm in vitro

  • TN 2A: Các nguồn thức ăn thô khác nhau có cấu trúc vách tế bào khác nhau. Hàm lượng carbohydrate hòa tan (NFC) hoặc chiết chất không đạm (NFE) trong thực liệu có ảnh hưởng đến thể tích khí tổng số và sự sinh khí $CH_4$ mạnh hơn so với hàm lượng NDF, ADF, CP và EE.
  • TN 2B: Khi tăng mức NDF từ 35% lên 65% trong hỗn hợp ủ, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ in vitro (OMD) giảm dần có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$). Tuy nhiên, ở các mức NDF từ 47% đến 59%, OMD vẫn duy trì ở mức thích hợp, tạo tiền đề để lựa chọn dải NDF này cho các thử nghiệm in vivo.

3. Nội dung nghiên cứu 3: Thí nghiệm in vivo trên 3 nhóm bò lai

Kết quả thử nghiệm 4 mức NDF (47, 51, 55, 59%) trên 3 nhóm bò lai:

  • Tiêu hóa dưỡng chất: Khi tăng dần tỷ lệ NDF từ 47% lên 59%, tỷ lệ tiêu hóa chất khô (DMD) và chất hữu cơ (OMD) giảm dần có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$). Tuy nhiên, giữa nghiệm thức NDF 47% và NDF 55% không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$).
  • Môi trường dạ cỏ: Tại thời điểm trước khi ăn (0 giờ) và 3 giờ sau khi ăn, các chỉ số pH dạ cỏ, nồng độ $N-NH_3$ và tổng nồng độ VFA đều nằm trong giới hạn sinh lý tối ưu cho hệ vi sinh vật dạ cỏ hoạt động và không có sự khác biệt ý nghĩa ($P > 0,05$) giữa các mức NDF.
  • Tích lũy nitơ và tăng khối lượng: Có xu hướng giảm dần khi tăng mức NDF trong khẩu phần ($P > 0,05$). Mức NDF 55% được xác định là ngưỡng tối ưu, cân bằng giữa khả năng tiêu hóa, môi trường dạ cỏ và chi phí thức ăn.

4. Nội dung nghiên cứu 4: Đánh giá 3 giống bò lai ở mức NDF 55%

So sánh khả năng sản xuất của 3 nhóm bò lai hướng thịt F1 khi nuôi ở mức NDF 55%:

Nhóm giống bò lai (x cái Zebu) Lượng DM tiêu thụ (kg/con/ngày) Tăng khối lượng - DWG (g/con/ngày) Hệ số FCR (kg DM/kg tăng KL) Hiệu quả kinh tế (Chênh lệch thu chi)
Bò lai Charolais Cao nhất Xu hướng cao nhất Thấp nhất (tốt nhất) Cao nhất
Bò lai Black Angus Trung bình Khá Khá Khá
Bò lai Wagyu Thấp hơn Trung bình Cao hơn Thấp hơn

Khẩu phần chứa 55% NDF giúp bò lai hướng thịt phát huy tốt tiềm năng sinh trưởng, trong đó bò lai Charolais thể hiện ưu thế vượt trội về khả năng tiêu thụ, tăng trọng và hiệu quả kinh tế so với bò lai Black Angus và Wagyu.

Chương 5: Kết luận và đề xuất

Tổng hợp các kết luận khoa học rút ra từ 4 nội dung và đưa ra các khuyến nghị ứng dụng thực tiễn trong công tác phối trộn khẩu phần và lựa chọn giống bò lai cho vùng chăn nuôi ĐBSCL.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Xác lập được cơ sở khoa học về mức NDF trong khẩu phần ăn thực tế của đàn bò thịt nông hộ tại tỉnh An Giang (49,7 - 57,9% DM), làm rõ nguyên nhân hạn chế tăng khối lượng của đàn bò địa phương.
  2. Chứng minh rằng trong điều kiện in vitro, sự sản sinh khí nhà kính ($CH_4$) từ thức ăn thô chịu tác động chi phối bởi carbohydrate hòa tan (NFC/NFE) mạnh hơn so với các thành phần xơ cấu trúc (NDF, ADF) hay protein và lipid thô.
  3. Làm sáng tỏ quy luật giảm tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và NDF khi nâng hàm lượng NDF từ 35% lên 65% trong điều kiện in vitro.
  4. Xác định được mức NDF 55% trong khẩu phần là ngưỡng giới hạn thích hợp trên gia súc nhai lại nuôi thịt, giúp duy trì ổn định môi trường dạ cỏ (pH, $N-NH_3$, VFA), tối ưu hóa cân bằng nitơ mà không làm suy giảm tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến so với mức NDF 47% ($P > 0,05$).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng

  1. Đưa ra khuyến cáo thực tiễn về công thức khẩu phần có mức xơ trung tính 55% NDF phù hợp cho chăn nuôi bò lai hướng thịt tại ĐBSCL, giúp người nuôi tận dụng tối đa nguồn thức ăn thô xanh, phụ phẩm địa phương và giảm thiểu việc sử dụng thức ăn tinh đắt tiền.
  2. Cung cấp dữ liệu so sánh chuẩn xác về khả năng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế giữa 3 nhóm bò lai chuyên thịt thế hệ mới, khẳng định bò lai Charolais đạt hiệu quả kinh tế và tăng trọng cao nhất trong điều kiện khẩu phần 55% NDF.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ứng dụng mức 55% NDF trong quy trình kỹ thuật vỗ béo bò lai hướng thịt tại các trang trại và nông hộ.
  • Ưu tiên phát triển tổ hợp bò lai Charolais x lai Zebu tại các vùng có nguồn thức ăn thô dồi dào để nâng cao năng suất thịt xẻ và hiệu quả kinh tế.
  • Khai thác và xử lý các nguồn phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ (rơm lúa, thân bắp, ngọn mía) theo đúng tỷ lệ NDF khuyến cáo nhằm đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu tập trung đánh giá trên 3 nhóm con lai F1 giữa tinh bò chuyên thịt (Black Angus, Charolais, Wagyu) với nền bò cái lai Zebu tại vùng sinh thái An Giang (ĐBSCL), chưa mở rộng trên các nhóm con lai cấp máu cao hơn hoặc tại các vùng sinh thái có điều kiện khí hậu, nguồn thức ăn khác biệt (như Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung).
  • Thí nghiệm sinh trưởng NC4 chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn, chưa tiến hành giết mổ khảo sát chi tiết tỷ lệ thịt tinh, phẩm chất thịt (độ mềm, tỷ lệ vân mỡ - marbling score) ở giai đoạn giết thịt thương phẩm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu sâu hơn về tỷ lệ phân chia giữa NDF tiêu hóa tiềm năng (pdNDF) và NDF không tiêu hóa (iNDF) trên từng loại phụ phẩm nông nghiệp nhiệt đới cụ thể.
  • Đánh giá chất lượng thân thịt và các chỉ tiêu cảm quan, hóa sinh của thịt bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu nuôi bằng khẩu phần 55% NDF ở các độ tuổi giết mổ khác nhau.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Luận án cung cấp hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh từ khảo sát hiện trạng, kỹ thuật sinh khí in vitro, bố trí chuồng tiêu hóa in vivo đo đạc cân bằng dưỡng chất và các chỉ số sinh lý dạ cỏ trên đại gia súc.
  • Đối với các nhà dinh dưỡng động vật và cán bộ khuyến nông: Cung cấp cơ sở dữ liệu dinh dưỡng chi tiết về 48 loại thức ăn thô, 12 loại thức ăn bổ sung và các phương trình hồi quy tương quan giữa NDF và ME, hỗ trợ thiết lập phần mềm khẩu phần ăn chính xác cho bò thịt.
  • Đối với các chủ trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi bò thịt: Luận án là hướng dẫn thực tế để phối trộn khẩu phần tối ưu ở mức 55% NDF, lựa chọn giống bò lai phù hợp (đặc biệt là con lai Charolais) nhằm nâng cao lợi nhuận chăn nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Hàm lượng xơ trung tính (NDF) trong khẩu phần thực tế của bò thịt tại nông hộ tỉnh An Giang là bao nhiêu và ảnh hưởng thế nào đến sinh trưởng?

Theo kết quả khảo sát tại 52 hộ thuộc 3 huyện (Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới) ở NC1, hàm lượng NDF trong khẩu phần bò đực lai Zebu dao động từ 49,7% đến 57,9% DM (trung bình 49,9% ở giai đoạn 6-36 tháng tuổi). Khẩu phần này chứa tỷ lệ xơ cao từ cỏ tự nhiên và rơm lúa nhưng thiếu hụt protein và năng lượng, dẫn đến sự hạn chế về tầm vóc và tốc độ tăng khối lượng của đàn bò.

2. Mối quan hệ giữa hàm lượng NDF và giá trị năng lượng trao đổi (ME) của thức ăn được xác định như thế nào?

Kết quả phân tích 48 loại thức ăn thô và 12 loại thức ăn bổ sung cho thấy mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa NDF và ME:

  • Thức ăn thô: $y = -0,0975x + 14,794$ ($R^2 = 0,5546$).
  • Thức ăn bổ sung: $y = -0,075x + 14,97$ ($R^2 = 0,513$).
  • Tổng hợp chung các loại thức ăn: $y = -0,1044x + 15,328$ ($R^2 = 0,6709$).

Khi hàm lượng NDF trong thực liệu càng cao thì giá trị năng lượng trao đổi (ME) càng giảm.

3. Thành phần nào của thức ăn thô ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát thải khí mêtan (CH4) trong điều kiện in vitro?

Trong điều kiện thí nghiệm in vitro (TN 2A), kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến chỉ ra rằng thành phần carbohydrate hòa tan (NFC) hoặc chiết chất không đạm (NFE) của thức ăn thô có ảnh hưởng lớn hơn đến thể tích khí tổng số và sự sản sinh khí $CH_4$ so với hàm lượng NDF, ADF, CP và EE. Điều này được giải thích là do tốc độ lên men rất nhanh của nhóm carbohydrate hòa tan trong dịch dạ cỏ.

4. Tại sao mức 55% NDF được chọn là ngưỡng tối ưu cho khẩu phần bò lai hướng thịt?

Thí nghiệm in vivo (NC3) trên cả 3 giống bò lai cho thấy khi tăng NDF từ 47% lên 59%, tỷ lệ tiêu hóa DM và OM giảm dần ($P < 0,05$), nhưng giữa mức NDF 47% và NDF 55% không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Đồng thời, ở mức NDF 55%, các chỉ tiêu môi trường dạ cỏ (pH, $N-NH_3$, tổng VFA) trước và sau 3 giờ ăn đều ổn định, cân bằng nitơ đạt mức tốt, cho phép tối đa hóa việc sử dụng thức ăn thô địa phương mà không làm suy giảm năng suất nuôi dưỡng.

5. Giống bò lai nào thể hiện khả năng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế tốt nhất ở mức khẩu phần 55% NDF?

Trong thử nghiệm nuôi dưỡng NC4 với khẩu phần 55% NDF, bò lai Charolais (Charolais x lai Zebu) thể hiện ưu thế vượt trội nhất về lượng vật chất khô tiêu thụ, tăng khối lượng hàng ngày (DWG cao nhất), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR thấp nhất) và mức chênh lệch thu chi kinh tế cao hơn so với nhóm bò lai Black Angus và lai Wagyu.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Bình Trường đã giải quyết một vấn đề kỹ thuật trọng tâm trong dinh dưỡng đại gia súc: xác lập ngưỡng xơ trung tính (NDF) 55% là mức tối ưu trong khẩu phần ăn của bò lai hướng thịt tại vùng ĐBSCL. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng mức NDF 55% duy trì ổn định môi trường lên men dạ cỏ, đảm bảo khả năng tiêu hóa dưỡng chất và tích lũy nitơ tương đương với mức NDF 47%, đồng thời giúp tận dụng hiệu quả nguồn thức ăn thô xanh và phụ phẩm nông nghiệp địa phương. Trong 3 tổ hợp lai khảo sát, con lai Charolais x lai Zebu thể hiện khả năng chuyển hóa thức ăn, tốc độ tăng trọng và hiệu quả kinh tế vượt trội nhất khi nuôi dưỡng bằng khẩu phần 55% NDF. Đây là công trình khoa học có giá trị dữ liệu thực nghiệm phong phú, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình chăn nuôi bò thịt thâm canh và bán thâm canh tại Việt Nam.