Chương 1: Tổng quan Thành phần: kẹp ray hình “W”, đầu cách điện, tấm cách điện phía bên, tấm vai có khóa và tấm đệm. Ứng dụng: Được áp dụng cho tàu có vận tốc vận hành cao 250-350km/h với tính năng lắp đặt nhanh chóng và dễ dàng. Hệ thống kẹp ray loại I,II Các bộ phận của hệ thống kẹp ray loại I, II: đai ốc, long đền, kẹp đàn hồi loại I (loại A, loại B), vách ngăn định mức, tấm điện bằng nhựa đường ray, đinh vít và tấm đệm đường ray. Nhưng hệ thống kẹp ray loại I khác với hệ thống kẹp ray loại II về thành phần vật liệu.
Trong khi, vật liệu làm hệ thống kẹp ray loại 1 là 60SiMn, 50Si2Mn thì hệ thống kẹp ray loại II được làm từ vật liệu có thành phần là 60SiCrVA. Ứng dụng: Phù hợp với đường sắt tiêu chuẩn, đường ray thép 50kg/m, 60kg/m, đường ray có bán kính đường cong lớn hơn 300m. Chỉ áp dụng đối với đường sắt vận hành với vận tốc nhỏ hơn 120km/h. Hệ thống kẹp chặt loại III Thành phần: Kẹp loại III, khóa cố định kích thước cách điện, đệm cao su và tà vẹt loạt III.
Ứng dụng Phù hợp với đường sắt khổ tiêu chuẩn, dạng đường thẳng hoặc đường cong bán kính không nhỏ hơn 350m. Khả năng vận hành đối với tàu có tốc độ từ 120 km/h đến 200km/h. Hệ thống kẹp ray kiểu IV Thành phần: Kẹp loại IV, vai, khóa cố định ray cách điện và tấm đệm cao su. Ứng dụng: Phù hợp để lắp đặt các đường ray 60kg/m trên đường sắt tốc độ cao.
7 Chương 1: Tổng quan Đường sắt với tốc độ lên đến 350km/h (trọng lượng trục tối đa 170kN). Đường sắt tốc độ cao 250km/h (trọng lượng trục tối đa 170kN) có thể tính đến một số lượng nhỏ phương tiện chở khách thông thường (trọng lượng trục tối đa của đầu máy là 230kN) và một số lượng nhỏ tàu chở hàng (trọng lượng trục tối đa là 230kN). Hệ thống kẹp ray kiểu WJ-7 Hệ thống dây kẹp loại WJ-7 là một loại hệ thống kẹp đường ray không dằn được phát triển để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của đường ray chở khách, nó là một hệ thống kẹp đặc biệt để lắp đặt tất cả các loại đường ray không vai, được tối ưu hóa dựa trên loại WJ-1 và hệ thống xiết ray không dằn loại WJ-2. Thành phần: Bu lông ray chữ T, đai ốc, long đền, kẹp w, ống bọc cách điện, miếng đệm sắt, tấm đệm cách điện, miếng đệm dưới ray, bu lông neo, vòng đệm lò xo và định vị trên tà vẹt.
Ứng dụng: Sử dụng cho ray 60kg/m. Tàu khách tốc độ cao 350km/h, tải trọng trục không quá 170kN. Tàu vừa chở khách và hàng, tàu hàng với tốc độ 250km/h, tải trọng trục không quá 230kN. Hệ thống kẹp ray cao tốc WJ-8 Hệ thống kẹp ray WJ-8 là loại hệ thống kẹp ray không có dằn được phát triển để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của tàu du lịch của Đức.
8 Chương 1: Tổng quan Hình 1. 7 Thành phần của hệ thống kẹp ray cao tốc WJ-8[7] Thành phần: Đinh vít, long đền, khóa giữ cách thước cách điện, kẹp kẹp, đệm lót dưới ray, tấm chắn định hình, tấm lót bằng sắt, tấm đệm đàn hồi dưới, tấm sắt có thể điều chỉnh kích thước và chốt nhựa. Ứng dụng: Hệ thống kẹp ray WJ-8 thường được sử dụng cho các ray 60kg/m Tàu khách với vận tốc 350km/h, tải trọng trục không quá 170kN (có thể xem xét tải trọng trục tăng 10%) Tàu chở khách, tàu hàng với vận tốc 250km/h, tải trọng trục không quá 230kN.2 Phân loại theo liên kết a. Kiểu đơn giản: Liên kết ray với tấm đệm và tà vẹt bằng đinh như hệ như hệ thống đinh ngoạm.
Kiểu chung: Liên kết giữ ray với tấm đệm bằng kẹp cứng hay kẹp đàn hồi, sau đó liên kết riêng tấm đệm với tà vẹt như hệ thống kẹp đường ray kiểu E, hệ thống kẹp ray kiểu KPO, hệ thống kẹp ray nhanh (Rail Fast Clip). 9 Chương 1: Tổng quan c. Liên kết hỗn hợp: Một liên kết đinh vít liên kết tất cả bộ phận với nhau như hệ thống kẹp chặt ray chính như SKL, hệ thống kẹp đường ray Nabala. Ngoài ra còn có một số hệ thống kẹp được phát triển đặc biệt như hệ thống kẹp ray loại I, II, III, IV, V ray kiểu WJ-7, ray kiểu WJ-8.3 Đặt vấn đề Ngày nay, với sự thiếu hụt của nguồn nguyên liệu gỗ nên sản lượng của tà vẹt gỗ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng tà vẹt.
Theo xu hướng phát triển, tà vẹt bê tông đang dần thay thế cho tà vẹt gỗ. Tuy nhiên, tà vẹt bê tông với những tính chất nổi trội như độ cứng, độ bền cao nhưng lại không có khả năng đàn hồi. Do đó, hệ thống nếu không khử nhanh chóng rung động thì tà vẹt bê tông sẽ nhanh chóng nứt và phá hủy hệ thống. Vì vậy, kẹp đường ray sử dụng cho tà vẹt bê tông cần phải có khả năng khử rung động tốt.
Kẹp đàn hồi là một lựa chọn rất thích hợp. Trong đó, 2 loại khá được quan tâm là loại kẹp đàn hồi hình E và hình W. Tổng chiều dài đường sắt Việt Nam tính đến tháng 3 năm 2020 là 4161 km, với tuyến đường chính nối 21 tỉnh thành dài 2651 km và hàng loạt các dự án Metro đang được triển khai xây dựng nên nhu cầu lắp đặt và thay thế kẹp đường ray là rất lớn. Trên thị trường Việt Nam, kẹp ray đàn hồi phải nhập khẩu hoàn toàn từ nước ngoài.
Chưa có đơn vị nào tiến hành sản xuất trong nước. Vì vậy, việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nước là rất cần thiết. Hiện tại, khá nhiều hệ thống sử dụng kẹp đàn hồi kiểu W như hệ thống kẹp chặt SKL, hệ thống kẹp chặt I,II, WJ-7, WJ-8. Đối với đường ray loại P50 có thể sử dụng cóc W của hệ thống kẹp chặt II.
Vì vậy, đề tài “Thiết kế công nghệ tạo phôi kẹp đàn hồi w cho phụ kiện liên kết ray” sẽ đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và chế tạo hệ thống kẹp ray đàn hồi phục vụ cho thị trường Việt Nam.4 Mục tiêu luận văn Thiết kế công nghệ tạo phôi kẹp đàn hồi W cho phụ kiện liên kết ray. Sử dụng phần mềm DEFORM-3D để kiểm định và điều chỉnh thiết kế. 10 Chương 1: Tổng quan 1.5 Nội dung cơ bản của luận văn Tìm hiểu hệ thống kẹp chặt ray và các loại kẹp ray tương ứng. Lập bản vẽ 2D, xây dựng mô hình 3D cho kẹp đàn hồi W cho hệ ray 50 kg/m.
Thiết kế quy trình dập và khuôn dập cho chi tiết kẹp đàn hồi W Mô phỏng khuôn trên phần mềm Deform-3D. Đánh giá, điều chỉnh lại thiết kế. 11 Chương 2: Đại cương về rèn dập Chương 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ RÈN DẬP 2.1 Giới thiệu về công nghệ rèn dập Rèn là quá trình biến dạng, trong đó phôi được nén giữa hai khuôn, sử dụng lực tác động mạnh hoặc áp suất dần dần để tạo thành sản phẩm. Điều này được thực hiện bằng máy ép, búa va đập, khuôn dập hoặc các máy móc liên quan khác.
Rèn là một quy trình công nghiệp quan trọng được sử dụng để tạo ra nhiều loại linh kiện có độ bền cao cho ô tô, hàng không vũ trụ và các ứng dụng khác. 1 Sản phẩm rèn dập nóng [7] 2.1 Nhiệt độ rèn Gia công nóng là hình thức gia công áp lực thực hiện ở nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ kết tinh lại (Tktl ≈ 0. Trong thực tế, nhiệt độ kết thúc gia công bao giờ cũng lớn hơn nhiệt độ kết tinh lại. 12 Chương 2: Đại cương về rèn dập Gia công nóng có các ưu và nhược điểm sau: Ưu điểm: Tính dẻo luôn luôn được phục hồi trong quá trình biến dạng nên có thể biến dạng kim loại với một lượng lớn trong một lần nung.
Kim loại ở trạng thái dẻo cao nên dễ gia công. Nhờ vậy, gia công nóng có thể gia công được các kim loại có độ cứng và đàn hồi cao. Các tính chất cơ, lý, hóa được hồi phục do hiện tượng kết tinh lại. Nhược điểm: Tốn năng lượng để nung nóng kim loại.
Khó gia công những chi tiết nhỏ, mỏng (có đường kính, chiều dày nhỏ hơn 2mm) vì dễ bị hỏng do oxi hóa. Độ chính xác không cao. Một số kim loại giòn nóng khó gia công ở nhiệt độ cao. Bị ảnh hưởng do oxi hóa bề mặt.
Gia công nguội: Gia công nguội là hình thức gia công áp lực ở nhiệt độ mà tại đó không xảy ra hiện tượng kết tinh lại. Sau khi biến dạng nguội tổ chức kim loại thường có dạng thớ nên tính chất của kim loại có tính định hướng. Phương pháp gia công nguội thường áp dụng để gia công chi tiết có dạng tấm mỏng, kéo dây, uốn. Gia công nguội có những ưu, nhược điểm sau: Ưu điểm: Gia công nguội có độ chính xác, độ bóng và chất lượng bề mặt cao hơn gia công nóng.
Gia công nguội kim loại không bị oxi hóa, thoát C bề mặt. Tổ chức bị vỡ vụn nên cơ tính tốt. Nhược điểm: Không gia công được các kim loại có độ cứng và đàn hồi cao. 13 Chương 2: Đại cương về rèn dập Kim loại dễ bị biến cứng, tính dẻo giảm, trở lực biến dạng tăng (có thể gây nứt gãy).
Yêu cầu khuôn có độ cứng cao.2 Mức độ biến dạng phôi dập Dựa vào mức độ biến dạng của phôi dập ta có thể chia thành 2 loại: Dập tấm Dập tấm bao gồm nhiều nguyên công công nghệ khác nhau nhằm làm biến dạng kim loại dạng tấm (đường kính hoặc chiều dày nhỏ hơn 4mm) để nhận được các chi tiết có hình dạng, kích thước cần thiết với sự thay đổi không đáng kể chiều dày của vật liệu và không có phế phẩm ở dạng phôi. Một số khuôn dập tấm điển hình như: khuôn cắt, khuôn uốn, khuôn dập vuốt, miết kim loại. Dập khối Dập khối là phương pháp gia công kim loại bằng áp lực, khai thác tính dẻo của kim loại để biến dạng và điền đầy vào lòng khuôn nhằm tạo hình sản phẩm có hình dạng và kích thước yêu cầu với sự thay đổi các kích thước rất đáng kể. Dựa vào loại khuôn rèn dập khối người ta có thể phân thành 3 loại: rèn tự do, rèn khuôn dập có bavia và rèn không bavia.
14 Chương 2: Đại cương về rèn dập Hình 2.