CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tổng quan về lợn rừng và con lai Lợn rừng có tên khoa học là Sus scrofa, còn có tên khác là lợn Lòi, Kun Bíu. Lợn rừng có mặt khắp mọi nơi trên thế giới.
Nó chính là tổ tiên của các giống lợn nhà, có 21 loại phụ sống trên phạm vi rất rộng bao gồm nhiều khu vực ở châu Âu và bắc châu Á, cũng như miền Nam và miền Bắc châu Phi. Ở Việt Nam lợn rừng có ở hầu hết các vùng rừng của các tỉnh, đặc biệt là vùng rừng núi phía Bắc và dọc dãy núi Trường sơn. Việc thuần hóa và nuôi dưỡng chúng để trở thành một con vật nuôi thì là hoàn toàn mới lạ ở Việt Nam. Ở Thái Lan và Trung Quốc lợn rừng cũng đã được thuần hóa và lai với lợn bản địa để trở thành con vật nuôi trong hệ thống chăn nuôi từ 12-18 năm nay.
Một số quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn rừng cũng đã được đề cập nhưng về tập tính của nó như thế nào trong quá trình nuôi dưỡng thì ít thông tin công bố. Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã bắt đầu nuôi giống lợn rừng. Nguồn gốc của nó thì bằng nhiều con đường như: Nhập khẩu từ Thái Lan, Trung Quốc theo con đường chính ngạch và tiểu ngạch và còn một số cũng đã xuất phát từ thuần hóa lợn rừng của rừng Việt Nam. Nhưng tất cả các nơi nuôi lợn rừng cũng chỉ là theo kinh nghiệm và một phần từ tài liệu đơn giản, sơ sài của những trang trại ở Thái Lan, hay một vài bài báo viết dưới dạng cảm tính hoặc chủ quan mà thôi.
Về mặt sinh học và tập tính của nó như thế nào thì ít có tài liệu nói đến. Đối với các nhà khoa học Việt Nam thì hoàn toàn là mới hoặc có đề cập tới dưới dạng thông tin ngắn. Phân bố giống lợn rừng trên thế giới Theo nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu Quốc tế phát triển Nông nghiệp (Pháp) thì lợn rừng có tới 36 giống phân bố ở hầu khắp các lục địa trên thế giới 4 Phân loại các giống lợn rừng trên thế giới TT Tên giống Nơi phân bố chủ yếu 1 Sus scrofa Affimis Ấn Độ, Sri Lanka Sus scrofa 2 Tunisia, Algeria, Maroc Anolamanensis Sus scrofa 3 đảo Andaman - Ấn Độ Andamanensis Hungary; Iran; Ucraina; Nga; miền trung 4 Sus scrofa Attila Belarus 5 Sus scrofa Baeticus Balear; nam Tây Ban Nha; Bắc Maroc 6 Sus scrofa Barbarus Bắc Phi, Tunisia, Algeria, Maroc 7 Sus scrofa Castilianus Bắc Tây Ban Nha 8 Sus scrofa Chirodontus Trung Quốc 9 Sus scrofa Coreanus Triều Tiên Nam dãy Himalaya, Nepal, Ấn Độ, Thái 10 Sus scerofa Cristatus Lan, Romania Nam dãy Himalaya, Iran, Pakistan, 11 Sus scrofa Davidi Romania, Tây Bắc Ấn Độ 12 Sus scrofa Falzfeini Ba Lan 13 Sus scrofa Ferus Bắc châu Âu 14 Sus scrofa Floresianus đảo Flores – Indonesia 15 Sus scrofa Jubatus Malaysia Sus scrofa 16 Trung Quốc Leucomystax Thổ Nhĩ Kỳ; Palestin; Yogoslavia; 17 Sus scrofa Libycus Uzebekistan; Kazaktan 18 Sus scrofa Majoli Miền Trung Italia 19 Sus scrofa Trung Quốc 5 Mandehuricus Sus scrofa 20 Tây Ban Nha Mediterrancus 21 Sus scrofa Meridionalis Audalousie; Sardaigue; Cose Sus scrofa Duyên Hải Nam Trung Quốc và Nam Việt 22 Moupinensis Nam 23 Sus scrofa Nicobaricus đảo Nicobar - Ấn Độ Miền Trung Á; ven biển Caspienne; 24 Sus scrofa Nigripes Agganistan; Mông Cổ; Trung Quốc; cận Đông Nga 25 Sus scrofa Papuensis Ghinê 26 Sus scrofa Raddeanus Mông Cổ 27 Sus scrofa Reiseki Yogoslavie; Albania; Grice; Hungary 28 Sus scrofa Riukinanus đảo Rycon - Nhật Bản 29 Sus scrofa Sardous Cadague; Corse đảo Tây Ban Nha; Bắc Italia; Đức; Pháp; 30 Sus scrofa Serofa Benelux; Đan Mạch; Ba Lan, Cộng hoà Séc; Slovakia; Albania Sus scrofa 31 Sudan Sennaarensis Munkinok; Sayan; Mông Cổ; Siberia; 32 Sus scrofa Sibiricus Transbaikalia 33 Sus scrofa Sukvianus Trung Quốc 34 Sus scrofa Taivanus Đài Loan 35 Sus scrofa Ussusicus Nga; Corse; Trung Quốc 36 Sus scrofa Vittatus Indonesia; Malaysia; Bali; đảo Pơ Cang Theo nghiên cứu hợp tác nghiên cứu quốc tế phát triển nông nghiệp (Pháp) Tạp chí chăn nuôi sô 10 – 2008. 6 Lợn rừng phân bố chủ yếu trên thế giới là ở các vùng Bắc Phi; châu Âu, phía Nam Nga, Trung Quốc, vùng Trung Đông, Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia (Sumatin, Java, Sumbawa), đảo Corse, Sardiaigue, những vùng sâu, xa của Ai Cập và Sudan.
Theo một số tài liệu khác thì lợn rừng cũng được tìm thấy rất nhiều ở miền Tây Ấn Độ, Hoa Kỳ (California, Texas, Florida, Virginia, Hawai.) Australia, New Zealand và các đảo thuộc vùng biển Nam Thái Bình Dương. Một số đặc điểm về ngoại hình, sinh sản và tập tính * Đặc điểm ngoại hình Theo Đào Lệ Hằng (2008) [7]: Lợn rừng, toàn thân được bao phủ bởi những lông ngắn, giống tóc rễ tre, thường có mầu nâu đen. Đầu và chiều dài cơ thể lợn trưởng thành khoảng 90 – 180 cm, chiều dài đuôi khoảng 30cm, chiều cao của vai khoảng 55 – 110 cm. Đàn lợn rừng có thể di chuyển cùng nhau suốt hành trình dài để tới khu vực định cư mới nhưng không di trú.
Lợn rừng hoạt động nhiều hơn vào ban đêm, lúc chạng vạng tối và lúc bình minh. Khi lợn đực trưởng thành nó sẽ rời khỏi bầy đàn và sống độc lập khoảng 50 – 350 kg, có vài con nuôi thuần dưỡng có khả năng lên đến 450 kg. Con đực thường lớn hơn con cái. Lợn rừng có 4 đôi răng nanh, 6 cặp vú.
* Tập tính sinh sản Đào Lệ Hằng (2008) [7] cũng cho rằng: Trong thiên nhiên hoang dã, lợn rừng cái đẻ nhiều lần trong năm và mùa giao phối thay đổi tùy từng vùng địa lý và môi trường sinh sống. Số lượng con mỗi lần sinh từ 1 – 12 con, trung bình 4 -8 con/lần. Thời gian mang thai là 110 – 120 ngày, trung bình 115 ngày, thời gian cho con bú là 3 – 4 tháng. Thời gian để lợn con trưởng thành trung bình 7 tháng.
Tuổi được coi là trưởng thành về mặt sinh dục có thể giao phối ở con cái là 8 – 10 tháng, trung bình là 9 tháng. Ở con đực tuổi trưởng thành về mặt sinh 7 dục có thể giao phối là 8 – 10 tháng, trung bình là 9 tháng. Thông thường, lợn rừng cái đẻ vào mùa xuân và việc giao phối xảy ra suốt năm nhưng tập trung vào mùa ẩm ướt, thông thường là 4 – 8 con. Những con cái trưởng thành sau 8 – 10 tháng, nhưng thường cho đến 12 tháng tuổi mới giao phối và những con đực thường không thích đụng đến những con lợn cái dưới 1 tuổi.
Lợn rừng cái sinh con trong 1 cái ổ bằng cỏ, lợn con sẽ ở lại ổ vài ngày. Lợn con thường khỏe mạnh. Trái với vẻ khỏe mạnh ban đầu chỉ có khoảng một nửa lợn rừng con sống đến trưởng thành, một vài con chết vì bệnh hay bị những loài động vật khác ăn thịt. Lợn rừng còn bé được mẹ cho bú chăm sóc trong vòng 3 – 4 tháng và dần dần trở nên độc lập.
Trong thiên nhiên hoang dã lợn rừng có thể sống đến 10 năm, đôi khi chúng có thể sống đến 27 năm. * Thói quen sinh sống Lợn rừng hoang dã thường được phát hiện ở những khu vực rộng lớn, chúng sống thành bầy đàn, số lượng có thể lên đến 100 con, những đàn lợn rừng này là những thế hệ con và những con chưa trưởng thành. Đàn lợn rừng có thể di chuyển cùng nhau suốt hành trình dài để tới khu vực định cư mới nhưng không di trú. lợn rừng hoạt động nhiều hơn vào ban đêm, lúc chạng vạng tối và lúc bình minh.
Khi lợn đực trưởng thành nó sẽ rời khỏi bầy đàn và sống độc lập. * Thói quen ăn uống Lợn rừng là loài ăn tạp và đôi khi ăn bừa bãi. Thức ăn hàng ngày là nấm, củ, thóc, lúa, trái cây, trứng, cà rốt, động vật có xương sống. Nhờ khả năng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau mà lợn rừng tồn tại ở nhiều môi trường khác nhau, từ hoang mạc cho đến vùng đồi núi.
Thức ăn động vật là chim, động vật có vú, lưỡng cư, bò sát, xác chết, côn trùng, động vật chân đốt sống trên mặt đất, động vật thân mềm. 8 Thức ăn thực vật là rễ cây, củ, vỏ cây, cỏ, thóc, trái cây. Những loại thức ăn khác là phân, thú ăn thịt, nấm. Lợn rừng hoạt động mạnh và trở nên liều lĩnh nếu cảm thấy bị đe dọa, chúng sẽ dùng toàn bộ sức lực, răng nanh và cơ thể để rượt đuổi làm bị thương kẻ thù.
Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn rừng và con lai * Đặc điểm sinh trưởng Lợn rừng sinh trưởng chậm và đạt kích thước tối đa tùy theo từng giống, môi trường và tuổi. Lợn rừng Châu Âu thường có tầm vóc to lớn hơn nhiều so với lợn rừng Châu Á. Trong khi lợn rừng Châu Á chỉ có thể cao 65 - 70 cm, dài 120 - 140 cm, nặng 70 - 150 kg thì lợn rừng Châu Âu có thể cao tới 90 - 100 cm, dài 150 - 160 cm, nặng tới 200 - 350 kg. Con đực thường to lớn hơn con cái khoảng từ 20 - 30 kg.
Lợn sơ sinh rất bé nhỏ, nặng 0,5 - 0,7 kg, dài 15 - 25 cm. Tuổi cai sữa 55 - 60 ngày; Trọng lượng lợn con khi cai sữa là 4 - 5 kg/con. Tuổi giết thịt có thể tính từ 8 - 10 tháng tuổi. Trọng lượng xuất chuồng thường dao động từ 25 - 35 kg tùy theo nhu cầu của thị trường.
Tốc độ sinh trưởng của lợn rừng Tháng tuổi Trọng lượng (kg) Tốc độ sinh trưởng (g/ngày) 0–2 0,5 – 5 8,33 - 83,33 2–4 10 – 12 166,66 - 200,00 4–6 15 – 25 250,00 - 416,66 6–8 25 – 35 300,00 - 583,33 8 – 10 40 – 50 666,66 - 833,33 Trích: Đào Lệ Hằng (2008) [7] Tốc độ sinh trưởng (đối với lợn rừng đã và đang nuôi tại Thái Lan và Việt Nam) chậm (trung bình chỉ khoảng 0,15 - 0,3 kg/ngày). Tuổi thọ sinh lý của lợn rừng kéo dài từ 15 - 25 năm.