MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đƣợc ghi nhận là một trong số 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao của thế giới [15]. Nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Việt Nam có sự đa dạng về địa hình dẫn đến sự đa dạng các hệ sinh thái, là điều kiện tạo nên tính đa dạng các loài sinh vật, trong đó có lƣỡng cƣ. Trong những năm gần đây, nhiều loài mới liên tục đƣợc mô tả cũng nhƣ lần đầu tiên ghi nhận có phân bố ở Việt Nam.
Theo Frost đến đầu năm 2018 đã ghi nhận ở Việt Nam có 264 loài [25]. Tỉnh Thanh Hóa có diện tích 11.129,48 km2, địa hình bị chia cắt mạnh đã tạo nên các vùng vi khí hậu cũng nhƣ sự phân hóa cảnh quan và ổ sinh thái đa dạng [3]. Thanh Hóa hiện có một VQG Bến En và ba Khu BTTN Pù Luông, Pù Hu và Xuân Liên. VQG Bến En thuộc địa bàn 2 huyện Nhƣ Thanh và Nhƣ Xuân, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 13.886 ha rừng, là nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng Thanh Hoá - Nghệ Tĩnh rộng lớn với núi cao Trƣờng Sơn Bắc.
Đỉnh núi cao nhất tại Bến En có độ cao 497 m so với mực nƣớc biển, vì vậy thảm thực vật Bến En thuộc kiểu rừng nhiệt đới thƣờng xanh đai thấp. Ba hệ sinh thái chính của Vƣờn là: hệ sinh thái rừng nhiệt đới thƣờng xanh trên núi đất thấp, hệ sinh thái rừng thƣờng xanh trên núi đá vôi và hệ sinh thái ao hồ. Ngoài ra trong khu vực còn có một số hệ sinh thái phụ khác là hệ sinh thái đất nông nghiệp và hệ sinh thái rừng trồng. Bến En đƣợc đánh giá có hệ sinh thái động thực vật phong phú và đa dạng, đại diện cho hệ sinh thái đai thấp ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam và có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học [26].
Kết quả điều tra năm 2013 đã thống kê đƣợc ở Bến En có 47 loài lƣỡng cƣ [4]. Cho đến nay các nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở VQG Bến En chủ yếu về thành phần loài; nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái, trong đó có dinh dƣỡng của chúng chƣa đƣợc thực hiện. 1 Để có những dẫn liệu mới về mối quan hệ giữa sự phân bố và thức ăn của lƣỡng cƣ, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu, làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển tài nguyên động vật lƣỡng cƣ. Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng của một số loài lƣỡng cƣ thuộc Họ Nhái bầu (Microhylidae) tại Vƣờn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa”.
Mục đích nghiên cứu Xác định đƣợc đặc điểm dinh dƣỡng của một số loài lƣỡng cƣ thuộc Họ Nhái bầu (Mycrohylidae) tại Vƣờn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Nội dung nghiên cứu - Thành phần loài thuộc họ Nhái bầu (Microhylidae) ở Vƣờn quốc gia Bến En. - Nghiên cứu về đặc điểm dinh dƣỡng của một số loài lƣỡng cƣ thuộc Họ Nhái bầu (Mycrohylidae) tại Vƣờn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Ý nghĩa khoa học Cung cấp dẫn liệu về thành phần thức ăn họ Nhái bầu ở VQG Bến En làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý bảo tồn và khai thác bền vững nhóm động vật này.
2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về dinh dƣỡng của lƣỡng cƣ ở Việt Nam Cho đến nay, các nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở Việt Nam chủ yếu về thành phần loài, phân bố của các loài ở các vùng khác nhau trong cả nƣớc. Nghiên cứu về dinh dƣỡng của lƣỡng cƣ còn chƣa nhiều, chủ yếu về thức ăn của lƣỡng cƣ trên hệ sinh thái đồng ruộng, trên đối tƣợng các loài trong tự nhiên nhƣ hệ sinh thái rừng còn ít đƣợc quan tâm. Tuy nhiên gần đây một số tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu về sinh học sinh thái cũng nhƣ dinh dƣỡng của các loài.
Nghiên cứu của Ngô Văn Bình và cs năm (2009) [6] trên các đối tƣợng Ếch gai sần (Q. verrucospinosa), Chẫu chuộc (S. Guentheri) và Ngóe (F. Limnocharis) ở Thừa Thiên - Huế cho thấy đây đều là các loài ăn tạp, thức ăn phong phú nhất thuộc về Ếch gai sần (Q.
verrucospinosa) 26 loại, Ngóe (F. Limnocharis) 18 loại và thấp nhất là Chẫu chuộc (S. Trong đó, thức ăn thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda) chiếm 62,07%. Các loại thức ăn xuất hiện với tần suất cao bao gồm: bộ Coleoptera (38,55%), bộ Orthoptera (42,42%), bộ Decapoda (43,04%), bộ Mesogastropoda (27,92%), ấu trùng Insecta larvae (19,22%), bộ Hymenoptera (16,76%), lá cây và gỗ mục (20,24%).
Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thảo và cs (2013) [13] ở Nhái bầu hoa (Microhyla fissipes) tại xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An cho thấy, thức ăn của Nhái bầu hoa gồm 6 bộ, trong đó các loại thức ăn phổ biến là kiến thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera) là các loài có kích thƣớc cơ thể bé, mối non thuộc bộ Cánh đều (Isoptera), dế thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera), muỗi thuộc bộ Hai cánh (Diptera), bộ Nhện (Araneae) (Araneae). Phổ thức ăn của Nhái bầu hoa khá hẹp, loại thức ăn phổ biến thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) và bộ Cánh cứng (Coleoptera). Tại khu Bảo tồn thiên nhiên Mƣờng Nhé, tỉnh Điện Biên, Lê Trung Dũng (2015) [8] đã nghiên cứu và phân tích dạ dày của 6 loài lƣỡng cƣ. Kết quả cho thấy Ếch nhẽo ban-na (L.
bannaensis), có phổ thức ăn rộng nhất với 14 loại 3 trong đó có 9 loại côn trùng, kế tiếp là Ếch gai sần (Q. verrucospinosa) ăn 13 loại thức ăn trong đó có 7 loại côn trùng, Cóc nhà (D. melanostictus) ăn 9 loại thức ăn trong đó có 6 loại côn trùng, Cóc mắt bên (M. major) ăn 7 loại thức ăn trong đó có 4 loại côn trùng, Ếch cây phê (R.
feae) ăn 8 loại thức ăn trong đó có 6 loại côn trùng, Ếch cây mi-an-ma (P. mutus) ăn 4 loại thức ăn trong đó có 2 loại côn trùng. Ngoài ra, trong dạ dày còn có các mảnh thực vật và sỏi đá. Không ghi nhận mảnh vụn và sỏi đá trong dạ dày của 2 loài ếch cây P.
Phạm Văn Anh (2015) [2] nghiên cứu ở hai Khu bảo tồn thiên nhiên Copia và Sốp Cộp, tỉnh Sơn La đã chỉ ra đại diện ba dạng nơi ở gồm nhóm ở nƣớc (Ếch gai sần Q. verrucospinosa, Ếch trơn L. bannanensis), nhóm ở trên mặt đất (Cóc mắt bên M. major, Ếch doi-chang N.
aenea, Chàng an-đec-son (O. andersoni) và nhóm ở trên cây (Ếch cây sần tay-lo K. bisacculus, Chẫu chàng mi-an-ma P. mutus, Ếch cây phê R.
Thức ăn của chúng chủ yếu thuộc 4 ngành, 7 lớp, 17 bộ, 2 lớp. Nhóm ếch ở nƣớc ăn chủ yếu là bộ Cánh cứng (Coleoptera) chiếm 29%, bộ Cánh thẳng (Orthoptera) chiếm 13% và bộ Nhện (Araneae) chiếm 10%. Cả hai loài ếch này đều ăn các loại con mồi: Oligochaeta, Araneae, Odonata, Blattoptera, Orthoptera, Dermaptera, Coleoptera, Lepidoptera, Hymenoptera, Phasmatodea. Nhóm ếch ở trên mặt đất ăn bộ Cánh cứng (Coleoptera) với 23% và bộ Cánh thẳng (Orthoptera) chiếm 19%.
Cả ba loài ếch này đều ăn các loại con mồi: Mollusca, Opilliones, Aranei, Blattoptera, Orthoptera, Coleoptera, Lepidoptera, Hymenoptera, Phasmatodea và Heteroptera. Nhóm ếch cây ăn chủ yếu là bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Cánh thẳng (Orthoptera) và bộ Nhện (Araneae), bộ Blattoptera. Ba loài ếch này đều ăn các loại con mồi: Araneae, Orthoptera, Coleoptera, Diptera và Phasmatodea. Đáng chú ý loài trong thành phần thức ăn của Ếch cây phê R.
feae có nhóm chim mà không có trong thành phần thức ăn chung với hai loài trên, đây là điều hết sức thú vị. Tình hình nghiên cứu về dinh dƣỡng của lƣỡng cƣ ở Thanh Hóa Nghiên cứu của Phạm Văn Anh, Lê Nguyên Ngật (2012) [1] về thành phần thức ăn của một số loài lƣỡng cƣ ở khu BTTN Xuân Liên cho thấy Ếch gai sần (Q. verrucospinosa) có phổ thức ăn rộng nhất gồm 17 loại (chiếm 85%); tiếp đó là các loại có phổ thức ăn hẹp hơn: Ếch trơn (L. bannanensis) và Ếch suối (H.
Thức ăn ƣa thích của 5 loài lƣỡng cƣ là lớp Sâu bọ, trong đó Ếch gai sần sử dụng nhiều nhất với 12 loại. Năm 2012 tại xã Triệu Dƣơng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, Cao Tiến Trung và cs [14] đã nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng và mối quan hệ với sâu hại của các loài lƣỡng cƣ trên hệ sinh thái đồng ruộng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thành phần thức ăn của ba loài ếch nhái khá đa dạng, gồm 9 bộ thuộc lớp côn trùng, giun đốt, thân mềm, lƣỡng cƣ và thực vật. Trong đó thức ăn ƣa thích của ba loài gồm 2 loài côn trùng: bộ Cánh màng (Hymenopte), bộ Cánh cứng (Coleoptera) bộ Cánh vảy (Lepidoptera).
Số lƣợng Ngóe biến động theo sự biến động của sâu hại trên ruộng lạc theo giai đoạn sinh trƣởng của cây lạc. Nhƣ vậy, ở VQG Bến En chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về đặc điểm dinh dƣỡng của họ Nhái bầu (Microhylidae), nên nghiên cứu của đề tài là cần thiết. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Vƣờn quốc gia Bến En nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 46 km về phía Tây Nam, có tọa độ địa lý từ 19028' đến 19041' độ vĩ bắc, từ 105020' đến 105035' kinh đông, thuộc địa bàn 2 huyện Nhƣ Xuân và Nhƣ Thanh.
Phía Bắc giáp xã Xuân Khang, Hóa Quỳ, huyện Nhƣ Xuân; Phía Nam giáp xã Xuân Bình, Xuân Thái, huyện Nhƣ Xuân, Nhƣ Thanh; Phía Đông giáp 5 xã Xuân Phúc, Xuân Thái, Hải Vân, huyện Nhƣ Thanh; Phía Tây giáp xã Xuân Quỳ huyện Nhƣ Xuân. Tổng diện tích tự nhiên là: 14. - Địa hình và thủy văn Địa hình VQG Bến En là sự kết hợp của đồi, núi, suối và hồ. Độ cao dao động từ 20 – 498 m, hầu hết địa hình dƣới 200 m.
Hồ ở độ cao 50 m sao với mặt nƣớc biển, có diện tích 2. Địa chất khu vực đặc trƣng bởi đá trầm tích, đặc biệt là đá than bùn. Có một diện tích nhỏ núi đá vôi, vùng có diện tích lớn núi đá vôi thuộc vùng đệm phía Đông Bắc ranh giới vƣờn. Trong vùng lõi của vƣờn có hệ thủy lớn là Sông Mực.
- Khí hậu Trong vùng có lƣợng mƣa cao, khí hậu thuận lợi cho quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây rừng, phục hồi các hệ sinh thái, là môi trƣờng sống thuận lợi cho nhiều loài động vật. - Hiện trạng đất rừng Hiện nay VQG Bến En có hơn gần 1.000 ha rừng ở Bến En đang bị suy thoái do các tác động của con ngƣời.