Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chăn nuôi gia súc, nguyên lý "giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở" đóng vai trò then chốt trong việc xác định năng suất và hiệu quả kinh tế. Đối với loài lợn – đối tượng sử dụng nguồn thức ăn có tính chất cạnh tranh lương thực trực tiếp với con người – việc tìm kiếm các giải pháp thức ăn thay thế giàu dinh dưỡng, giá thành thấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi, phương thức chăn nuôi nông hộ dưới hình thức tự phát, quảng canh nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số. Do đặc thù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng đất canh tác nông nghiệp ít, năng suất lúa thấp, bài toán đảm bảo an ninh lương thực luôn là ưu tiên hàng đầu, kéo theo sự hạn chế về nguồn thức ăn tinh bột cho chăn nuôi. Trong khi đó, phong trào nuôi các giống lợn địa phương và lợn rừng lai F1 (♂ rừng x ♀ địa phương) ngày càng mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường về thực phẩm chất lượng cao. Giống lợn rừng lai có ưu thế thích nghi tốt với điều kiện địa phương, kháng bệnh cao và đặc biệt có khả năng tiêu hóa thức ăn thô xanh rất tốt.

Cây Chè Đại (Trichanthera gigantea) được di thực vào Tuyên Quang từ giai đoạn 2003 - 2004. Đây là giống cây thân bụi, dễ trồng trên nhiều loại đất, sinh khối lá lớn, hàm lượng protein thô và khoáng canxi cao, không chứa các độc tố kháng dinh dưỡng như tannin hay alkaloid. Mặc dù đã được một số hộ tận dụng nuôi lợn nái, trâu bò, dê, song trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu thực nghiệm bài bản nào đánh giá việc sử dụng lá Chè Đại trong khẩu phần nuôi thịt lợn rừng lai F1. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định gồm 3 nội dung cụ thể:

  1. Xác định được tỷ lệ bổ sung thích hợp lá cây Chè Đại trong khẩu phần nuôi lợn rừng lai F1 (♂ rừng x ♀ địa phương) nuôi thịt.
  2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bổ sung lá Chè Đại đến khả năng sinh trưởng của lợn rừng lai F1 (♂ rừng x ♀ địa phương) nuôi tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
  3. Xác định được hiệu quả kinh tế của việc bổ sung lá Chè Đại vào khẩu phần ăn của lợn rừng lai F1 (♂ rừng x ♀ địa phương).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Chè Đại (Trichanthera gigantea) và đàn lợn rừng lai F1 (con lai giữa đực rừng Thái Lan và nái đen địa phương) giai đoạn nuôi thịt từ 60 đến 150 ngày tuổi.
  • Không gian nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi lợn rừng và lợn rừng lai của hộ ông Nguyễn Xuân Thọ, thôn Cây Thị, xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; đồng thời tiến hành khảo sát mở rộng tại 3 xã (Thái Bình, Đạo Viện, Trung Sơn) thuộc huyện Yên Sơn.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài xây dựng trên hai trụ cột: đặc tính sinh học của nguồn thức ăn thực vật và quy luật sinh thái - di truyền về sinh trưởng ở gia súc.

Về nguồn thức ăn, cây Chè Đại (Trichanthera gigantea) thuộc họ Ô rô (Acanthaceae), xuất xứ từ Colombia (nhập nội vào Việt Nam năm 1993). Tài liệu sinh học xác định lá cây chứa 15 - 18% protein thô (hầu hết là protein thật), hàm lượng canxi vượt trội so với nhiều loại cỏ khác, năng suất chất xanh đạt tới 53 - 70 tấn/ha/năm. Thử nghiệm của Rosales và Galindo (1987) khẳng định cây không chứa alkaloid, tannin, đồng thời hàm lượng saponin và steroid rất thấp, an toàn cho hệ tiêu hóa động vật đơn vị.

Về sinh lý và di truyền học sinh trưởng, tác giả vận dụng lý thuyết tính trạng số lượng trong di truyền gia súc (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983; Trần Đình Miên và cộng sự, 1975, 1995; Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1995, 1998): $$P = G + E = A + D + I + E_g + E_s$$ Trong đó, kiểu hình sinh trưởng ($P$) là kết quả tổng hòa của giá trị kiểu gen ($G$) gồm giá trị cộng gộp ($A$), sai lệch trội ($D$), sai lệch tương tác ($I$) cùng các sai lệch môi trường chung ($E_g$) và riêng ($E_s$). Sự sinh trưởng được cụ thể hóa bằng quá trình tích lũy protein và phân chia tế bào, được lượng hóa qua 3 chỉ tiêu:

  • Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng cơ thể trung bình xác định qua các kỳ cân (kg/con).
  • Sinh trưởng tuyệt đối ($A$): Tốc độ tăng khối lượng hàng ngày giữa hai lần cân: $$A = \frac{P_2 - P_1}{t_2 - t_1} \quad (\text{g/con/ngày})$$
  • Sinh trưởng tương đối ($R$): Tỷ lệ phần trăm tăng trưởng: $$R = \frac{P_2 - P_1}{\frac{P_1 + P_2}{2}} \times 100 \quad (%)$$

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm hai hợp phần:

  1. Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 30 hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện để đánh giá diện tích, năng suất, tập quán sử dụng Chè Đại; khảo sát 26 hộ chăn nuôi tại 3 xã (Thái Bình, Đạo Viện, Trung Sơn) để thống kê cơ cấu và quy mô đàn lợn rừng, lợn rừng lai.
  2. Phương pháp bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên hoàn toàn. Tổng số 60 con lợn rừng lai F1 (60 ngày tuổi, khối lượng ban đầu 5 - 7 kg/con, phân chia tỷ lệ đực/cái đồng đều) được chia thành 4 lô (15 con/lô), thí nghiệm kéo dài 90 ngày (từ 60 đến 150 ngày tuổi):
    • Lô Đối chứng (ĐC): Khẩu phần cơ sở (KPCS) gồm thức ăn tinh nấu chín (bột ngô, bột sắn, cám gạo) phối trộn rau xanh truyền thống (rau lang, thân chuối), đảm bảo mức protein thô 12 - 14%.
    • Lô Thí nghiệm 1 (TN1): KPCS + 25% lá Chè Đại thay thế thức ăn thô xanh.
    • Lô Thí nghiệm 2 (TN2): KPCS + 30% lá Chè Đại thay thế thức ăn thô xanh.
    • Lô Thí nghiệm 3 (TN3): KPCS + 35% lá Chè Đại thay thế thức ăn thô xanh. Lợn được cho ăn 2 bữa/ngày (sáng, chiều). Cành lá Chè Đại thu hái buổi sáng, băm nhỏ và phối trộn trực tiếp vào khẩu phần.

Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được phân tích thống kê sinh vật học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (1995), tính toán các tham số thống kê cơ bản ($\bar{X}$, $m$, $C_v%$) và kiểm định sai khác giữa các lô ở mức ý nghĩa $P < 0,05$ bằng phần mềm Microsoft Excel và Minitab.


Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận được cấu trúc thành hai phần chính: Công tác phục vụ sản xuất và Chuyên đề nghiên cứu khoa học.

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh kết quả thực tập rèn nghề của tác giả tại Trại chăn nuôi lợn rừng và lợn rừng lai của hộ ông Nguyễn Xuân Thọ:

  • Điều tra cơ bản địa bàn xã Thái Bình: Xã trung du miền núi diện tích 2.699,78 ha (đất nông nghiệp chiếm 2.382,36 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 1.912,98 ha). Toàn xã có 4.528 nhân khẩu (dân tộc Kinh chiếm 95,2%, Tày 1,8%, các dân tộc khác 3,0%), trên 80% số hộ sản xuất nông nghiệp. Tổng đàn lợn toàn xã đạt 1.871 con, trâu bò 688 con, gia cầm 13.220 con (số liệu thống kê năm 2012 - 2013).
  • Lịch sử hình thành trại: Thành lập năm 2009 với diện tích 2.000 m² chuồng trại trong khuôn viên 10 ha vườn đồi; khởi điểm nuôi 10 nái đen địa phương và 1 đực rừng Thái Lan. Năm 2010, thông qua Dự án Nhân giống lợn rừng lai của Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Tuyên Quang, quy mô nâng lên 20 nái và 2 đực giống. Năng suất sinh sản đạt 2 lứa/năm (6 - 8 con/lứa); xuất chuồng 35 - 40 lợn giống (5 - 6 kg/con) và 150 - 155 lợn thịt (25 - 30 kg/con) mỗi năm.
  • Kết quả hoạt động thú y thực tế:
    • Tiêm vắc-xin phòng bệnh: Dịch tả (160 con, tỷ lệ bảo hộ 100%), Lở mồm long móng (160 con, tỷ lệ 100%), Tai xanh (156 con, đạt 97,5%), Tụ dấu (155 con, đạt 96,9%).
    • Chẩn đoán và điều trị: Chữa khỏi 15/15 con mắc bệnh viêm phổi/suyễn lợn bằng phác đồ kết hợp Tylan 200 (1 ml/10 kg thể trọng), OTC-Vet 20% (1 ml/20 kg thể trọng) và Vitamin B1; chữa khỏi 26/26 con lợn ỉa chảy bằng phác đồ Norfacoli (1 ml/10 - 15 kg thể trọng) kết hợp hộ lý, bù điện giải và men tiêu hóa (tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100%). Tiến hành tiêm sắt phòng thiếu máu cho 38 lợn con sơ sinh.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề tập trung vào 3 nhóm nội dung nghiên cứu thực nghiệm và khảo sát:

Khảo sát diện tích, năng suất Chè Đại và tình hình chăn nuôi lợn rừng tại Yên Sơn

  • Vùng nguyên liệu Chè Đại: Năm 2012 diện tích toàn huyện đạt 9,00 ha (sản lượng 227,50 tấn/năm, năng suất 37,50 tấn/lứa). Năm 2013 giảm xuống 7,00 ha (sản lượng 174,00 tấn/năm). Đến 6 tháng đầu năm 2014 phục hồi lên 8,50 ha với sản lượng đạt 204,00 tấn/năm.
  • Tập quán sử dụng: Khảo sát 30 hộ chăn nuôi cho thấy tỷ lệ sử dụng lá Chè Đại cho lợn chiếm ưu thế tuyệt đối với 80,00% (24 hộ), trong khi chăn nuôi trâu bò đạt 23,00% (7 hộ), gia cầm đạt 6,70% (2 hộ), thủy sản đạt 0% và vật nuôi khác đạt 10,00% (3 hộ). Rào cản ở gia cầm và trâu bò là do người dân chưa quen kỹ thuật chế biến băm nhỏ hoặc ủ dự trữ.
  • Cơ cấu và quy mô đàn: Khảo sát 26 hộ nuôi lợn tại 3 xã ghi nhận 13 hộ nuôi lợn rừng và lợn rừng lai (chiếm 50,00%), 8 hộ nuôi lợn địa phương (30,80%), 1 hộ thuần nuôi lợn rừng (3,80%) và 4 hộ nuôi giống khác (15,40%). Chăn nuôi lợn rừng lai tập trung cao nhất tại xã Thái Bình (6 hộ). Về quy mô, 46,20% số hộ nuôi dưới 10 con; quy mô 10 - 20 con chiếm 38,40%; quy mô 20 - 40 con chiếm 7,70% và quy mô trên 40 con chỉ có 1 hộ (7,70% - chính là trang trại ông Thọ).

Ảnh hưởng của lá Chè Đại đến sinh trưởng tích lũy của đàn lợn thí nghiệm

Khối lượng bình quân ban đầu (60 ngày tuổi) giữa 4 lô tương đương nhau: Lô ĐC đạt 6,31 kg; TN1 đạt 6,32 kg; TN2 đạt 6,27 kg; TN3 đạt 6,39 kg ($P > 0,05$). Sau 90 ngày nuôi thực nghiệm (kết thúc ở 150 ngày tuổi), sự phân hóa về khối lượng tích lũy diễn ra rõ nét giữa các mức bổ sung Chè Đại. Lô TN2 (bổ sung 30%) đạt khối lượng cao nhất với 16,93 kg/con, cao hơn lô ĐC 2,34 kg/con (vượt 16,04%, sai khác có ý nghĩa thống kê với $P < 0,05$). Lô TN1 (bổ sung 25%) đạt 16,09 kg/con (vượt 10,28% so với ĐC). Lô TN3 (bổ sung 35%) đạt 15,89 kg/con (vượt 8,91% so với ĐC).

Ảnh hưởng của lá Chè Đại đến sinh trưởng tuyệt đối theo các giai đoạn

Tốc độ tăng trọng bình quân ngày (ADG) tăng dần theo tuổi ở tất cả các lô, nhưng các lô bổ sung Chè Đại luôn đạt chỉ số cao hơn lô đối chứng. Tính bình quân cả giai đoạn thí nghiệm (60 - 150 ngày tuổi): Lô TN2 đạt mức tăng khối lượng cao nhất với 118,44 g/con/ngày (bằng 128,74% so với ĐC); lô TN1 đạt 108,52 g/con/ngày (117,95% so với ĐC); lô TN3 đạt 105,56 g/con/ngày (114,73% so với ĐC); trong khi lô ĐC chỉ đạt 92,00 g/con/ngày.


Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm tổng hợp

Các kết quả định lượng cốt lõi về chỉ tiêu sinh trưởng của đàn lợn rừng lai F1 được thể hiện qua các bảng đối sánh dưới đây:

Bảng 1: Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm qua các kỳ cân (kg/con)

Giai đoạn theo dõi (ngày tuổi) Lô ĐC (n = 15) Lô TN1 (25% Chè Đại) Lô TN2 (30% Chè Đại) Lô TN3 (35% Chè Đại)
Bắt đầu thí nghiệm (60 ngày) $6,31 \pm 0,13$ $6,32 \pm 0,16$ $6,27 \pm 0,13$ $6,39 \pm 0,15$
90 ngày tuổi $8,81 \pm 0,14$ $9,35 \pm 0,16$ $9,60 \pm 0,17$ $9,41 \pm 0,28$
120 ngày tuổi $11,47 \pm 0,16$ $12,57 \pm 0,16$ $12,95 \pm 0,21$ $12,55 \pm 0,34$
150 ngày tuổi (Kết thúc TN) $14,59^a \pm 0,15$ $16,09^b \pm 0,17$ $16,93^c \pm 0,22$ $15,89^b \pm 0,44$
So sánh tương đối so với ĐC (%) 100,00 110,28 116,04 108,91

Ghi chú: Theo hàng ngang, các giá trị trung bình mang chữ cái khác nhau ($a, b, c$) thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$).

Bảng 2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm qua các giai đoạn (g/con/ngày)

Giai đoạn thí nghiệm (ngày tuổi) Lô ĐC (n = 15) Lô TN1 (25% Chè Đại) Lô TN2 (30% Chè Đại) Lô TN3 (35% Chè Đại)
Giai đoạn 60 đến 90 ngày $83,56 \pm 1,76$ $101,11 \pm 1,53$ $110,89 \pm 3,70$ $100,67 \pm 5,15$
Giai đoạn 90 đến 120 ngày $88,44 \pm 2,04$ $107,33 \pm 2,00$ $111,56 \pm 2,77$ $104,67 \pm 2,91$
Giai đoạn 120 đến 150 ngày $104,00 \pm 3,16$ $117,11 \pm 2,31$ $132,89 \pm 2,56$ $111,33 \pm 3,87$
Bình quân cả giai đoạn (BQCGĐ) $92,00 \pm 1,14$ $108,52 \pm 1,13$ $118,44 \pm 2,14$ $105,56 \pm 3,52$
Tỷ lệ so sánh với ĐC (%) 100,00 117,95 128,74 114,73

Đóng góp khoa học và giải pháp kiến nghị của tác giả

  • Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình thực nghiệm đầu tiên tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang xác định ngưỡng bổ sung tối ưu của lá Chè Đại trong khẩu phần nuôi thịt lợn rừng lai F1. Kết quả chứng minh mức bổ sung 30% lá Chè Đại trong phần thức ăn thô xanh đem lại tốc độ tăng trọng cao nhất (118,44 g/con/ngày, vượt 28,74% so với đối chứng), cao hơn cả mức 25% (thiếu hụt dinh dưỡng tiềm năng) và mức 35% (lợn ăn không hết do lượng xơ tăng, tính thèm ăn giảm, độ đồng đều đàn kém với $C_v% = 12,49%$).
  • Giải pháp và kiến nghị ứng dụng:
    • Khuyến cáo các nông hộ và trang trại nuôi lợn rừng lai áp dụng tỷ lệ phối trộn 30% lá Chè Đại thái nhỏ vào khẩu phần thức ăn thô xanh hàng ngày nhằm kích thích sinh trưởng và giảm áp lực chi phí thức ăn tinh.
    • Trung tâm Khuyến nông và Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Tuyên Quang cần tăng cường tập huấn kỹ thuật nhân giống giâm cành, quy trình bón phân urê bổ sung sau mỗi chu kỳ thu hoạch và mở rộng diện tích trồng Chè Đại tại các vùng đồi núi.
    • Trang trại sản xuất cần chú trọng đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý chất thải, nước thải chăn nuôi và thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vắc-xin định kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung văn bản và phạm vi triển khai của đề tài, các hạn chế và hướng mở nghiên cứu được ghi nhận như sau:

  • Giới hạn về thời gian khảo nghiệm: Thí nghiệm chỉ tiến hành trong 90 ngày (từ 60 đến 150 ngày tuổi, kết thúc ở khối lượng bình quân 14,59 - 16,93 kg/con), chưa theo dõi xuyên suốt đến giai đoạn xuất chuồng hoàn chỉnh của lợn rừng lai thương phẩm (thường kéo dài 6 - 7 tháng sau cai sữa, khối lượng xuất bán 25 - 30 kg/con).
  • Giới hạn về chỉ tiêu đánh giá thân thịt: Chưa thực hiện mổ khảo sát đánh giá tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc/mỡ, độ dày mỡ lưng và các chỉ tiêu hóa lý, cảm quan của thịt lợn rừng lai khi bổ sung Chè Đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi ảnh hưởng của việc bổ sung lá Chè Đại trên đàn lợn rừng lai nuôi thịt ở giai đoạn vỗ béo xuất chuồng (từ 150 ngày tuổi đến 210 ngày tuổi); mở rộng nghiên cứu kỹ thuật chế biến bột lá Chè Đại phơi khô hoặc ủ chua dự trữ làm thức ăn vụ đông trong điều kiện thời tiết miền núi hanh lạnh, khan hiếm thức ăn xanh.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Nông học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng động vật theo khối ngẫu nhiên (Randomized Block Design), kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng số lượng ($A$, $R$, sinh trưởng tích lũy) và phương pháp xử lý số liệu sinh học bằng Minitab/Excel.
  • Kỹ thuật viên khuyến nông và cán bộ quản lý nông nghiệp: Cung cấp số liệu thực tế về năng suất sinh khối Chè Đại (36 - 37,5 tấn/lứa) và cơ cấu chăn nuôi động vật bản địa/đặc sản tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
  • Chủ trang trại và nông hộ nuôi lợn rừng, lợn bản địa: Hướng dẫn chi tiết kỹ thuật phối trộn thức ăn thô xanh với tỷ lệ 30% lá Chè Đại băm nhỏ, giúp giảm giá thành thức ăn tinh bột, tận dụng diện tích đất vườn đồi, đồng thời cung cấp phác đồ thú y thực địa điều trị hiệu quả bệnh suyễn lợn và tiêu chảy.

Câu hỏi thường gặp

1. Khẩu phần cơ sở (KPCS) trong thí nghiệm gồm những thành phần nào và mức protein thô quy định là bao nhiêu?
Khẩu phần cơ sở của đàn lợn thí nghiệm được phối chế từ các phụ phẩm nông nghiệp gồm bột ngô, bột sắn, cám gạo nấu chín, sau đó trộn cùng thức ăn xanh truyền thống (rau lang, thân cây chuối thái nhỏ), đảm bảo hàm lượng protein thô duy trì từ 12% đến 14% qua các giai đoạn nuôi.

2. Tại sao mức bổ sung 30% lá Chè Đại (Lô TN2) lại cho kết quả sinh trưởng tốt hơn mức bổ sung 35% (Lô TN3)?
Ở mức 30%, lá Chè Đại cung cấp cân đối lượng protein, khoáng chất và chất xơ, hợp khẩu vị giúp lợn ăn khỏe. Khi nâng tỷ lệ lên 35%, lượng thức ăn thô xơ trong khẩu phần tăng cao khiến lợn ăn ít hơn, lượng ăn vào không triệt để, dẫn đến sinh trưởng chậm hơn lô TN2 (15,89 kg so với 16,93 kg ở 150 ngày tuổi) và độ đồng đều đàn giảm sút (hệ số biến thiên $C_v%$ của lô TN3 lên tới 10,33% - 12,49%).

3. Tình hình tiêm phòng vắc-xin và kết quả điều trị bệnh tại trại lợn trong thời gian tác giả thực tập đạt tỷ lệ như thế nào?
Công tác tiêm phòng vắc-xin đạt độ an toàn cao: Dịch tả và Lở mồm long móng đạt 100% (160/160 con), Tai xanh đạt 97,5% (156/160 con), Tụ dấu đạt 96,9% (155/160 con). Về điều trị lâm sàng, tác giả đã điều trị khỏi 100% cho 26 con lợn mắc bệnh ỉa chảy (dùng Norfacoli) và 15 con mắc bệnh viêm phổi/suyễn lợn (dùng phối hợp Tylan 200, OTC-Vet 20% và Vitamin B1).

4. Hiện trạng trồng cây Chè Đại và tập quán sử dụng loại cây này tại huyện Yên Sơn được ghi nhận như thế nào qua khảo sát?
Trong 6 tháng đầu năm 2014, diện tích Chè Đại toàn huyện đạt 8,50 ha, sản lượng 204,00 tấn/năm. Khảo sát 30 hộ chăn nuôi cho thấy 80,00% hộ đã sử dụng lá Chè Đại bổ sung cho lợn (chủ yếu thái nhỏ nấu cám hoặc cho ăn trực tiếp). Tỷ lệ sử dụng cho trâu bò đạt 23,00%, gia cầm đạt 6,70%, vật nuôi khác đạt 10,00% và thủy sản đạt 0%.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mạnh Cường đã giải quyết trọn vẹn cả nhiệm vụ phục vụ sản xuất thực tế tại trang trại và chuyên đề nghiên cứu khoa học thực nghiệm đối với đối tượng lợn rừng lai F1. Kết quả khẳng định việc bổ sung 30% lá Chè Đại (Trichanthera gigantea) vào phần thức ăn thô xanh mang lại hiệu quả sinh trưởng vượt trội, giúp lợn đạt khối lượng bình quân 16,93 kg ở 150 ngày tuổi và tốc độ tăng trọng tuyệt đối đạt 118,44 g/con/ngày (vượt 28,74% so với đối chứng). Đây là căn cứ khoa học và thực tiễn xác đáng để nhân rộng mô hình trồng cây Chè Đại nhằm phát triển chăn nuôi lợn rừng lai bền vững tại các địa bàn trung du miền núi.