Đồ án: Nghiên cứu sự hình thành pha giả tinh thể hợp kim Al-Cu-Fe

Nghiên cứu sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe bằng nghiền cơ học & xử lý nhiệt. Đồ án tốt nghiệp chuyên sâu, phân tích cấu trúc vật liệu.

Chuyên ngành

Kỹ thuật vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2022

132
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt nội dung đồ án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ

1.1. Giới thiệu về vật liệu giả tinh thể

1.2. Sơ lược về lịch sử phát triển của giả tinh thể

1.3. Tính chất của vật liệu giả tinh thể

1.3.1. Tính chất nhiệt

1.3.2. Tính chất cơ và bề mặt

1.3.3. Một số tính chất khác

1.4. Một số ứng dụng tiềm năng của giả tinh thể

1.4.1. Vật liệu tổ hợp (composite)

1.4.2. Ứng dụng trong lớp phủ

1.4.3. Ứng dụng trong xúc tác

1.4.4. Ứng dụng trong vật liệu tích trữ Hidro và một số ứng dụng khác

1.5. Tổ chức tế vi và tính chất của hợp kim giả tinh thể Al – Cu – Fe

1.6. Hệ Al-Cu-Fe và sự hình thành pha giả tinh thể trong quá trình tổng hợp

1.7. Hệ Al-Cu-Fe ở trạng thái cân bằng

1.8. Quá trình tạo ra pha giả tinh thể giả ổn định hệ Al – Cu – Fe

1.9. Tính chất của hợp kim giả tinh thể Al – Cu – Fe

1.9.1. Tính chất vật lý của giả tinh thể Al – Cu – Fe

1.9.2. Tính chất bề mặt của giả tinh thể Al-Cu-Fe

1.9.3. Tính chất cơ học của giả tinh thể Al-Cu-Fe

1.10. Quy tắc Hume- Rothery về nồng độ điện tử

1.11. Những nghiên cứu trước đây

1.12. Mục đích nghiên cứu của đề tài

2. TỔNG QUAN VỀ HỢP KIM HÓA CƠ HỌC

2.1. Giới thiệu về hợp kim hóa cơ học

2.2. Ưu điểm của phương pháp hợp kim hóa cơ học

2.3. Lịch sử phát triển và hình thành

2.4. Cơ chế trong hợp kim hóa cơ học

2.5. Tác động giữa tính chất của hạt bột đến hợp kim hóa cơ học

2.6. Các giai đoạn trong hợp kim hóa cơ học

2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hợp kim hóa cơ học

2.7.1. Máy nghiền bi hành tinh

2.7.2. Máy nghiền bi theo phương ngang truyền thống

2.7.3. Máy nghiền bi rung

2.7.4. Vật liệu làm tang và bi nghiền

2.7.5. Năng lượng/tốc độ nghiền

2.7.6. Tỷ lệ trọng lượng bi trên bột

2.7.7. Thời gian nghiền

2.7.8. Chất kiểm soát quá trình nghiền (PCA)

2.7.9. Môi trường nghiền

2.7.10. Thao tác lấy bột sau khi nghiền xong

2.8. Ứng dụng của phương pháp hợp kim hóa cơ học

3. QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM

3.1. Nguyên liệu ban đầu

3.2. Phân tích đặc trưng của mẫu

3.2.1. Nhiễu xạ tia X

3.2.2. Kính hiển vi điện tử quét

3.2.3. Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDS)

3.2.4. Đặc trưng nhiệt lý của mẫu- phân tích nhiệt vi sai

3.3. Phần mềm xác định và tính toán

3.3.1. Phần mềm MDI Jade 6

3.3.2. Phần mềm Origin

3.3.3. Phần mềm Profex

3.4. Chuẩn hóa cấu trúc và tính toán thông số mạng và kích thước tinh thể

3.5. Các công thức tính toán hằng số mạng và kích thước tinh thể

3.5.1. Tính toán kích thước tinh thể

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Phân tích đặc trưng - nhiễu xạ tia X

4.2. Tính toán các thông số mạng, kích thước tinh thể và chuẩn hóa cấu trúc từ nhiễu xạ tia X

4.3. Phân tích hình thái bề mặt, thành phần hóa học

4.3.1. Kết quả ảnh hiển vi điện tử quét

4.3.2. Phổ tán xạ năng lượng tia X

4.4. Kết quả phân tích nhiệt vi sai (DTA)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Vật Liệu Giả Tinh Thể AlCuFe 55 ký tự

Vật liệu rắn được cấu tạo từ các nguyên tố kim loại với sự sắp xếp đều đặn giữa các nguyên tử. Khác với chất rắn vô định hình thiếu trật tự xa, vật liệu tinh thể có sự lặp lại tuần hoàn trong cấu trúc. Điều này quy định các quy tắc đối xứng, ví dụ như chỉ cho phép đối xứng trục bậc hai, ba, bốn hoặc sáu. Vật liệu giả tinh thể (quasicrystal) là một loại vật liệu mới có trật tự xa, đường nhiễu xạ của chúng cho thấy hình phản xạ Bragg với hình đối xứng không tương thích để tuần hoàn. Trong vật liệu giả tinh thể, chu kì lặp lại trong sự sắp xếp nguyên tử tồn tại cùng với các đối xứng quay bị cấm đối với tinh thể theo định nghĩa: các đối xứng trục bậc 5,8,10 và thậm chí là 12 đã được thấy trong các giả tinh thể. Với những đối xứng trục này, các giả tinh thể được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc tương ứng khối đều 20 mặt, các khối 8 cạnh, 10 cạnh, 12 cạnh đều, thay vì các ô cơ sở cấu thành nên tinh thể. Các nguyên tử bên trong các ô đơn vị đối xứng cao hơn được xếp chồng lên nhau một cách có tổ chức. Liên kết giữa các đơn vị định hướng tự do hơn (nhưng không phải ngẫu nhiên) phối hợp với nhau để tạo thành cấu trúc giả tinh thể, dẫn đến đối xứng tịnh tiến khác với đối xứng của vật liệu tinh thể. Trong khi các tinh thể có các mặt phẳng nguyên tử được sắp xếp theo chu kì, giả tinh thể có các mặt phẳng của chúng được sắp xếp không theo chu kì. Trong giả tinh thể trật tự có hình chiếu cấu trúc tuân theo quy luật trong dãy Fibonacci. Dãy số Fibbonanci bao gồm các số hạng sau: 0,1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89,144, … với quy luật: mỗi số hạng bằng tổng hai số hạng đứng trước. Nếu chia một số hạng lớn trong dãy số đứng trước ta có ví dụ 144/89 ≈ 1,618… thương số này gần bằng với tỷ số τ = (1 + √5)/2 được gọi là tỷ số vàng. Do đó, trật tự xa tồn tại trong các giả tinh thể. Trong số các vật liệu giả tinh thể, các giả tinh thể khối đều 20 mặt thể hiện tính giả tuần hoàn theo cả ba chiều.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Vật Liệu Cấu Trúc Giả Tinh Thể

Lịch sử của vật liệu giả tinh thể bắt đầu từ Triết học của Samkhuya của người Hindu xác định năm yếu tố cơ bản là “Pancha Mahabuthas”; Prithvi hay Bhumi (Đất), Aasaap hay Jala (Nước), Agni hay Tejas (Lửa), Vayu hay Pavan (Không khí hoặc Gió), Akasha (Chân không). Theo triết học của Plato (428 ÷ 438 TCN) đã xác định các yếu tố của tự nhiên (lửa, không khí, đất, nước và vũ trụ) với chất rắn thông thường cùng năm chất rắn Plato. Vào năm 1984, với bài viết: “Metallic Phase with Long-Range Orientational Order and No Translational Symmetry” – Pha kim loại trật tự xa và không có tính đối xứng tịnh tiến” được xuất bản bởi D. Shechtman, với phát hiện đã từ trước đó 2 năm, nhưng công trình của họ đã vấp phải những phản đối của hội đồng khoa học. Shechtman đã chỉ ra rằng các mẫu nhiễu xạ điện tử của hợp kim Al – Mn với hàm lượng Mn từ 10 – 14% được làm nguội nhanh từ thể lỏng đã sở hữu sự đối xứng của khối đều 20 mặt kết hợp với trật tự xa. Hiện nay, đối xứng thích hợp với sự tịnh tiến được gọi là “có tính tinh thể” hay cấu trúc “tinh thể”, dành chỗ cho đối xứng “phi tinh thể”. Do đó, cấu trúc không có chu kì hay giả chu kì có thể phân loại thành 2 nhóm chính: nhóm có đối xứng với các nhóm điểm tinh thể học, mà trong đó có cấu trúc được điều chế và cấu trúc composite không còn phù hợp, và loại có nhóm điểm đối xứng phi tinh thể, mà trong đó có cấu trúc giả tinh thể.

1.2. Tính Chất Ưu Việt Của Pha Vật Liệu Giả Tinh Thể

Hầu hết các kim loại đều dẫn nhiệt và tính dẫn nhiệt tốt, và độ dẫn nhiệt tỷ lệ thuận bới tích của độ dẫn điện và nhiệt độ (được gọi là định luật Widemann- Framz). Tuy nhiên đặc tính này lại không đúng với giả tinh thể - là chất dẫn nhiệt kém, về cơ bản là vì mật độ của các điện tử tự do thấp. Phonon là sóng tuần hoàn, không thể lan truyền dễ dàng trong mạng tinh thể một khi chiều dài bước sóng của chúng gần tương đương với kích thước của cấu thành cụm nguyên tử. Để trả lời cho câu hỏi: “Tại sao một hệ giả tuần hoàn thể hiện sự bất thường về tính chất vận chuyển về điện?”, chúng ta cần xét đến mô hình thực tế phải bao gồm hai yếu tố. Thứ nhất, là sự giảm số lượng vận chuyển điện tích có thể đóng góp hiệu quả cho tính dẫn điện. Thứ hai là sự thiếu tính đối xứng tịnh tiến trong các hệ này (trong 2 chiều và 3 chiều), loại trừ sự hiểu biết thông thường về các trạng thái điện tử trải rộng trong mạng tinh thể tuần hoàn dựa trên các hàm Bloch. Giả tinh thể rất giòn, độ dai chúng nhỏ hơn 0,5 MPa. Đó là do các giả tinh thể có ít khả năng chống lại sự lan truyền nứt ở dưới 450 oC.

1.3. Ứng Dụng Tiềm Năng Của Vật Liệu Giả Tinh Thể

Các ứng dụng tiềm năng của giả tinh thể, cả trên thực tế lẫn dự đoán, có thể chia ra thành hai loại: vật liệu compozit và lớp phủ. Trong đó có độ giòn đặc trưng cho vật liệu khối được giảm nhẹ. Gần đây vật liệu giả tinh thể còn được sử dụng trong lĩnh vực xúc tác. Trong số các vật liệu composite, một loại thép hóa bền tiết pha được đưa ra bởi Thép Sandvik ở Thụy Điển. Các pha tiết ra là ở dạng tinh thể. Thép có độ bền cao, khá dẻo, chống ăn mòn và chống hóa già. Các giả tinh thể Al – Cu – Fe là chất xúc tác rất tốt cho phương trình chuyển hóa hơi nước của methanol: CH3OH + H2O → CO2 + 3H2 . Phản ứng này là một phương pháp hiệu quả để sản xuất hidro trong điều kiện phản ứng nhẹ, ví dụ như pin nhiên liệu. Các nguyên tử hidro được hấp thụ vào các vị trí xen kẽ hoặc trên bề mặt vật liệu.

II. Hợp Kim AlCuFe Hợp Kim Hóa Cơ Học Phân Tích 59 ký tự

Hợp kim AlCuFe, đặc biệt là với cấu trúc giả tinh thể, đang thu hút sự chú ý lớn nhờ những đặc tính độc đáo của chúng. Để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim này, phương pháp hợp kim hóa cơ học (mechanical alloying) đóng vai trò then chốt. Hợp kim hóa cơ học là một quá trình nghiền bột kim loại và phi kim loại bằng lực cơ học, tạo ra vật liệu mới với cấu trúc và thành phần mong muốn. Quá trình này thường được thực hiện trong máy nghiền bi năng lượng cao, nơi các hạt bột va chạm với nhau và với bi nghiền, dẫn đến sự biến dạng, hàn nguội và cuối cùng là hợp kim hóa. Ưu điểm chính của phương pháp này là khả năng tạo ra hợp kim với thành phần đồng nhất, kích thước hạt mịn và cấu trúc nanomet. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe, vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại các nguyên tử và hình thành cấu trúc đặc biệt này. Hơn nữa, hợp kim hóa cơ học có thể được sử dụng để tạo ra hợp kim với các nguyên tố không hòa tan lẫn nhau trong điều kiện cân bằng, mở ra khả năng tạo ra vật liệu với tính chất mới lạ.

2.1. Ưu Điểm Vượt Trội Của Phương Pháp Hợp Kim Hóa Cơ Học

Ưu điểm chính của phương pháp hợp kim hóa cơ học là khả năng tạo ra hợp kim với thành phần đồng nhất, kích thước hạt mịn và cấu trúc nanomet. Các tính chất này đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe, vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại các nguyên tử và hình thành cấu trúc đặc biệt này. Hơn nữa, hợp kim hóa cơ học có thể được sử dụng để tạo ra hợp kim với các nguyên tố không hòa tan lẫn nhau trong điều kiện cân bằng, mở ra khả năng tạo ra vật liệu với tính chất mới lạ.

2.2. Các Giai Đoạn Chính Trong Quy Trình Hợp Kim Hóa Cơ Học

Đặc điểm biến dạng của các thành phần đại diện của bột ban đầu trong hợp kim hóa cơ học. Trong trường hợp liên kim và phân tán giòn, các hạt vỡ thành kích thước nhỏ hơn. Cấu trúc dải được hình thành trong quá trình hợp kim hóa cơ học. Cấu trúc lớp do biến dạng dẻo mãnh liệt. Sơ đồ thay đổi cấu trúc vi mô trong quá trình nghiền hỗn hợp bột dẻo-giòn. Đây là trường hợp điển hình của ôxít là pha gia cường phân tán. Giai đoạn đầu của quá trình hợp kim hóa cơ học . Giai đoạn trung gian của quá trình hợp kim hóa cơ học. Giai đoạn cuối của quá trình hợp kim hóa cơ học.

2.3. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Nghiền Cơ Học

Máy nghiền bi hành tinh. Máy nghiền bi theo phương ngang truyền thống. Máy nghiền bi rung. Vật liệu làm tang và bi nghiền. Năng lượng/tốc độ nghiền. Tỷ lệ trọng lượng bi trên bột. Thời gian nghiền. Chất kiểm soát quá trình nghiền (PCA). Môi trường nghiền. Thao tác lấy bột sau khi nghiền xong.

III. Nghiên Cứu Quy Trình Thực Nghiệm Hình Thành Pha AlCuFe 58 ký tự

Để nghiên cứu sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe, quy trình thực nghiệm đóng vai trò quan trọng. Quy trình này bao gồm các bước chuẩn bị nguyên liệu, nghiền cơ học, xử lý nhiệt và phân tích đặc tính của mẫu. Nguyên liệu ban đầu thường là bột kim loại Al, Cu và Fe với độ tinh khiết cao. Các bột này được trộn theo tỷ lệ thành phần mong muốn, thường là Al65Cu20Fe15, và sau đó được nghiền trong máy nghiền bi hành tinh. Tốc độ nghiền, thời gian nghiền và tỷ lệ bi trên bột là các thông số quan trọng cần được kiểm soát để đạt được kích thước hạt mịn và cấu trúc đồng nhất. Sau quá trình nghiền, mẫu được xử lý nhiệt ở nhiệt độ và thời gian nhất định để thúc đẩy sự hình thành pha giả tinh thể. Nhiệt độ ủ thường nằm trong khoảng 600-800°C, và thời gian ủ có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày. Cuối cùng, mẫu được phân tích bằng các kỹ thuật khác nhau như nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử quét (SEM) và phân tích nhiệt vi sai (DSC) để xác định cấu trúc, thành phần và tính chất của pha giả tinh thể.

3.1. Các Phương Pháp Phân Tích Đặc Trưng Của Mẫu Sau Nghiền

Nhiễu xạ tia X. Kính hiển vi điện tử quét. Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDS). Đặc trưng nhiệt lý của mẫu- phân tích nhiệt vi sai.

3.2. Chuẩn Hóa Cấu Trúc Và Tính Toán Các Thông Số Mạng

Phần mềm MDI Jade 6. Phần mềm Origin. Phần mềm Profex. Chuẩn hóa cấu trúc và tính toán thông số mạng và kích thước tinh thể. Các công thức tính toán hằng số mạng và kích thước tinh thể. Tính toán kích thước tinh thể.

3.3. Nguyên Liệu Ban Đầu Sử Dụng Trong Quá Trình Thí Nghiệm

Trong nghiên cứu này, sẽ nghiên cứu về phương pháp chế tạo giả tinh thể Al- Cu- Fe với thành phần Al65Cu20Fe15. Trong đề tài này, hợp kim giả tinh thể Al-Cu-Fe được chế tạo bằng phương pháp hợp kim hóa cơ học sử dụng máy nghiền bi hành tinh năng lượng cao ở các thời gian khác nhau với tốc độ nghiền 500 vòng/phút sau đó đem ủ ở các nhiệt độ và thời gian khác nhau.

IV. Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu Quá Trình Hình Thành AlCuFe 59 ký tự

Các kết quả nghiên cứu về sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe bằng phương pháp nghiền cơ học và xử lý nhiệt thường bao gồm phân tích cấu trúc, thành phần và tính chất của mẫu sau các bước xử lý khác nhau. Phân tích XRD cho phép xác định các pha có mặt trong mẫu và kích thước tinh thể của chúng. SEM cung cấp hình ảnh về hình thái bề mặt và sự phân bố của các pha khác nhau. DSC cho phép xác định các quá trình chuyển pha xảy ra trong quá trình gia nhiệt hoặc làm nguội mẫu. Dựa trên các kết quả này, có thể đánh giá ảnh hưởng của tốc độ nghiền, thời gian nghiền, nhiệt độ ủ và thời gian ủ đến sự hình thành pha giả tinh thể. Thông thường, các kết quả cho thấy rằng pha giả tinh thể chỉ hình thành sau quá trình xử lý nhiệt, và kích thước tinh thể của pha giả tinh thể tăng lên khi nhiệt độ ủ và thời gian ủ tăng lên. Ngoài ra, các kết quả cũng có thể cho thấy rằng thành phần của pha giả tinh thể khác với thành phần ban đầu của hợp kim, do sự khuếch tán và sắp xếp lại của các nguyên tử trong quá trình nghiền và xử lý nhiệt.

4.1. Ảnh Hưởng Của Nhiệt Độ Ủ Đến Quá Trình Tạo Pha

Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của thời gian nghiền đến kích thước tinh thể của Al, Cu và Fe. Ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) của bột sau khi nghiền ở tốc độ 500 rpm, ở các thời gian nghiền khác nhau: (a) 15 phút, (b) 30 phút và (c) 1 giờ với độ phóng đại x1000. Phổ tán xạ năng lượng tia X của mẫu bột được nghiền 30 phút với tốc độ nghiền 500rpm.

4.2. Kết Quả Phân Tích Đặc Trưng Nhiễu Xạ Tia X

Mẫu nhiễu xạ tia X cho các mẫu được nghiền trong thời gian 15 phút, 30 phút, 1h và 2h với tốc độ nghiền 500 rpm. Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu sau nghiền 30 phút được ủ tại các nhiệt độ và thời gian (a) 500 trong 15 phút, (b-d) 600,700, 800 ℃ trong 4h. Giản đồ nhiễu xạ X-ray khi gộp 4 giản đồ của mẫu sau khi ủ ở 4 nhiệt độ.

4.3. Kết Quả Phân Tích Hình Thái Bề Mặt Thành Phần Hóa Học

Kết quả ảnh hiển vi điện tử quét. Phổ tán xạ năng lượng tia X.

V. Vai Trò Của Xử Lý Nhiệt Trong Hình Thành Cấu Trúc 60 ký tự

Xử lý nhiệt đóng một vai trò then chốt trong quá trình hình thành pha giả tinh thể AlCuFe. Nghiền cơ học ban đầu tạo ra hỗn hợp bột với kích thước hạt nhỏ và sự phân bố đồng nhất của các nguyên tố. Tuy nhiên, cấu trúc thực sự của pha giả tinh thể thường không hình thành hoàn chỉnh trong quá trình nghiền. Xử lý nhiệt sau đó cung cấp năng lượng cần thiết để các nguyên tử khuếch tán và sắp xếp lại thành cấu trúc đặc trưng của pha giả tinh thể. Nhiệt độ ủ, thời gian ủ và tốc độ gia nhiệt/làm nguội đều ảnh hưởng đến quá trình hình thành pha. Nhiệt độ ủ quá thấp có thể không cung cấp đủ năng lượng để khuếch tán nguyên tử, trong khi nhiệt độ quá cao có thể dẫn đến sự hình thành các pha không mong muốn. Thời gian ủ quá ngắn có thể không đủ để hoàn thành quá trình sắp xếp lại nguyên tử, trong khi thời gian quá dài có thể dẫn đến sự thô hóa của cấu trúc. Vì vậy, việc tối ưu hóa các thông số xử lý nhiệt là rất quan trọng để đạt được cấu trúc giả tinh thể với tính chất mong muốn.

5.1. Tối Ưu Hóa Quá Trình Xử Lý Nhiệt Ảnh Hưởng Độ Ổn Định

Ảnh hưởng của tốc độ nghiền và thời gian nghiền đến sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe. Tối ưu hóa các thông số nghiền cơ học và xử lý nhiệt để tạo pha giả tinh thể có độ ổn định nhiệt cao trong hợp kim AlCuFe.

5.2. Đánh Giá Hiệu Quả Của Phương Pháp Xử Lý Nhiệt

Đánh giá hiệu quả của phương pháp nghiền cơ học trong việc tạo pha giả tinh thể AlCuFe. So sánh các phương pháp tạo pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe: nghiền cơ học và các phương pháp khác.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Nghiên Cứu AlCuFe 53 ký tự

Nghiên cứu về sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe bằng phương pháp nghiền cơ học và xử lý nhiệt là một lĩnh vực đầy tiềm năng, với nhiều ứng dụng hứa hẹn trong tương lai. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng việc kiểm soát các thông số nghiền cơ học và xử lý nhiệt có thể tạo ra hợp kim AlCuFe với cấu trúc giả tinh thể và tính chất mong muốn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để ứng dụng rộng rãi các hợp kim này. Một trong những thách thức đó là cải thiện độ ổn định nhiệt của pha giả tinh thể, vì nó thường bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Một hướng nghiên cứu khác là tìm kiếm các phương pháp mới để tạo ra hợp kim AlCuFe với cấu trúc giả tinh thể, chẳng hạn như sử dụng các kỹ thuật in 3D hoặc các phương pháp hợp kim hóa khác. Ngoài ra, việc nghiên cứu sâu hơn về cơ chế hình thành pha giả tinh thể cũng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình này và từ đó có thể kiểm soát nó một cách hiệu quả hơn.

6.1. Ứng Dụng Tiềm Năng Của Hợp Kim AlCuFe Trong Thực Tế

Ứng dụng của hợp kim AlCuFe với pha giả tinh thể trong các ngành công nghiệp. Phân tích cấu trúc và tính chất của hợp kim AlCuFe chứa pha giả tinh thể sau khi nghiền cơ học và xử lý nhiệt.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Phát Triển Vật Liệu AlCuFe

Nghiên cứu sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe với tỷ lệ thành phần khác nhau bằng phương pháp nghiền cơ học và xử lý nhiệt. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ nghiền và thời gian nghiền đến sự hình thành pha giả tinh thể trong hợp kim AlCuFe.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ 1. Giới thiệu về vật liệu giả tinh thể Trong vật liệu rắn được cấu tạo bao gồm các nguyên tố kim loại, sự sắp xếp đều đặn giữa các nguyên tử với nhau phân loại cấu trúc thành các loại khác nhau [1]. Trong chất rắn phi tinh thể hoặc vô định hình, không có sự sắp xếp theo hệ thống tuần hoàn của các nguyên tử trong khoảng cách nguyên tử lớn [2] .Tuy nhiên có một số dấu hiệu của sự đều đặn trong các dãy nguyên tử vẫn có thể xác định trong khoảng cách nguyên tử [1].

Ngược lại, trong vật liệu tinh thể, các nguyên tử nằm trong một dãy lặp lại, có tổ chức tốt và tuần hoàn trong toàn bộ cấu trúc [1]. Tính tuần hoàn này bao gồm một tập hợp các quy tắc cụ thể bao gồm, ví dụ: các đối xứng quay được phép, chỉ các phép đối xứng trục bậc hai, ba, bốn hoặc sáu có thể mô tả sự xếp chồng nguyên tử trong vật liệu tinh thể. Trong thực tế, các quy tắc đối xứng này có nghĩa là các tính chất của không gian nguyên tử không thay đổi sau khi quay 2π/n, trong đó n là 2, 3. Dựa trên định nghĩa này liên quan đến vật liệu tinh thể, đối xứng trục bậc 5 và bất kì đối xứng trục bậc n nào khác, trong đó n > 6, đều bị loại trừ.

[4, 5] Vật liệu giả tinh thể (quasicrytal) là các loại vật liệu có 1 loại trật tự xa mới, đường nhiễu xạ của chúng cho thấy hình phản xạ Bragg với hình đối xứng không tương thích để tuần hoàn. Tuy nhiên, hệ cấu trúc giả tinh thể rất trật tự, với độ dài (khoảng cách) tương quan tới hàng chục micromet [6]. Trong vật liệu giả tinh thể, chu kì lặp lại trong sự sắp xếp nguyên tử tồn tại cùng với các đối xứng quay bị cấm đối với tinh thể theo định nghĩa: các đối xứng trục bậc 5,8,10 và thậm chí là 12 đã được thấy trong các giả tinh thể [4]. Với những đối xứng trục này, các giả tinh thể được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc tương ứng khối đều 20 mặt, các khối 8 cạnh, 10 cạnh, 12 cạnh đều [3, 7], thay vì các ô cơ sở cấu thành nên tinh thể.

Các nguyên tử bên trong các ô đơn vị đối xứng cao hơn được xếp chồng lên nhau một cách có tổ chức, ví dụ như các vạch nhiễu xạ Bragg tương tự như các vật liệu tinh thể [1]. Tuy nhiên, liên kết giữa các đơn vị định hướng tự do hơn (nhưng không phải ngẫu nhiên) phối hợp với nhau để tạo thành cấu trúc giả tinh thể [7], dẫn đến đối xứng tịnh tiến khác với đối xứng của vật liệu tinh thể. Phép đối xứng tịnh tiến cho biết lượng chuyển vị giữa các nguyên tử riêng lẻ trong cùng một phương. Nguyễn Thị Hoàng Oanh 1 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Vật liệu tiên tiến và cấu trúc nano Trong khi các tinh thể có các mặt phẳng nguyên tử được sắp xếp theo chu kì, giả tinh thể có các mặt phẳng của chúng được sắp xếp không theo chu kì.

Trong giả tinh thể trật tự có hình chiếu cấu trúc tuân theo quy luật trong dãy Fibonacci và không có đối xứng tịnh tiến tương tự như trong dãy Fibonacci không có số hạng trùng nhau. Dãy số Fibbonanci bao gồm các số hạng sau: 0,1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89,144, … với quy luật: mỗi số hạng bằng tổng hai số hạng đứng trước, ví dụ: 5 = 2+3; …;144 = 55 + 89. Nếu chia một số hạng lớn trong dãy số đứng trước ta có ví dụ 144/89 ≈ 1,618… thương 1 + √5 số này gần bằng với tỷ số τ = ; được gọi là tỷ số vàng (golden ratio)[9]. Do đó, 2 khoảng cách giữa các mặt phẳng trong các giả tinh thể là khác nhau, nhưng sự biến đổi này phần nào được kiểm soát và lặp lại, được mô tả ở Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ.

Do đó, trật tự xa tồn tại trong các giả tinh thể.[1] Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. Mẫu nhiễu xạ do máy tính tạo ra của một giả tinh thể khối đều 20 mặt được quan sát dọc theo một trong các phương đối xứng trục bậc 5 của nó. Đối xứng 5 cạnh là hoàn hảo xung quanh tâm của ảnh mẫu và trải rộng đến vô cùng bằng cách đưa thừa số đồng dạng vô tỷ 𝜏 =( 1 + √ 5 )/2, tỷ số vàng [5] Trong số các vật liệu giả tinh thể, các giả tinh thể khối đều 20 mặt thể hiện tính giả tuần hoàn theo cả ba chiều [1]. Các nhóm giả tinh thể khác – khối 8 cạnh đều, 10 cạnh đều và 12 cạnh đều – là giả tuần hoàn theo hai phương, trong mặt phẳng giả tuần hoàn, và tuần hoàn theo một phương, tức là dọc theo trục giả tuần hoàn [7].

Ví dụ về một số hợp kim thể hiện cấu trúc giả tinh thể đối xứng khối đều 20 mặt, khối 8,10, 12 cạnh đều (icosahedral, octagonal, decagonal, doecagonal) được trình bày trong Bảng TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. Nguyễn Thị Hoàng Oanh 2 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Vật liệu tiên tiến và cấu trúc nano Bảng TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. Ví dụ về một số hợp kim thể hiện cấu trúc giả tinh thể khối đều đối xứng 20 mặt, khối 8, khối 10 và 12 cạnh đều [1] Cấu trúc của giả tinh thể Một số hợp kim điển hình Al–Cu–Fe, Al–Mn, Al–Mn–Si, Al–Mn–Cu, Al–Mn–Zn, Al–Cu–Ru, Al–Cu–Os, Al–Cr, Al–V–Si, Al–Pd–Ru, Al– Khối đều 20 mặt Pd–Mn, Al–Pd–Re, Al–Pd–Mg, Al–Li–Cu, Al–Mg–Zn, Al–Rh–Si, Ti–Fe–Si, Ti–Zr–Ni, Mg–Li–Al, Mg–Zn–Y, Mg–Zn–Ho, Cd–Mg–Tb Khối 8 cạnh đều Ni–Cr–Si, Ni–V–Si, Mn–Si Al–Mn, Al–Fe, Al–Pd, Al–Pd–Fe, Al–Pd–Ru, Al–Pd–Os, Al–Os, Al–Co–Ni, Al–Cu–Co, Al–Cu–Fe–Co, Al–Cu– Khối 10 cạnh đều Co–Si, Al–Co–Fe–Cr–O, Al–Cr–Si, Al–Ni–Fe, Al–Ni– Rh, Al–Cu–Rh, Zn–Mg–Y, Zn–Mg–Sm, Zn–Mg–Ho Khối 12 cạnh đều Ni–Cr, Ni–V, Ni–V–Si, Ta–Te, Co–Cu, Al–Co–Fe–Cr 1. Sơ lược về lịch sử phát triển của giả tinh thể Lịch sử của vật liệu giả tinh thể bắt đầu từ Triết học của Samkhuya của người Hindu xác định năm yếu tố cơ bản là “Pancha Mahabuthas”; Prithvi hay Bhumi (Đất), Aasaap hay Jala (Nước), Agni hay Tejas (Lửa), Vayu hay Pavan (Không khí hoặc Gió), Akasha (Chân không).

[9] Theo triết học của Plato (428 ÷ 438 TCN) đã xác định các yếu tố của tự nhiên (lửa, không khí, đất, nước và vũ trụ) với chất rắn thông thường cùng năm chất rắn Plato (Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. Khối tứ diện có thể tích nhỏ nhất đối với diện tích bề mặt của nó được xác định là lửa trong khối đều 20 mặt có thể tích lớn nhất được xác định là nước [9]. Plato cũng cho rằng khối lập phương đứng vững trên nền của nó tương ứng với độ ổn định của đất; và khối đều 8 mặt có thể quay tư do khi được giữ bởi hai đỉnh đối diện để tương ứng với sự linh động của không khí. Khối đều 12 mặt được xác định là đại diện cho vũ trụ [9].

Về nguyên tắc, các chất rắn thông thường phải đại diện cho các vật thể ba chiều GVHD: PGS. Nguyễn Thị Hoàng Oanh 3 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Vật liệu tiên tiến và cấu trúc nano của tự nhiên và do đó các vật liệu tinh thể nên có những vật thể này xem như cấu tạo từ những khối cơ bản [9]. Tuy nhiên, vật liệu tinh thể cũng liên quan đến cấu trúc tuần hoàn tịnh tiến và những ô đơn vị được xít chặt lại [9]. Điều này tạo ra 7 hệ tinh thể, 32 nhóm điểm, và 230 nhóm không gian để mô tả đầy đủ các vật thể 3 chiều.

Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. Các khối đều (plantonic) liệu chúng sẽ cho ta một mạng tinh thể ba chiều có tính tuần hoàn? [9] Tính tuần hoàn tịnh tiến trong mạng tinh thể 2 chiều được tạo ra bởi các thành phần xít chặt được thể hiện trên Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ.3 tạo ra một lớp tự liên kết với một đối xứng quay [9]. Các quy tắc cơ bản của tinh thể học chỉ cho phép đối xứng quay 2,4 và 6 tạo ra các cấu trúc xít chặt, do đó tạo ra các điểm nhiễu xạ tương ứng với đối xứng trong các vật thể này khi sử dụng nhiễu xạ tia X [9]. Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ.3c cho ta thấy rằng, không thể đạt được sự xít chặt với đối xứng trục bậc 5 và 7 và do đó thực tế không thể hình thành các tinh thể với đối xứng quay này [9].

Trong trường hợp các vật thể 3 chiều có thể có cấu trúc tinh thể mở rộng vô hạn bằng cách sắp xếp các phần tử đối xứng trục và tịnh tiến và các nhiễu xạ của các tinh thể thông thường này thuộc trong 11 nhóm Laue [9]. Tuy nhiên, hai trong số các chất rắn có dạng khối đều, khối 20 mặt đều và khối 12 mặt có đối xứng trục bậc 5 và kết quả là các kết quả nhiễu xạ tia X của vật liệu tinh thể sẽ không thể hiện tính đối xứng như thế [9]. Nguyễn Thị Hoàng Oanh 4 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Vật liệu tiên tiến và cấu trúc nano a b c Hình TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU GIẢ TINH THỂ. (a) Các hình của M C Escher mô tả phép tịnh tiến và phép quay + phép đối xứng tịnh tiến.

(b) Năm mạng phẳng phù hợp với sự xếp chặt để tạo ra các mạng vô hạn. (c) Mạng mặt phẳng đối xứng trục bậc 5 và 7 không thể tạo ra sự xếp chặt; tuy nhiên hai trong số các chất rắn đều là khối 20 mặt đều và khối 12 mặt đều mặt đối xứng trục bậc 5 và đây là một bí ấn.[9] Vào năm 1984, với bài viết: “Metallic Phase with Long-Range Orientational Order and No Translational Symmetry” – Pha kim loại trật tự xa và không có tính đối xứng tịnh tiến” được xuất bản bởi D. Shechtman, với phát hiện đã từ trước đó 2 năm, nhưng công trình của họ đã vấp phải những phản đối của hội đồng khoa học [6]. Shechtman đã chỉ ra rằng các mẫu nhiễu xạ điện tử của hợp kim Al – Mn với hàm lượng Mn từ 10 – 14% được làm nguội nhanh từ thể lỏng đã sở hữu sự đối xứng của GVHD: PGS.

Nguyễn Thị Hoàng Oanh 5 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Vật liệu tiên tiến và cấu trúc nano khối đều 20 mặt kết hợp với trật tự xa. Các phản xạ sắc nét thể hiện một đối xứng trục bậc 10 rõ ràng trong không gian đảo trái với các chuẩn mực tinh thể học được chấp nhận (Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ