Tổng quan luận án

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đòi hỏi khối lượng vật liệu xây dựng rất lớn, đặc biệt là nguồn cốt liệu cho bê tông xi măng. Trong kết cấu mặt đường bê tông xi măng, cốt liệu chiếm phần lớn thể tích và quyết định trực tiếp đến các chỉ tiêu kỹ thuật cũng như giá thành xây dựng. Tại Việt Nam, nguồn cát thô tự nhiên có trữ lượng hạn chế, phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, dẫn đến tình trạng khan hiếm cục bộ và chi phí vận chuyển tăng cao tại nhiều địa phương. Ngược lại, nguồn cát mịn lại có trữ lượng rất phong phú ở nhiều khu vực như đồng bằng sông Cửu Long (ước tính trên 850 triệu $\text{m}^3$), lưu vực sông Hồng, vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên.

Theo các tiêu chuẩn kỹ thuật truyền thống như TCVN 7570:2006, TCXD 127:1985 và Quyết định 778/1998/QĐ-BXD, cát mịn (mô đun độ lớn $M_{dl} < 2{,}0$) chỉ được cho phép sử dụng để chế tạo bê tông mác thấp đến trung bình (cấp độ bền chịu nén không quá B25 hoặc cường độ chịu nén dưới $30\text{ MPa}$), tương quan cường độ chịu nén trên cường độ kéo khi uốn ($R_n/R_{ku}$) chỉ đạt mức cấp 1 (cường độ chịu kéo khi uốn $R_{ku} \le 4{,}0\text{ MPa}$), và độ mài mòn ở mức $\le 0{,}6\text{ g/cm}^2$. Mặt đường bê tông xi măng làm việc theo nguyên lý tấm trên nền đàn hồi, do đó cường độ chịu kéo khi uốn và khả năng chống mài mòn là hai chỉ tiêu kỹ thuật cốt lõi. Đối với mặt đường bê tông xi măng cấp I, II và III, tiêu chuẩn thiết kế đòi hỏi cường độ chịu nén/kéo khi uốn ($R_n/R_{ku}$) phải đạt từ $35/4{,}5\text{ MPa}$ đến $\ge 40/5{,}0\text{ MPa}$ và độ mài mòn phải $< 0{,}3\text{ g/cm}^2$. Khoảng trống nghiên cứu được luận án đặt ra là giải quyết các hạn chế cố hữu của bê tông cát mịn (lượng nước nhào trộn cao, cấp phối gián đoạn, diện tích bề mặt hạt lớn, dễ mất nước, phân tầng, co mềm, cường độ kéo khi uốn và độ chống mài mòn thấp) nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật của mặt đường cấp cao.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu nâng cao cường độ chịu kéo khi uốn và khả năng chống mài mòn của bê tông cát mịn dùng làm mặt đường bê tông xi măng tới đường cấp I.

Mục tiêu cụ thể và đối tượng nghiên cứu được phân định thành hai nhóm:

  1. Nhóm bê tông sử dụng cát mịn đơn thuần: Đạt cường độ chịu kéo khi uốn $R_{ku} > 4{,}5\text{ MPa}$, độ mài mòn từ $0{,}3\text{ g/cm}^2$ đến $0{,}6\text{ g/cm}^2$, ứng dụng cho mặt đường bê tông xi măng từ cấp IV trở xuống và sân bãi.
  2. Nhóm bê tông sử dụng cát mịn phối hợp mạt đá vôi theo tỷ lệ hợp lý: Đạt cường độ chịu kéo khi uốn $R_{ku} > 5{,}0\text{ MPa}$, cường độ chịu nén $R_n > 40\text{ MPa}$, độ mài mòn $< 0{,}3\text{ g/cm}^2$, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mặt đường bê tông xi măng đến cấp I.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hỗn hợp bê tông và bê tông sử dụng cốt liệu nhỏ là cát mịn sông Hồng ($M_{dl} = 1{,}2; 1{,}6; 1{,}9$) và hỗn hợp cát mịn phối hợp mạt đá vôi ($M_{dl} = 3{,}6$), xi măng Poóc lăng hỗn hợp PCB40 Nghi Sơn, xi măng Poóc lăng PC40 Bút Sơn, cốt liệu lớn đá dăm vôi Hà Nam ($D_{max} = 20\text{ mm}$), phụ gia siêu dẻo gốc polycarboxylate Daltonmat-RDHP.
  • Phạm vi nghiên cứu: Áp dụng công nghệ thi công mặt đường bằng phương pháp đầm rung thông thường; kiểm chứng qua các mô hình thực nghiệm trong phòng và ứng dụng thực tế trên các tuyến đường giao thông nội bộ, sân bãi công nghiệp tại Hà Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo hai nhóm nghiên cứu chính trên thế giới và tại Việt Nam:

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Về hướng nghiên cứu chế tạo bê tông hạt nhỏ (không có cốt liệu lớn):

  • Nicolas De Rochefort (1918) tại Saint-Peterburg (Liên Xô cũ) đã thực hiện nghiền lẫn cát và clinker để chế tạo chất kết dính cát - xi măng. Đến năm 1941, bê tông cát được ứng dụng cho đường sân bay quân sự Pevec, Arkangelsk và đường cao tốc Serpukov-Toula.
  • Nghiên cứu của các tác giả Liên Xô cũ [99] trên cát có $M_{dl} = 1{,}53 \div 3{,}50$ chỉ ra việc tăng hàm lượng hạt mịn $< 0{,}14\text{ mm}$ ảnh hưởng rõ rệt đến lượng dùng xi măng, xác định hàm lượng hạt mịn tối ưu nằm trong khoảng $5% \div 12%$.
  • Nhóm tác giả [103] qua hơn 20 năm khảo sát 17 vùng cát mịn sa mạc tại Liên Xô cũ, Kazakhstan, Uzbekistan và Turkmenistan đã phân loại cát theo tỷ diện tích bề mặt (từ $10\text{ m}^2/\text{kg}$ đến $> 30\text{ m}^2/\text{kg}$) để chế tạo bê tông hạt nhỏ cấp độ bền đến B22,5 và bê tông tổ ong không chưng áp.
  • Tại Algieri, nghiên cứu [51] so sánh cát sa mạc ($M_{dl} = 1{,}22$) với cát sông ($M_{dl} = 2{,}83$), chứng minh phụ gia dẻo hóa giúp gia tăng cường độ bê tông cát mịn lên đến $40%$.
  • Tại Pháp, từ năm 1853, Francois Coignet đã chế tạo bê tông hạt mịn ứng dụng cho hệ thống thoát nước và tường chắn tại Paris.

Về hướng nghiên cứu sử dụng cát mịn thay thế cát thô trong bê tông thông thường:

  • Tại Liên Xô cũ, "Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng cát mịn trong bê tông thủy công" (1950s) [102] ghi nhận việc tăng $20% \div 40%$ lượng xi măng khi dùng cát mịn. Đến những năm 1970, xuất hiện hai quan điểm đối lập giữa nhóm chấp nhận cát mịn (Sơ-krăm-ta-ep, Ki-ri-en-cô, S.ton-nhi-côp, Gu-ba) và nhóm duy trì yêu cầu cát hạt thô (Khi-ghê-rô-vich, Góoc-cha-kốp, Vô-rô-bi-ep, Kôma).
  • Thí nghiệm tại công trình thủy điện Sayano-Shushenskaia trên sông Enisei (1980s) [93] với cát có $M_{dl} = 1{,}13 \div 3{,}07$ khẳng định nếu xác định lượng dùng cát tối ưu thì lượng xi măng chỉ cần tăng dưới $20\text{ kg/m}^3$.
  • Viện Nghiên cứu Đường bộ Liên Xô đã ban hành các chỉ dẫn kỹ thuật [95], [96] cho mặt đường ô tô và sân bay, xác định bê tông cát mịn có $R_{ku}$ cao hơn $5% \div 10%$ nhưng khả năng chống mài mòn kém hơn $10% \div 15%$ so với bê tông cát thô.
  • Dự án DuBai City (2009) tại UAE [83] sử dụng $300 \div 400\text{ kg/m}^3$ cát mịn kết hợp phụ gia giảm nước để chế tạo bê tông đạt cường độ nén $45\text{ MPa}$.
  • Các nghiên cứu cát sa mạc tại Oman [54] ($M_{dl} = 0{,}45 \div 0{,}88$), sa mạc Tenggeli và Maowusu ở Trung Quốc [59], [69] ($M_{dl} = 0{,}194 \div 0{,}334$), sa mạc tại Úc [67] ($M_{dl} = 1{,}01$), nghiên cứu cát nghiền đá vôi của Kim và cộng sự tại Hàn Quốc [71], bột vỏ sò của Xie Zhi-Hua [90], và cát nghiền bụi kết hợp tro bay/silica fume của R. Naidu và S. Ang tại Malaysia.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Đề tài nghiên cứu sử dụng cát đen sông Hồng do Nguyễn Văn Đốc và Hoàng Phủ Lan chủ trì (1967); các nghiên cứu bê tông thủy công của Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi [4], [5] và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng [15] cho bê tông cường độ $\le 30\text{ MPa}$.
  • Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước [16] khảo sát các mỏ cát mịn miền Bắc, làm cơ sở biên soạn tiêu chuẩn TCXD 127:1985 [45], khuyến cáo giới hạn cát có $M_{dl} > 0{,}7$ và hàm lượng hạt $< 0{,}14\text{ mm}$ dưới $35%$.
  • Nghiên cứu cấp phối gián đoạn dùng cát mịn sông Hồng [63], [64]; nghiên cứu bê tông cường độ cao dùng cát mịn kết hợp tro trấu [62] (Đại học Xây dựng, 2005) đạt cường độ $98\text{ MPa}$; nghiên cứu cát biển Vũng Tàu, Bình Thuận [10] (2006) cho mặt đường ô tô cấp thấp; cát đen sông Hồng làm bê tông đầm lăn cường độ thấp [28] (2006); cát mịn kết hợp xỉ lò cao và tro trấu [13] (2010); bê tông cát làm đường ô tô [21] (2010); bê tông $40\text{ MPa}$ từ cát đen sông Hồng [6] (2012).
  • Thực tế sản xuất cấu kiện tại Công ty Cổ phần VLXD Sông Đáy: Ứng dụng cát mịn sông Hồng sản xuất ống cống tròn (D300 đến D2500), cống hộp theo TCVN 9113:2012, TCVN 9116:2012, ASTM C76M-05 và gạch bê tông khí chưng áp AAC.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu ứng dụng cát mịn cho bê tông kết cấu chịu nén mác thấp hoặc cấu kiện đúc sẵn. Luận án đi sâu giải quyết đồng thời hai chỉ tiêu cơ lý đặc thù của mặt đường giao thông chịu tải trọng uốn và mài mòn trực tiếp: nâng $R_{ku}$ lên trên $5{,}0\text{ MPa}$ và hạ độ mài mòn xuống dưới $0{,}3\text{ g/cm}^2$, đưa bê tông cát mịn đạt tiêu chuẩn kỹ thuật mặt đường cấp cao (cấp I).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các mô hình lý thuyết vật liệu và cơ học phá hoại:

  1. Mô hình vật liệu composite 3 pha: Bê tông gồm pha đá xi măng, pha cốt liệu và vùng chuyển tiếp tiếp xúc (Interfacial Transition Zone - ITZ). Cường độ kéo khi uốn của bê tông phụ thuộc vào pha yếu nhất là vùng chuyển tiếp. Vùng chuyển tiếp ở bê tông thông thường dày $50 \div 100\ \mu\text{m}$, chứa nhiều lỗ rỗng và tinh thể thô canxi hydroxit ($\text{Ca(OH)}_2$), ettringite do hiện tượng tách nước cục bộ dưới bề mặt hạt cốt liệu lớn.
  2. Lý thuyết thủy hóa và cấu trúc đá xi măng: Áp dụng công thức Feret biến đổi: $$f_c = k \left( \frac{1}{1 + w/c} \right)^2$$ Để tăng cường độ đá xi măng, cần giảm tỷ lệ nước/xi măng ($N/X$), giảm bọt khí cuốn và chuyển dịch cấu trúc sản phẩm thủy hóa từ dạng tinh thể lớn bên ngoài ("Outer" C-S-H) sang sản phẩm thủy hóa đặc chắc bên trong ("Inner" C-S-H) theo mô hình của Mehta và Monteiro [77].
  3. Cơ chế chịu lực và phá hoại: Phá hoại chịu nén xảy ra do biến dạng nở ngang quá mức tạo thành các khe nứt dọc dạng hình tháp; phá hoại kéo khi uốn xảy ra khi ứng suất kéo ở thớ đáy vượt qua giới hạn độ bền kéo của vùng tiếp xúc vữa - cốt liệu lớn [27], [30], [81].
  4. Cơ chế mài mòn: Mài mòn bề mặt do chà xát, tạo vết xước và bóc tách các hạt khoáng. Cát mịn có kích thước tương đương hạt cát mài nên dễ bị đánh bật khỏi nền đá xi măng hơn cốt liệu thô. Do đó, luận án thiết lập giải pháp bổ sung mạt đá vôi ($M_{dl} = 3{,}6$, kích thước $< 5\text{ mm}$) để bù đắp thành phần hạt thô cho cốt liệu nhỏ, tạo bộ khung chèn chặt và tăng cường diện tích tiếp xúc dính kết.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Luận án áp dụng kết hợp hệ thống phương pháp thí nghiệm tiêu chuẩn và phi tiêu chuẩn:

Nhóm phương pháp Tiêu chuẩn / Quy trình áp dụng Mục đích xác định
Thí nghiệm tiêu chuẩn cốt liệu TCVN 7570:2006, ASTM C33-03, AASHTO M 6-93, GOST 8736-93 Thành phần hạt, mô đun độ lớn ($M_{dl}$), khối lượng thể tích, độ hổng, hàm lượng bụi bùn sét.
Thí nghiệm cơ lý xi măng TCVN 6260:2009, TCVN 2682:2009 Độ mịn, thời gian đông kết, cường độ nén ($R_{xn}$), cường độ uốn ($R_{xku}$) ở 3, 7, 28 ngày.
Thí nghiệm hỗn hợp bê tông TCVN 3106:2007, TCVN 3107:2007 Độ sụt ban đầu, suy giảm độ sụt sau 30, 60, 90 phút, độ phân tầng tách vữa.
Thí nghiệm cơ lý bê tông đóng rắn TCVN 3118:1993, TCVN 3119:1993, TCVN 3113:1993, ASTM C78 Cường độ nén ($R_n$), cường độ kéo khi uốn ($R_{ku}$), mô đun đàn hồi tĩnh ($E_b$), độ chống thấm nước (W).
Thí nghiệm độ mài mòn TCVN 3114:1993 Xác định độ mài mòn bề mặt ($\text{g/cm}^2$) trên máy mài quay.
Thí nghiệm phi tiêu chuẩn: Co mềm & Mất nước Phương pháp hộp thí nghiệm có mô đun hở $M_h = 30\text{ m}^{-1}$ Đo tốc độ bay hơi mất nước ($\text{kg/m}^2/\text{h}$) và biến dạng co mềm ban đầu của hỗn hợp bê tông.
Thí nghiệm phi tiêu chuẩn: Đo co khô Đo chuyển vị bằng đồng hồ so Xác định độ biến dạng co ngót dài hạn của bê tông theo thời gian đóng rắn.

Nguồn vật liệu sử dụng trong nghiên cứu

  1. Cốt liệu nhỏ: Cát mịn sông Hồng gồm 3 loại C1 ($M_{dl} = 1{,}2$), C2 ($M_{dl} = 1{,}6$), C3 ($M_{dl} = 1{,}9$); Cát thô đối chứng CV ($M_{dl} = 2{,}5$); Mạt đá vôi Kiện Khê - Hà Nam M ($M_{dl} = 3{,}6$); Các hỗn hợp cát mịn phối hợp mạt đá: C1M, C2M, C3M.
  2. Cốt liệu lớn: Đá dăm vôi Kiện Khê - Hà Nam, cỡ hạt $5 \div 20\text{ mm}$ ($D_{max} = 20\text{ mm}$).
  3. Xi măng: Xi măng Poóc lăng hỗn hợp PCB40 Nghi Sơn và xi măng Poóc lăng PC40 Bút Sơn.
  4. Phụ gia hóa học: Phụ gia siêu dẻo giảm nước bậc cao gốc polycarboxylate thương phẩm Daltonmat-RDHP.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và sử dụng của bê tông cát mịn

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn cốt liệu và kinh nghiệm sử dụng cát mịn trong và ngoài nước. Các phát hiện và lập luận chính gồm:

  • Phân tích sự không đồng nhất giữa các hệ tiêu chuẩn: GOST (Nga) cho phép dùng cát $M_{dl} = 1{,}0 \div 1{,}5$ cho bê tông B30; ASTM (Mỹ) giới hạn $M_{dl} = 2{,}3 \div 3{,}1$ nhưng mở cho phép dùng cát mịn nếu có thử nghiệm tương đương; TCVN 7570:2006 giới hạn cát mịn $M_{dl} = 1{,}0 \div 2{,}0$ cho bê tông $\le \text{B25}$.
  • Đánh giá đặc tính cát sông Hồng: Mô đun độ lớn phổ biến $0{,}8 \div 1{,}5$, lượng hạt lọt sàng $0{,}315\text{ mm}$ chiếm trên $90%$, hàm lượng bùn sét trung bình $0{,}82%$, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật làm cốt liệu sau khi điều chỉnh cấp phối.
  • Xây dựng cơ sở lý thuyết nâng cao $R_{ku}$ và chống mài mòn: Chứng minh cấu trúc cấp phối gián đoạn của cát mịn kết hợp đá dăm có thể tối ưu hóa độ đặc chắc khi khống chế hệ số dư vữa ($K_d$) và sử dụng phụ gia siêu dẻo polycarboxylate để thu hẹp vùng chuyển tiếp ITZ.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu đầu vào và các sơ đồ bố trí thí nghiệm:

  • Xi măng PCB40 Nghi Sơn và PC40 Bút Sơn có các chỉ tiêu cơ lý, độ ổn định thể tích và cường độ nén/uốn ở 3, 7, 28 ngày đạt tiêu chuẩn TCVN 6260:2009 và TCVN 2682:2009.
  • Cát mịn C1, C2, C3 có tỷ diện tích bề mặt lớn, độ hổng cao ($> 45%$). Khi phối trộn với mạt đá vôi theo tỷ lệ xác định, hỗn hợp cốt liệu nhỏ C1M, C2M, C3M có mô đun độ lớn tăng lên, đường cong tích lũy hạt tiệm cận vùng cấp phối hạt tiêu chuẩn.
  • Phụ gia Daltonmat-RDHP có khả năng giảm nước cao (trên $20%$), cho phép giảm tỷ lệ $N/X$ xuống mức $0{,}30 \div 0{,}42$ mà vẫn duy trì độ sụt yêu cầu cho thi công đầm rung ($2 \div 4\text{ cm}$ hoặc $6 \div 8\text{ cm}$).
  • Thiết lập quy trình thí nghiệm phi tiêu chuẩn xác định động thái mất nước và biến dạng co mềm với mô đun hở $M_h = 30\text{ m}^{-1}$ (mô phỏng điều kiện bốc hơi bề mặt đường thực tế).

Chương 3: Nâng cao cường độ chịu kéo khi uốn và khả năng chống mài mòn của bê tông cát mịn đối với mặt đường bê tông xi măng

Chương 3 tập trung giải quyết các bài toán thực nghiệm về tính công tác của hỗn hợp bê tông và các tính chất cơ lý của bê tông đóng rắn:

Quan hệ thành phần cấp phối - Tính công tác và Cường độ cơ lý

Các kết quả thực nghiệm nổi bật:

  • Tính công tác: Khi sử dụng cát mịn đơn thuần, lượng nước nhào trộn để đạt cùng độ sụt tăng từ $15 \div 25\text{ lít/m}^3$ so với cát thô CV. Khi phối hợp cát mịn với mạt đá vôi, lượng nước yêu cầu giảm đáng kể. Hỗn hợp bê tông duy trì độ sụt tốt trong 30-60 phút đầu, hiện tượng phân tầng tách vữa được kiểm soát hoàn toàn ở hệ số dư vữa $K_d = 1{,}25 \div 1{,}35$.
  • Tương quan cường độ nén ($R_n$) và kéo khi uốn ($R_{ku}$): Thiết lập các phương trình tương quan thực nghiệm và xác định hệ số chất lượng vật liệu $A_n$ (đối với cường độ nén) và $A_{ku}$ (đối với cường độ kéo uốn) theo tỷ lệ $X/N$ trong khoảng $1{,}80 \div 2{,}30$:
Loại cốt liệu nhỏ sử dụng Hệ số $A_n$ ($X/N = 2{,}00$) Hệ số $A_{ku}$ ($X/N = 2{,}00$) Cường độ nén $R_{n28}$ ($\text{MPa}$) Cường độ uốn $R_{ku28}$ ($\text{MPa}$) Độ mài mòn 28 ngày ($\text{g/cm}^2$)
Cát mịn C1 ($M_{dl}=1{,}2$) $0{,}42 \div 0{,}44$ $0{,}54 \div 0{,}56$ $40{,}5 \div 42{,}0$ $4{,}6 \div 4{,}8$ $0{,}45 \div 0{,}52$
Cát mịn C2 ($M_{dl}=1{,}6$) $0{,}44 \div 0{,}46$ $0{,}56 \div 0{,}58$ $42{,}0 \div 44{,}5$ $4{,}8 \div 5{,}1$ $0{,}38 \div 0{,}44$
Cát mịn C3 ($M_{dl}=1{,}9$) $0{,}46 \div 0{,}48$ $0{,}58 \div 0{,}60$ $44{,}0 \div 46{,}5$ $5{,}0 \div 5{,}3$ $0{,}32 \div 0{,}36$
Cát mịn + Mạt đá (C1M, C2M, C3M) $0{,}48 \div 0{,}52$ $0{,}62 \div 0{,}66$ $46{,}0 \div 53{,}5$ $5{,}3 \div 6{,}2$ $0{,}18 \div 0{,}26$
Cát thô đối chứng CV ($M_{dl}=2{,}5$) $0{,}50 \div 0{,}53$ $0{,}63 \div 0{,}67$ $48{,}0 \div 54{,}0$ $5{,}4 \div 6{,}3$ $0{,}20 \div 0{,}25$
  • Kết quả độ mài mòn: Bê tông dùng riêng cát mịn không thể hạ độ mài mòn xuống dưới mức $0{,}3\text{ g/cm}^2$ (dao động từ $0{,}32 \div 0{,}52\text{ g/cm}^2$). Khi phối hợp cát mịn với mạt đá vôi theo tỷ lệ nghiên cứu, độ mài mòn giảm mạnh xuống $0{,}18 \div 0{,}26\text{ g/cm}^2$, hoàn toàn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mặt đường cấp I, cấp II.

Chương 4: Nghiên cứu một số tính chất của bê tông cát mịn đối với mặt đường bê tông xi măng

Chương 4 tập trung vào các đặc tính biến dạng và độ bền lâu của bê tông:

  • Động thái mất nước và co mềm ($M_h = 30\text{ m}^{-1}$): Bê tông sử dụng cát mịn đơn thuần có tốc độ mất nước ban đầu cao gấp $1{,}3 \div 1{,}5$ lần và độ co mềm lớn hơn đáng kể so với bê tông cát thô. Việc phối hợp mạt đá vôi giúp giảm tốc độ mất nước và giảm độ co mềm tới $20% \div 30%$.
  • Co ngót khô dài hạn: Độ co khô của bê tông cát mịn phối hợp mạt đá ở tuổi 180 ngày tiệm cận với bê tông cát thô đối chứng, không xuất hiện các vết nứt co ngót bất thường khi được dưỡng hộ đúng quy trình.
  • Sự phát triển cường độ theo thời gian: Nhờ phụ gia siêu dẻo polycarboxylate, cường độ nén và uốn ở tuổi 3 ngày đạt $50% \div 60%$, ở tuổi 7 ngày đạt $75% \div 85%$ cường độ 28 ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cắt khe co giãn đúng thời điểm.
  • Độ chống thấm nước và mô đun đàn hồi: Bê tông cát mịn phối hợp mạt đá đạt cấp chống thấm nước từ W10 đến W12; mô đun đàn hồi tĩnh $E_b$ đạt $(3{,}2 \div 3{,}6) \times 10^4\text{ MPa}$, tương đương với bê tông sử dụng cát thô tiêu chuẩn.
  • Đề xuất giải pháp công nghệ: Khống chế thời gian hoàn thiện bề mặt, che phủ bảo dưỡng ẩm sớm bằng màng nilông hoặc hợp chất tạo màng ngăn bốc hơi trong 4 giờ đầu để triệt tiêu nứt do co mềm.

Chương 5: Ứng dụng thực tế và đánh giá hiệu quả kinh tế

Chương 5 chuyển giao kết quả nghiên cứu vào điều kiện sản xuất quy mô công nghiệp:

  • Triển khai thi công thực tế tại tuyến đường giao thông nội bộ và sân bãi của Nhà máy 1 và Nhà máy 2 thuộc Công ty Cổ phần Vật liệu Xây dựng Sông Đáy (Hà Nam).
  • Kết quả kiểm định mẫu khoan hiện trường:
    • Chiều dày tấm bê tông đạt thiết kế ($20 \div 22\text{ cm}$).
    • Cường độ chịu nén mẫu khoan đạt $43{,}5 \div 48{,}2\text{ MPa}$; cường độ kéo khi uốn quy đổi đạt $5{,}2 \div 5{,}6\text{ MPa}$.
    • Độ bằng phẳng (chỉ số IRI) và độ nhám bề mặt đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn nghiệm thu đường ô tô hiện hành.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế: Phân tích đơn giá xây dựng cho thấy việc sử dụng cát mịn tại chỗ kết hợp mạt đá vôi (nguồn phế thải từ nghiền đá) thay thế cát thô vận chuyển từ xa giúp giảm giá thành sản xuất $1\text{ m}^3$ bê tông từ $10%$ đến $15%$.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  1. Xác lập hệ thống tương quan thực nghiệm có độ tin cậy cao giữa cường độ chịu nén ($R_n$), cường độ chịu kéo khi uốn ($R_{ku}$) của bê tông với cường độ xi măng ($R_{xn}, R_{xku}$) và tỷ lệ $X/N$, cùng hệ số chất lượng vật liệu ($A_n, A_{ku}$) trong miền cường độ chịu kéo khi uốn $R_{ku} = 4{,}0 \div 7{,}0\text{ MPa}$ khi sử dụng cốt liệu nhỏ là cát mịn và hỗn hợp cát mịn phối hợp mạt đá vôi.
  2. Làm sáng tỏ cơ chế nâng cao đồng thời cường độ kéo uốn và khả năng chống mài mòn: Sử dụng phụ gia siêu dẻo polycarboxylate giúp giảm mạnh tỷ lệ $N/X$ và lấp đặc cấu trúc vùng chuyển tiếp ITZ; phối hợp mạt đá vôi giải quyết triệt để khuyết tật thiếu hạt thô trong cốt liệu nhỏ, tạo bộ khung chống lại tác động bóc tách bề mặt khi chịu mài mòn.
  3. Bổ sung cơ sở dữ liệu về động thái mất nước, biến dạng co mềm ở mô đun hở $M_h = 30\text{ m}^{-1}$, sự phát triển cường độ sớm, mô đun đàn hồi và độ chống thấm của bê tông cát mịn.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp kỹ thuật

  1. Chế tạo thành công bê tông sử dụng cát mịn ($M_{dl} = 1{,}2 \div 1{,}9$) kết hợp mạt đá vôi ($M_{dl} = 3{,}6$), xi măng thông dụng (PC40, PCB40) và phụ gia polycarboxylate đạt $R_{ku} > 5{,}0\text{ MPa}$, $R_n > 40\text{ MPa}$, độ mài mòn $< 0{,}3\text{ g/cm}^2$, ứng dụng cho mặt đường bê tông xi măng đến cấp I.
  2. Xác định phạm vi ứng dụng hợp lý cho bê tông dùng cát mịn đơn thuần (không phối hợp mạt đá): Thích hợp cho mặt đường cấp IV trở xuống và sân bãi ($R_{ku} > 4{,}5\text{ MPa}$, độ mài mòn $0{,}3 \div 0{,}6\text{ g/cm}^2$) kèm biện pháp công nghệ phòng ngừa nứt sớm.
  3. Đề xuất quy trình công nghệ thi công đầm rung và các biện pháp bảo dưỡng sớm tại hiện trường nhằm ngăn ngừa nứt bề mặt do mất nước và co mềm.
  4. Mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: Giảm chi phí giá thành $10% \div 15%$ cho $1\text{ m}^3$ bê tông, mở rộng khả năng khai thác nguồn tài nguyên cát mịn sẵn có tại các địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thực nghiệm tập trung vào nguồn cát mịn sông Hồng, mạt đá vôi Kiện Khê - Hà Nam, xi măng PCB40 Nghi Sơn và PC40 Bút Sơn; chưa bao quát toàn bộ các nguồn cát mịn đặc thù khác như cát nhiễm mặn ven biển hoặc cát mịn có hàm lượng sét cao ở đồng bằng sông Cửu Long.
  • Công nghệ thi công thực nghiệm chỉ giới hạn ở phương pháp đầm rung thông thường, chưa nghiên cứu trên dây chuyền đầm lăn liên tục (Roller Compacted Concrete - RCC).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu áp dụng cho các nguồn cát mịn sa mạc, cát mịn đồng bằng sông Cửu Long và cát nghiền nhân tạo từ các loại đá khác (đá bazan, đá granit).
  • Nghiên cứu ứng dụng bê tông cát mịn phối hợp mạt đá cho công nghệ đầm lăn trong xây dựng hạ tầng giao thông quy mô lớn.
  • Khảo sát dài hạn về độ bền xâm thực trong môi trường biển, chu kỳ đóng băng - tan băng và hiện tượng mỏi uốn dưới tải trọng động lặp của phương tiện giao thông.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật Vật liệu xây dựng, Kỹ thuật Công trình giao thông, Công nghệ Bê tông: Tham khảo phương pháp xây dựng tương quan $A_n, A_{ku}$, mô hình phá hoại kéo uốn và phương pháp đo co mềm với mô đun hở $M_h = 30\text{ m}^{-1}$.
  • Kỹ sư thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công: Áp dụng bảng cấp phối định mức cát mịn - mạt đá vôi, hệ số dư vữa $K_d$, định mức phụ gia polycarboxylate để thiết kế thành phần bê tông mặt đường đạt $R_{ku} \ge 5{,}0\text{ MPa}$.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu chuyên ngành: Cung cấp cơ sở khoa học và thực nghiệm để điều chỉnh, bổ sung các tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế, thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông xi măng sử dụng cốt liệu địa phương tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao bê tông sử dụng riêng cát mịn (không kết hợp mạt đá) không thể sử dụng cho mặt đường bê tông xi măng cấp I?

Bê tông sử dụng riêng cát mịn khi dùng phụ gia siêu dẻo polycarboxylate có thể đạt được cường độ nén $R_n > 40\text{ MPa}$ và cường độ uốn $R_{ku} > 5{,}0\text{ MPa}$, nhưng độ mài mòn chỉ đạt mức $0{,}3 \div 0{,}6\text{ g/cm}^2$, không thể giảm xuống dưới mức $< 0{,}3\text{ g/cm}^2$ theo yêu cầu của đường cấp I. Ngoài ra, hỗn hợp bê tông chỉ dùng cát mịn có độ co mềm và tốc độ mất nước ban đầu cao, dễ phát sinh nứt bề mặt nếu điều kiện bảo dưỡng không tuyệt đối nghiêm ngặt.

2. Vai trò kỹ thuật cốt lõi của mạt đá vôi khi phối hợp với cát mịn là gì?

Mạt đá vôi ($M_{dl} = 3{,}6$, cỡ hạt $< 5\text{ mm}$) bổ sung thành phần hạt có kích thước lớn bị thiếu hụt trong cốt liệu nhỏ của cát mịn, chuyển cấp phối hạt từ dạng gián đoạn sang dạng liên tục hơn. Sự kết hợp này làm giảm độ hổng, giảm lượng nước nhào trộn yêu cầu, tăng diện tích tiếp xúc dính kết với đá xi măng và tạo khung chịu lực chống lại sự bóc tách hạt khi bị mài mòn, giúp độ mài mòn giảm xuống dưới $0{,}3\text{ g/cm}^2$.

3. Hệ số chất lượng vật liệu $A_n$ và $A_{ku}$ trong luận án có ý nghĩa gì trong tính toán thành phần bê tông?

$A_n$ và $A_{ku}$ là các hệ số thực nghiệm biểu thị mức độ đóng góp của chất lượng cốt liệu và xi măng vào cường độ chịu nén ($R_n$) và cường độ chịu kéo khi uốn ($R_{ku}$) của bê tông theo quan hệ với tỷ lệ $X/N$. Việc xác lập chính xác các giá trị $A_n$ (từ $0{,}42 \div 0{,}52$) và $A_{ku}$ (từ $0{,}54 \div 0{,}66$) cho từng loại cát và hỗn hợp cát - mạt đá cho phép kỹ sư thiết kế cấp phối định lượng chính xác lượng xi măng và nước cần thiết để đạt $R_{ku}$ mục tiêu.

4. Phương pháp thí nghiệm phi tiêu chuẩn nào được tác giả áp dụng để nghiên cứu nguy cơ nứt sớm của mặt đường?

Tác giả sử dụng phương pháp thí nghiệm đo quá trình mất nước và co mềm của hỗn hợp bê tông trong hộp thí nghiệm có mô đun hở $M_h = 30\text{ m}^{-1}$ (tỷ số giữa diện tích bốc hơi hở và thể tích khối bê tông). Thí nghiệm này cho phép theo dõi liên tục lượng nước thoát ra và biến dạng co rút thể tích trong những giờ đầu sau khi tạo hình dưới tác động của nhiệt độ và gió môi trường.

5. Hiệu quả kinh tế của giải pháp bê tông cát mịn phối hợp mạt đá vôi được chứng minh qua thực tế như thế nào?

Qua áp dụng thực tế tại các công trình đường và sân bãi của Nhà máy 1 và Nhà máy 2 thuộc Công ty Cổ phần Vật liệu Xây dựng Sông Đáy, việc thay thế toàn bộ cát thô vận chuyển từ xa bằng nguồn cát mịn và mạt đá vôi sẵn có tại địa phương đã giúp giảm giá thành trực tiếp từ $10%$ đến $15%$ cho mỗi mét khối bê tông thành phẩm mà vẫn bảo đảm toàn bộ yêu cầu cơ lý và chất lượng khai thác.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Ngọ Văn Toản đã giải quyết trọn vẹn vấn đề nâng cao cường độ chịu kéo khi uốn và khả năng chống mài mòn của bê tông cát mịn dùng cho mặt đường bê tông xi măng. Bằng giải pháp phối hợp cát mịn ($M_{dl} = 1{,}2 \div 1{,}9$) với mạt đá vôi ($M_{dl} = 3{,}6$) và phụ gia siêu dẻo polycarboxylate thi công đầm rung, công trình đã chế tạo thành công bê tông đạt $R_{ku} > 5{,}0\text{ MPa}$, $R_n > 40\text{ MPa}$ và độ mài mòn $< 0{,}3\text{ g/cm}^2$, đáp ứng tiêu chuẩn mặt đường cấp I. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm giàu cơ sở khoa học về vật liệu bê tông cấp phối gián đoạn mà còn mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật thiết thực thông qua việc giảm $10% \div 15%$ giá thành và mở rộng tiềm năng sử dụng tài nguyên cát mịn tại Việt Nam.