CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. Vai trò của chăn nuôi bò thịt a. Chăn nuôi bò thịt đóng góp vào gia tăng sản lượng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Nông nghiệp và khu vực nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân: cung cấp sản phẩm làm nguyên liệu cho sản xuất, xuất khẩu sản phẩm tạo nguồn ngoại tệ, cung cấp lao động cho các lĩnh vực kinh tế và là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và góp phần giải quyết vấn đề xã hội cho đất nước.
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp là nguồn sống của đại đa số dân cư, do vậy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là cơ sở để giải quyết nhiều vấn đề của đất nước như: đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên, xóa đói giảm nghèo và ổn định kinh tế xã hội. Để phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thực hiện quá trình công nghiệp hóa cần thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp có hai ngành lớn là trồng trọt và chăn nuôi, ngoài ra còn có thể kể tới một số ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc phát triển ngành chăn nuôi vừa đáp ứng với điều kiện thực tế, vừa phù hợp xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế - tăng tỷ trọng của chăn nuôi trong giá trị sản lượng ngành nông nghiệp và tập trung vào phát triển đại gia súc.
Từ năm 1991 đến nay, ngành chăn nuôi ở nước ta phát triển tương đối nhanh. Tuy nhiên, vì quy mô của chăn nuôi vẫn còn nhỏ, nên chưa thể thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành nông nghiệp. Nếu năm 1996 trong 1% tăng 8 trưởng của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt đóng góp 86%, chăn nuôi chỉ đóng góp 13,4%, đến năm 2009 tỷ trọng có sự thay đổi trong đó trồng trọt tuy có giảm nhưng vẫn còn cao khoảng 63,5%, chăn nuôi tăng lên 35%. Như vậy, với những ưu thế của mình, muốn cho nông nghiệp phát triển cần phải phát triển chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi bò thịt và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Chăn nuôi bò thịt đảm bảo cung cấp cho nền kinh tế nhiều loại sản phẩm Từ ngàn đời nay, con người đã thuần hoá và nuôi bò để phục vụ cho các lợi ích khác nhau. Cũng giống một số loài nhai lại khác như dê, cừu, trâu… bò có khả năng sử dụng và chuyển hoá các loại thức ăn thô xanh (các loại rau, cỏ tự nhiên, cỏ trồng.), các phế phụ phẩm CNN (rơm lúa, bã sắn, ngọn mía, bẹ và lá ngô,…) có giá trị hàng hoá rất thấp hoặc thậm chí không có giá trị hàng hoá thành nhiều sản phẩm có giá trị cao. Thứ nhất, tăng sản phẩm thịt cho xã hội, do vậy mà giảm nhập khẩu thịt đỏ (thịt trâu và bò). Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của con người ngày càng được nâng lên.
Trong điều kiện lao động của nền kinh tế và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao đòi hỏi cường độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm dinh dưỡng cao từ sản phẩm động vật mà đặc biệt là thịt bò sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Chăn nuôi bò thịt sẽ đáp ứng được yêu cầu đó. Thành phần dinh dưỡng của thịt bò và một số vật nuôi khác Thành phần hoá học (g/100g) Loại thịt Nước Protein Mỡ Khoáng Calo Thịt bò 70,5 18 10,5 1 171 Trâu bắp 72,3 21,9 4,9 0,9 118 Lợn (1/2 nạc) 60,9 16,5 21,5 1,1 268 Thịt gà 69,2 22,4 7,5 0,9 162 (Nguồn: Nuôi trâu bò ở nông thôn và trang trại - TS. Phùng Quốc Quảng) 9 Thịt bò được xếp vào nhóm “thịt đỏ”, có giá trị dinh dưỡng cao.
Từ thịt bò người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn ngon bổ. Chính vì vậy, trên thị trường thịt bò luôn luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm (là loại thịt trắng). Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là nguồn prôtein. Đó là loại prôtein hoàn thiện, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể.
Thịt cũng chứa các thành phần khác, trong đó có mỡ. Chính mỡ trong thịt làm cho nó vừa có giá trị năng lượng cao vừa góp phần tăng hương vị thơm ngon của thịt. Thứ hai, là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản. Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ chăn nuôi.
Phân chuồng với tỷ lệ N.K cao và cân đối, biết chế biến và sử dụng hợp lý có ý nghĩa lớn trong cải tạo đất trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng. Theo ước tính, “mỗi năm từ một con bò cho 8 - 10 tấn phân hữu cơ, trong đó 2 - 4 tấn phân nguyên chất”. Phân trâu, bò sau khi xử lý có thể là thức ăn tốt cho cá và các đối tượng nuôi thuỷ sản khác. Ở nước ta, phân bò được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt rất phổ biến, đáp ứng 50-70% nhu cầu phân hữu cơ trong nông nghiệp.
Thứ ba, cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển. Ở nước ta, nghề nuôi bò gắn liền với nghề trồng lúa nước. Ngày nay, chúng ta đang từng bước cơ giới hoá nông nghiệp, nhưng vai trò của bò trong khâu làm đất (cày, bừa) và trong nông nghiệp nói chung vẫn rất quan trọng, đặc biệt tại những vùng nông thôn nghèo không có điều kiện đầu tư máy móc nông nghiệp và những vùng đồi núi khó có thể sử dụng phương tiện máy móc để làm việc thì sử dụng trâu bò cày bừa vẫn có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh đó, bò cũng được sử dụng làm phương tiện chuyên chở, đặc biệt tại các vùng mà đường xá đi lại không thuận tiện.
10 Thứ tư, cung cấp các phụ phẩm giết mổ cho nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ Da bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương. Người ta dùng da để sản xuất đế giầy, thắt lưng, yên xe, các loại đai da… Da có thể được tách thành 3 lớp: lớp ngoài cùng để sản xuất những mặt hàng cao cấp, làm áo khoác ngoài; lớp giữa làm vali và làm túi đựng áo quần, còn có dính thịt ở trong cùng để sản xuất các sản phẩm da mịn, các lớp lót trong. Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da. Đáng tiếc là ở nước ta chưa có những cơ chế và biện pháp thích hợp để thu thập nguồn nguyên liệu này.
Nhiều vùng nông thôn sử dụng lãng phí da bò, dùng da bò làm thực phẩm. Lông bò rất thích hợp để sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau một số máy móc quang học. Sừng bò có nhiều hình dạng khác nhau. Màu sắc cũng thay đổi.
Nếu hơ nóng trên ngọn lửa, sừng bò trở nên dễ uốn theo các hình dạng khác nhau và cuối cùng được cố định trong nước lạnh. Sừng bò được gia công chế biến cẩn thận có thể sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị. Là nguyên liệu rất quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ. Chăn nuôi bò thịt giúp khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên Khi chăn nuôi bò trong một khu vực hay một vùng nào, những đồng bãi chăn thả sẽ được khai thác một cách hiệu quả về mặt kinh tế cũng như giải quyết những vấn đề về lao động.
Bò có hệ thống thần kinh phát triển cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng và chống chịu tốt với những điều kiện sống khó khăn với bệnh tật. Khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác chúng thích nghi dễ dàng hơn so với các loài gia súc khác. Chăn nuôi bò thịt tạo thu nhập cho nông dân Chăn nuôi bò thịt là một ngành kinh doanh có thể thu nhiều lãi, vì nó có 11 điều kiện tăng năng suất cao (nhất là việc cơ giới hoá các quá trình sản xuất) và sử dụng hợp lý các loại đất, tận dụng triệt để các loại phế phẩm của ngành trồng trọt và chế biến nông sản là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp, tổng hợp thành các loại thức ăn có giá trị cao thông qua chế biến cung cấp cho bò thịt. Đây cũng là một trong các yếu tố để làm cho giá thành sản phẩm chăn nuôi bò thịt hạ, sẽ có khả năng phát triển nhanh chóng và rộng rãi tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thu nhập, tích luỹ và cải thiện đời sống.
Bên cạnh đó, chăn nuôi bò thịt còn giúp nông dân có thêm thu nhập như tiền cày kéo thuê, giúp họ cải thiện cuộc sống, thoát đói nghèo. Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành sản xuất của sản xuất nông nghiệp, có những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống - bò thịt. Đối tượng của ngành chăn nuôi bò thịt là những cơ thể sống có thần kinh rất mẫn cảm với môi trường. Cơ thể vật nuôi và môi trường là một thể thống nhất.
Do đó đòi hỏi người chăn nuôi phải tìm mọi biện pháp kinh tế - kỹ thuật, tổ chức quản lý (như sản xuất và cung cấp thức ăn, xây dựng chuồng trại hợp lý…) phù hợp với đặc điểm của từng giống bò thịt và từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển thì mới đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong quá trình sản xuất và quản lý sản xuất, chỉ cần một thiếu sót nào đó trong một khâu công việc cũng có thể dẫn đến những ảnh hưởng lớn, thậm chí làm tổn hại đến cả đàn. Do đó, phải tác động cân đối và đồng bộ các biện pháp mới có thể thu được kết quả cao, sản xuất kinh doanh ngành chăn nuôi mới có lãi. Thứ hai, chăn nuôi bò thịt có thể phát triển tập trung mang tính chất như sản xuất công nghiệp hay di động phân tán mang tính chất như sản xuất nông nghiệp.
12 Chính đặc điểm này đã làm hình thành và xuất hiện ba phương thức chăn nuôi bò thịt khác nhau như chăn nuôi tự nhiên, chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi sinh thái.