Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với sự phân hóa đa dạng về địa hình và hệ sinh thái nhiệt đới gió mùa. Tính đến đầu năm 2018, cả nước đã ghi nhận 264 loài lưỡng cư. Tỉnh Thanh Hóa sở hữu địa hình chia cắt mạnh, tạo nên nhiều vùng vi khí hậu và sinh cảnh đặc trưng tại Vườn quốc gia (VQG) Bến En cùng ba Khu Bảo tồn thiên nhiên (Pù Luông, Pù Hu, Xuân Liên). VQG Bến En nằm trên địa bàn hai huyện Như Thanh và Như Xuân với diện tích rừng 13.886 ha, là vùng đệm chuyển tiếp giữa đồng bằng Thanh Hóa - Nghệ Tĩnh và vùng núi cao Trường Sơn Bắc. Kết quả điều tra năm 2013 ghi nhận khu hệ động vật tại đây có 47 loài lưỡng cư. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung vào danh lục thành phần loài mà chưa đi sâu vào đặc điểm sinh học sinh thái và dinh dưỡng của các nhóm loài cụ thể.

Để cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên động vật lưỡng cư, đề tài "Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của một số loài lưỡng cư thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae) tại Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xác định đặc điểm dinh dưỡng của một số loài lưỡng cư thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae) tại VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác định thành phần loài thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae) ghi nhận tại VQG Bến En.
  2. Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng (thành phần thức ăn, tần số bắt gặp, phổ thức ăn, hệ số tương đồng và chỉ số quan trọng của thức ăn) của các loài lưỡng cư thuộc họ Nhái bầu thu thập tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thành phần thức ăn chứa trong dạ dày của các loài lưỡng cư thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae).
  • Phạm vi không gian: VQG Bến En, tập trung khảo sát tại khu vực xã Hải Vân và trạm Điện Ngọc thuộc huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018 thông qua 2 đợt khảo sát (Đợt 1: từ ngày 11/05/2018 đến 14/05/2018 tại xã Hải Vân; Đợt 2: từ ngày 19/08/2018 đến 22/08/2018 tại trạm Điện Ngọc).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận áp dụng phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp phân tích mẫu vật giải phẫu hình thái và sinh thái học trong phòng thí nghiệm.

Khung tài liệu định loại và cơ sở lý thuyết

  • Định loại lưỡng cư: Dựa trên tài liệu định loại hình thái của Inger et al. (2001), danh mục của Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), mô tả của Hoàng Xuân Quang và cs (2012), Hecht et al. (2013).
  • Định loại con mồi: Định loại các mẫu thức ăn thuộc lớp Côn trùng và Chân khớp đến cấp bộ và họ theo tài liệu chuyên ngành của Achterberg et al. (1991), Naumann et al. (1993a, 1993b), cùng sự hỗ trợ chuyên môn từ các chuyên gia Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm

  • Khảo sát và thu mẫu thực địa: Tiến hành tìm kiếm và bắt mẫu bằng tay vào ban đêm (khung giờ từ 18:00 đến 24:00) tại các sinh cảnh ẩm ướt ven suối, ao hồ, vũng nước và đường mòn trong rừng. Tọa độ điểm thu mẫu được ghi nhận bằng thiết bị định vị vệ tinh GPS Garmin 60CX.
  • Xử lý và cố định mẫu vật: Cá thể thu được được làm chết bằng dung dịch Orajel (chứa Benzalkonium chloride 0,02%, Benzocaine 20%, Zinc chloride 0,1%), sau đó mổ tách dạ dày. Dạ dày được lưu trữ trong túi zip chứa cồn $70%$ để bảo quản con mồi. Tiêu bản mẫu vật lưỡng cư được cố định bằng cồn $80% - 90%$ trong 8–10 tiếng và bảo quản lâu dài trong cồn $70%$.
  • Phân tích mẫu thức ăn: Mẫu thức ăn được bóc tách, đo đếm và chụp ảnh dưới kính lúp soi nổi Leica S6E và Leica M80.

Công thức tính toán và xử lý thống kê

  • Thể tích con mồi ($V$, đơn vị $\text{mm}^3$): Ước tính theo công thức hình elip xoay: $$V = \frac{4}{3} \pi \left(\frac{L}{2}\right) \left(\frac{W}{2}\right)^2$$ (Trong đó $L$ là chiều dài, $W$ là chiều rộng của mẫu thức ăn).
  • Chỉ số quan trọng của thức ăn ($Ix$, tính bằng $%$): Xác định theo công thức của Ngô Ngọc Hải và cs (2016): $$Ix(%) = \frac{F% + N% + V%}{3}$$ (Trong đó $F%$ là tần số xuất hiện của loại thức ăn trong các dạ dày; $N%$ là tỷ lệ số lượng cá thể con mồi; $V%$ là tỷ lệ thể tích của loại con mồi).
  • Hệ số tương đồng Sorensen - Dice ($d_{jk}$): Dùng để so sánh độ tương đồng về thành phần thức ăn giữa các loài: $$d_{jk} = \frac{2M}{2M + N}$$ (Trong đó $M$ là số dạng thức ăn xuất hiện ở cả hai loài; $N$ là tổng số dạng thức ăn chỉ xuất hiện ở một trong hai loài).
  • Xử lý số liệu: Thống kê mô tả bằng phần mềm MS Excel; phân tích chỉ số đa dạng và ma trận tương đồng bằng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học và dinh dưỡng của các loài lưỡng cư tại Việt Nam và khu vực tỉnh Thanh Hóa, đồng thời mô tả tổng quan điều kiện tự nhiên - xã hội tại địa bàn nghiên cứu:

  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Phân tích các nghiên cứu tiêu biểu của Ngô Văn Bình và cs (2009) tại Thừa Thiên Huế (khảo sát Ếch gai sần, Chẫu chuộc, Ngóe; chân khớp chiếm 62,07%); Hoàng Ngọc Thảo và cs (2013) tại Quỳ Châu, Nghệ An (nghiên cứu Nhái bầu hoa Microhyla fissipes, ghi nhận thức ăn gồm 6 bộ, hẹp, ưu thế là Hymenoptera và Coleoptera); Lê Trung Dũng (2015) tại Khu BTTN Mường Nhé (phân tích dạ dày 6 loài); Phạm Văn Anh (2015) tại Khu BTTN Sốp Cộp và Copia, Sơn La (khảo sát thành phần thức ăn theo 3 nhóm sinh cảnh: nước, mặt đất và trên cây).
  • Tình hình nghiên cứu tại Thanh Hóa: Đề cập công trình của Phạm Văn Anh và Lê Nguyên Ngật (2012) tại Khu BTTN Xuân Liên; Cao Tiến Trung và cs (2012) tại Triệu Dương, Tĩnh Gia trên hệ sinh thái đồng ruộng.
  • Điều kiện tự nhiên, xã hội VQG Bến En: Tọa độ địa lý từ $19^\circ 28'$ đến $19^\circ 41'$ vĩ độ Bắc, $105^\circ 20'$ đến $105^\circ 35'$ kinh độ Đông; tổng diện tích tự nhiên 14.305 ha, diện tích rừng 13.886 ha, hồ Sông Mực rộng 2.200 ha; độ cao từ 20 đến 498 m. Hệ thực vật có 1.417 loài thực vật bậc cao có mạch; hệ động vật có 102 loài thú, 277 loài chim, 66 loài bò sát, 47 loài lưỡng cư, 97 loài cá, 728 loài côn trùng và 213 loài thủy sinh đáy/nổi. Dân số vùng đệm gồm 56.000 người thuộc 4 dân tộc (Kinh, Mường, Thái, Thổ).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết toàn bộ thiết kế nghiên cứu:

  • Đối tượng: 26 cá thể thuộc 5 loài của họ Nhái bầu (Microhylidae).
  • Địa bàn và thời gian khảo sát: 2 đợt thực địa tại xã Hải Vân và trạm Điện Ngọc, huyện Như Thanh.
  • Quy trình thu mẫu và thực nghiệm: Chi tiết hóa từ bước khảo sát đêm (18:00 - 24:00), định vị GPS Garmin 60CX, kỹ thuật gây mê nhân đạo bằng Orajel, quy trình mổ tách ống tiêu hóa, bảo quản cồn phân cấp ($70%$, $80% - 90%$), đến các thao tác định loại hình thái, bóc tách và đo kích thước con mồi dưới kính hiển vi Leica S6E và M80.
  • Phương pháp toán học: Trình bày chi tiết hệ thống công thức tính $V$, $Ix$, $d_{jk}$ và phần mềm thống kê PAST, MS Excel.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố và thảo luận các dẫn liệu nghiên cứu đạt được:

1. Thành phần loài và đặc điểm hình thái học

Khảo sát thu được 26 mẫu cá thể thuộc 5 loài thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae):

  • Cóc đốm (Kalophrynus interlineatus Blyth, 1855): Thu 2 mẫu (1♂, 1♀). Đặc trưng: Mõm nhọn, răng lá mía xiên mảnh, có nếp da từ sau mắt qua màng nhĩ tới vai, chi ngắn, toàn thân nổi hạt, có hai đốm đen sẫm đặc trưng ở phía trên gốc đùi; tỷ lệ màng nhĩ/mắt (TD/ED) là 0,85 ở con đực và 0,66 ở con cái.
  • Ễnh ương thường (Kaloula pulchra Gray, 1831): Thu 6 mẫu (6♂). Đặc trưng: Thân ngắn, phình rộng, đầu rộng hơn dài, mút ngón tay và chân phình thành đĩa, lưng màu nâu sẫm có vệt sáng chạy ngang hai mắt kéo dài dọc hai bên sườn đến gốc đùi.
  • Nhái bầu hoa (Microhyla fissipes Boulenger, 1884): Thu 11 mẫu (4♀, 7♂). Đặc trưng: Không có răng lá mía, lưỡi không xẻ thùy, màng nhĩ ẩn, ngón tay I ngắn hơn ngón II, lưng màu nâu nhạt với vệt tối đối xứng qua trục thân.
  • Nhái bầu vân (Microhyla pulchra Hallowell, 1861): Thu 3 mẫu (3♀). Thân hình tam giác mảnh, hoa văn lưng màu nâu sẫm nhạt xen kẽ, phần bẹn và mặt sau đùi có màu vàng tươi.
  • Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi Vogt, 1911): Thu 4 mẫu (2♀, 2♂). Lưỡi xẻ thùy nông, mút ngón nở rộng thành đĩa, có vệt sáng mảnh chạy dọc chính giữa sống lưng, hai bên hông màu đen.

2. Phân tích chi tiết thành phần thức ăn của từng loài

  • Cóc đốm (Kalophrynus interlineatus): Phân tích 2 dạ dày chứa thức ăn thu được 63 mẫu con mồi với tổng thể tích $66,79 \text{ mm}^3$, thuộc 4 họ, 4 bộ của 2 lớp (Insecta và Malacostraca). Chỉ số quan trọng cao nhất là bộ Cánh màng (Formicidae: $Ix = 64,04%$), tiếp đến là bộ Cánh nửa (Pentatomidae: $Ix = 46,40%$), bộ Chân đều (Armadillidae: $Ix = 37,97%$) và bộ Cánh cứng (Coleoptera: $Ix = 20,00%$).
  • Ễnh ương thường (Kaloula pulchra): Phân tích 6 dạ dày thu được 526 mẫu con mồi với tổng thể tích $421,40 \text{ mm}^3$, thuộc 15 họ, 7 bộ của 3 lớp (Insecta, Arachnida, Malacostraca). Cánh đều (Isoptera) chiếm số lượng lớn nhất ($65,97%$), tiếp theo là Cánh màng ($26,62%$). Xét theo chỉ số quan trọng, họ Formicidae (Cánh màng) đứng đầu với $Ix = 42,55%$, theo sau là họ Kalotermitidae ($Ix = 40,40%$), họ Armadillidae ($Ix = 30,05%$), họ Scarabaeidae ($Ix = 21,18%$), họ Reduviidae ($Ix = 19,28%$), họ Termitidae ($Ix = 11,83%$), họ Lampyridae ($Ix = 11,80%$). Trong dạ dày ghi nhận có lẫn mảnh vụn sỏi và rác hữu cơ ($0,38%$).
  • Nhái bầu hoa (Microhyla fissipes): Phân tích 11 dạ dày (10 dạ dày có thức ăn) thu được 150 mẫu con mồi với thể tích $25,43 \text{ mm}^3$, thuộc 5 họ, 4 bộ của 2 lớp. Thức ăn chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng là họ Formicidae ($93,33%$). Chỉ số quan trọng: Formicidae ($Ix = 55,40%$), Termitidae ($Ix = 18,64%$), Armadillidae ($Ix = 17,44%$), Kalotermitidae ($Ix = 8,81%$), Coleoptera ($Ix = 6,38%$).
  • Nhái bầu vân (Microhyla pulchra): Phân tích 3 dạ dày thu được 32 mẫu con mồi với thể tích $28,78 \text{ mm}^3$, thuộc 5 họ, 4 bộ của 3 lớp. Họ Formicidae chiếm $68,75%$ số lượng. Chỉ số quan trọng: Formicidae ($Ix = 58,22%$), Kalotermitidae ($Ix = 40,69%$), Armadillidae ($Ix = 22,01%$), Rhinotermitidae ($Ix = 21,62%$), Thomisidae ($Ix = 14,99%$).
  • Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi): Phân tích 4 dạ dày thu được 135 mẫu con mồi với thể tích $2,59 \text{ mm}^3$, thuộc 3 lớp và 1 nhóm chưa định loại. Kiến (Formicidae) chiếm $96,30%$ số lượng mẫu. Chỉ số quan trọng: Formicidae ($Ix = 72,06%$), Armadillidae ($Ix = 14,74%$), Phthiraptera ($Ix = 11,62%$), Salticidae ($Ix = 9,22%$), nhóm chưa định loại ($Ix = 9,03%$).

3. Phổ thức ăn và hệ số tương đồng dinh dưỡng

  • Phổ thức ăn: Loài Ễnh ương thường (K. pulchra) có phổ thức ăn rộng nhất, bắt gặp 7/9 bộ con mồi (nhờ khả năng vừa kiếm ăn trên mặt đất vừa leo trèo thấp). Nhái bầu hây môn (M. heymonsi) ăn 5 bộ. Ba loài còn lại (M. fissipes, M. pulchra, K. interlineatus) có phổ thức ăn hẹp hơn với 4 bộ.
  • Hệ số tương đồng Sorensen - Dice ($d_{jk}$): Dao động từ 0,50 đến 0,75, chứng minh thành phần thức ăn giữa các loài có mức độ trùng lặp từ tương tự đến khá cao. Độ tương đồng đạt giá trị cao nhất ($d_{jk} = 0,75$) giữa các cặp: K. interlineatus - M. fissipes, M. fissipes - M. pulchra, M. pulchra - M. heymonsi. Mức tương đồng thấp hơn ($d_{jk} = 0,50$) xuất hiện giữa K. interlineatus với M. pulchra và M. heymonsi.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ số liệu thực nghiệm

Nghiên cứu đã bóc tách và phân tích tổng cộng 906 mẫu vật thức ăn chứa trong 25 dạ dày của 5 loài thuộc họ Nhái bầu tại VQG Bến En. Toàn bộ thức ăn được xác định thuộc về 1 nhóm chưa định loại, 21 họ, 9 bộ, đại diện cho 3 lớp động vật không xương sống: lớp Hình nhện (Arachnida: 2 bộ, 7 họ), lớp Côn trùng (Insecta: 5 bộ, 13 họ) và lớp Giáp mềm (Malacostraca: 1 bộ, 1 họ).

TT Lớp động vật Bộ Họ thức ăn Tần số xuất hiện $F (%)$ Số lượng con mồi $N (%)$ Thể tích $V (%)$ Chỉ số quan trọng chung $Ix (%)$
1 Arachnida Araneae (Nhện) Linyphiidae 4,00 0,11 0,58 1,57
2 Arachnida Araneae (Nhện) Corinnidae 4,00 0,11 1,22 1,78
3 Arachnida Araneae (Nhện) Lycosidae 4,00 0,11 0,56 1,56
4 Arachnida Araneae (Nhện) Thomisidae 4,00 0,11 0,46 1,52
5 Arachnida Araneae (Nhện) Salticidae 4,00 0,11 0,02 1,38
6 Arachnida Opiliones (Chân dài) Protolophidae 4,00 0,11 1,16 1,76
7 Arachnida Opiliones (Chân dài) Chưa định loại 4,00 0,22 1,37 1,86
8 Insecta Coleoptera (Cánh cứng) Scarabaeidae 8,00 0,33 23,22 10,52
9 Insecta Coleoptera (Cánh cứng) Elateridae 4,00 0,11 8,51 4,21
10 Insecta Coleoptera (Cánh cứng) Carabidae 4,00 0,44 5,07 3,17
11 Insecta Coleoptera (Cánh cứng) Lampyridae 8,00 0,44 1,01 3,15
12 Insecta Coleoptera (Cánh cứng) Chưa định loại 8,00 0,55 0,37 2,97
13 Insecta Hymenoptera (Cánh màng) Formicidae (Kiến) 88,00 53,53 2,14 47,89
14 Insecta Hemiptera (Cánh nửa) Pentatomidae 4,00 0,44 10,29 4,91
15 Insecta Hemiptera (Cánh nửa) Reduviidae 8,00 0,22 18,92 9,05
16 Insecta Isoptera (Cánh đều) Kalotermitidae (Mối) 32,00 29,25 6,44 22,56
17 Insecta Isoptera (Cánh đều) Termitidae (Mối) 8,00 6,51 8,60 7,70
18 Insecta Isoptera (Cánh đều) Rhinotermitidae 8,00 3,86 3,95 5,27
19 Insecta Phthiraptera (Chấy) Chưa định loại 4,00 0,11 0,09 1,40
20 Malacostraca Isopoda (Chân đều) Armadillidae (Mọt ẩm) 40,00 2,98 6,02 16,33
21 - Chưa định loại Nhóm chưa định loại 4,00 0,22 0,01 1,41
Tổng 906 537,53

Tổng hợp mức độ quan trọng thức ăn của 5 loài nghiên cứu

Loài lưỡng cư Tên Việt Nam Số mẫu ($n$) Số mẫu dạ dày có thức ăn Bộ/Họ thức ăn có chỉ số $Ix$ cao nhất $Ix$ (%) cao nhất
Kalophrynus interlineatus Cóc đốm 2 2 Formicidae (Hymenoptera) 64,04
Kaloula pulchra Ễnh ương thường 6 6 Formicidae (Hymenoptera) 42,55
Microhyla fissipes Nhái bầu hoa 11 10 Formicidae (Hymenoptera) 55,40
Microhyla pulchra Nhái bầu vân 3 3 Formicidae (Hymenoptera) 58,22
Microhyla heymonsi Nhái bầu hây môn 4 4 Formicidae (Hymenoptera) 72,06

Đóng góp học thuật so với các công trình trước

  • Cung cấp dữ liệu định lượng đầu tiên về đặc tính thức ăn và sinh thái dinh dưỡng của họ Nhái bầu (Microhylidae) tại VQG Bến En.
  • Chứng minh tính chuyên hóa con mồi cao của họ Nhái bầu đối với nhóm côn trùng sống thành bầy đàn trên mặt đất, đặc biệt là kiến (họ Formicidae, $Ix$ chiếm từ $42,55%$ đến $72,06%$) và mối (bộ Isoptera, tiêu biểu là họ Kalotermitidae đạt $Ix = 22,56%$).
  • Khi so sánh với nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thảo và cs (2013) trên loài Nhái bầu hoa (M. fissipes) tại Quỳ Châu (Nghệ An), kết quả tại Bến En cho thấy phổ thức ăn hẹp hơn (không bắt gặp bộ Cánh thẳng - Orthoptera, bộ Hai cánh - Diptera, bộ Nhện - Araneae), nhưng đã phát hiện và bổ sung thêm nhóm thức ăn thuộc bộ Chân đều Isopoda (họ Armadillidae - mọt ẩm).

Kiến nghị của tác giả

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu thành phần thức ăn và tập tính dinh dưỡng đối với các họ lưỡng cư khác tại VQG Bến En để hoàn thiện cơ sở dữ liệu sinh thái học phục vụ công tác bảo tồn khu hệ động vật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Kích thước mẫu thu thập ở một số loài còn tương đối nhỏ do thời gian thực địa hạn chế (chỉ thực hiện 2 đợt khảo sát ngắn ngày trong năm 2018), cụ thể loài Cóc đốm (K. interlineatus) chỉ thu được 2 cá thể và Nhái bầu vân (M. pulchra) thu được 3 cá thể.
    • Một số mẫu con mồi trong dạ dày đã bị nghiền nát hoặc phân hủy một phần trong quá trình tiêu hóa, gây khó khăn cho việc định loại chính xác đến cấp độ giống và loài (còn tồn tại các nhóm chưa định loại ở bộ Cánh cứng, Chân dài, Chấy).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tác giả kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về thành phần thức ăn của các loài lưỡng cư khác phân bố tại VQG Bến En nhằm đánh giá toàn diện chuỗi thức ăn và mối quan hệ sinh thái trong quần xã động vật rừng nhiệt đới đai thấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Sư phạm Sinh học, Động vật học, Sinh thái học và Quản lý tài nguyên rừng - bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Giá trị trích dẫn và ứng dụng:
    • Cung cấp mô tả hình thái học chi tiết kèm các chỉ số đo đạc chuẩn (SVL, HL, HW, TL, màng bơi...) của 5 loài thuộc họ Microhylidae.
    • Phương pháp luận hoàn chỉnh về thu mẫu ban đêm, gây mê bằng Orajel, kỹ thuật bảo quản dạ dày, quy trình đo thể tích mẫu thức ăn hình elip xoay ($V$) và công thức tính chỉ số quan trọng ($Ix$).
    • Ứng dụng phần mềm thống kê PAST và chỉ số Sorensen - Dice trong phân tích sinh thái học dinh dưỡng quần xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Những loài lưỡng cư nào thuộc họ Nhái bầu đã được thu thập và định loại tại VQG Bến En trong nghiên cứu này?

Khảo sát thực địa đã thu thập và định loại được 26 cá thể thuộc 5 loài của họ Nhái bầu (Microhylidae), gồm:

  1. Cóc đốm (Kalophrynus interlineatus Blyth, 1855) – 2 mẫu.
  2. Ễnh ương thường (Kaloula pulchra Gray, 1831) – 6 mẫu.
  3. Nhái bầu hoa (Microhyla fissipes Boulenger, 1884) – 11 mẫu.
  4. Nhái bầu vân (Microhyla pulchra Hallowell, 1861) – 3 mẫu.
  5. Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi Vogt, 1911) – 4 mẫu.

2. Nhóm thức ăn nào chiếm vị trí quan trọng nhất trong khẩu phần của các loài họ Nhái bầu tại Bến En?

Kiến thuộc họ Formicidae (bộ Cánh màng - Hymenoptera) là loại thức ăn phổ biến và có chỉ số quan trọng ($Ix$) cao nhất ở cả 5 loài nghiên cứu, đạt $64,04%$ ở Cóc đốm, $42,55%$ ở Ễnh ương thường, $55,40%$ ở Nhái bầu hoa, $58,22%$ ở Nhái bầu vân và $72,06%$ ở Nhái bầu hây môn. Tính chung cho toàn bộ các cá thể họ Nhái bầu, họ Formicidae xuất hiện trong $88,00%$ số dạ dày có thức ăn, chiếm $53,53%$ tổng số lượng con mồi và đạt chỉ số quan trọng tổng thể $Ix = 47,89%$.

3. Loài lưỡng cư nào có phổ thức ăn đa dạng nhất trong số các loài được nghiên cứu?

Loài Ễnh ương thường (Kaloula pulchra) có phổ thức ăn đa dạng nhất, chiếm 7 trên tổng số 9 bộ thức ăn ghi nhận (bao gồm các bộ Araneae, Opiliones, Coleoptera, Hymenoptera, Hemiptera, Isoptera, Isopoda thuộc 15 họ khác nhau). Sự đa dạng này gắn liền với đặc tính sinh thái của Ễnh ương thường: có kích thước cơ thể lớn hơn, vừa kiếm ăn trên mặt đất vừa có khả năng trèo cây, tiếp cận được nhiều tầng sinh cảnh con mồi khác nhau.

4. Mức độ tương đồng về thành phần thức ăn giữa các loài họ Nhái bầu tại Bến En được ghi nhận như thế nào?

Theo chỉ số tương đồng Sorensen - Dice ($d_{jk}$), mức độ trùng lặp thức ăn giữa các loài dao động từ 0,50 đến 0,75 (thuộc nhóm chủ yếu giống nhau đến tương tự nhau). Hệ số tương đồng đạt giá trị cao nhất ($d_{jk} = 0,75$) giữa các cặp loài có sinh cảnh kiếm ăn tương đồng ven mặt đất ẩm: K. interlineatus - M. fissipes, M. fissipes - M. pulchra, và M. pulchra - M. heymonsi. Giá trị thấp nhất là $d_{jk} = 0,50$ giữa Cóc đốm (K. interlineatus) với Nhái bầu vân (M. pulchra) và Nhái bầu hây môn (M. heymonsi).

5. Những thiết bị và hóa chất chính nào đã được sử dụng để xử lý và phân tích mẫu vật?

  • Hóa chất: Dung dịch Orajel (chứa Benzalkonium chloride 0,02%, Benzocaine 20%, Zinc chloride 0,1%) dùng gây mê/làm chết mẫu vật; cồn $80% - 90%$ dùng cố định tiêu bản; cồn $70%$ dùng bảo quản dạ dày và lưu trữ tiêu bản lâu dài.
  • Thiết bị: Máy định vị vệ tinh GPS Garmin 60CX; kính lúp soi nổi Leica S6E và kính hiển vi soi nổi Leica M80 dùng để phân tích, đo đếm và chụp ảnh các mẫu thức ăn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Thiều Thị Huyền đã xác định đặc điểm hình thái và phân tích định lượng thành phần dinh dưỡng của 5 loài lưỡng cư thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae) ghi nhận tại Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa thông qua 26 mẫu cá thể và 906 mẫu con mồi trong dạ dày. Kết quả chỉ ra rằng thức ăn của nhóm loài này gồm 21 họ thuộc 9 bộ của 3 lớp động vật không xương sống, trong đó bộ Cánh màng (đặc biệt là kiến họ Formicidae) và bộ Cánh đều (mối họ Kalotermitidae) đóng vai trò dinh dưỡng then chốt. Nghiên cứu cung cấp dẫn liệu sinh thái thực nghiệm có giá trị khoa học, góp phần bổ sung dữ liệu sinh học cho khu hệ lưỡng cư khu vực Bắc Trung Bộ và hỗ trợ cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bến En.