Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương vụ Hè Thu tại Thái Nguyên

Hướng dẫn tăng năng suất đậu tương vụ Hè Thu tại Thái Nguyên. Áp dụng kỹ thuật canh tác hiệu quả, quản lý cây trồng, phòng chống sâu bệnh để đạt năng suất cao

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu tăng năng suất đậu tương vụ hè thu tại Thái Nguyên

Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Cây cung cấp protein, dầu thực vật và nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi. Tại Thái Nguyên, vụ hè thu là vụ sản xuất đậu tương quan trọng nhưng năng suất còn thấp. Điều kiện khí hậu vùng trung du miền núi phía Bắc tạo ra nhiều thách thức cho canh tác đậu tương. Nhiệt độ cao, mưa lớn và độ ẩm không ổn định trong vụ hè thu ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng cây trồng. Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thu Huyền thuộc Đại học Thái Nguyên được thực hiện năm 2021 nhằm xác định các biện pháp kỹ thuật phù hợp. Nghiên cứu tập trung vào thời vụ gieo trồng, mật độ trồng và phân bón. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn cho sản xuất đậu tương tại địa phương. Dữ liệu được thu thập tại huyện Phú Lương và huyện Võ Nhai. Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí với sự tham gia của người dân địa phương. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thực nghiệm khoa học và mô hình sản xuất thực tế.

1.1. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương vụ hè thu

Đậu tương yêu cầu nhiệt độ từ 22–30°C trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Giai đoạn ra hoa cần nhiệt độ ổn định và ánh sáng ngày ngắn. Tại Thái Nguyên, vụ hè thu thường gieo từ tháng 6 đến tháng 7. Lượng mưa trung bình trong vụ dao động 180–250mm mỗi tháng. Đất đồi chua có hàm lượng Fe³⁺ và Al³⁺ cao là thách thức lớn với cây đậu tương. Độ pH đất thấp làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng của rễ. Hiểu rõ yêu cầu sinh thái là nền tảng để xây dựng biện pháp kỹ thuật phù hợp.

1.2. Thực trạng sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên

Diện tích đậu tương vụ hè thu tại Thái Nguyên có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Năng suất bình quân đạt 12–15 tạ/ha, thấp hơn mức trung bình cả nước. Nguyên nhân chính là thiếu giống chất lượng cao và kỹ thuật canh tác chưa tối ưu. Phân bón chưa được sử dụng cân đối giữa N, P và K. Mật độ gieo trồng nhiều nơi chưa phù hợp với điều kiện đất đai địa phương. Nông dân chưa được tiếp cận đầy đủ kết quả nghiên cứu khoa học. Đây là lý do cấp thiết để triển khai các thí nghiệm kỹ thuật chuyên sâu tại vùng.

II. Phân tích vấn đề kỹ thuật hạn chế năng suất đậu tương vụ hè thu

Năng suất đậu tương vụ hè thu tại Thái Nguyên thấp do nhiều yếu tố kỹ thuật cùng tác động. Thời vụ gieo không hợp lý dẫn đến cây ra hoa gặp mưa lớn hoặc nhiệt độ quá cao. Mật độ trồng quá dày làm giảm khả năng quang hợp và tăng nguy cơ sâu bệnh. Phân bón không cân đối làm cây sinh trưởng kém, tỷ lệ đậu quả thấp. Trên đất chua nghèo dinh dưỡng, nếu không bón lân, cây chỉ hấp thụ được 40–50kg N/ha. Khi bón đủ lân, lượng N hấp thụ tăng lên 120–130kg/ha. Chỉ số diện tích lá thấp làm giảm khả năng tích lũy chất khô. Harvest Index thấp phản ánh hiệu quả chuyển hóa quang hợp thành hạt chưa cao. Cần phân tích đồng bộ các yếu tố này để xác định biện pháp can thiệp hiệu quả nhất. Nghiên cứu đặt trọng tâm vào ba yếu tố: thời vụ, mật độ và phân bón. Ba yếu tố này có tương tác chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau trong điều kiện vụ hè thu.

2.1. Ảnh hưởng của thời vụ và mật độ đến sinh trưởng đậu tương

Gieo sớm hay muộn hơn khung thời vụ tối ưu đều làm giảm năng suất rõ rệt. Gieo quá sớm trong vụ hè thu khiến cây ra hoa trùng với đợt nắng hạn tháng 6. Gieo muộn làm thu hoạch vào mùa mưa, hạt dễ nảy mầm trên bông. Mật độ trồng ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá và tích lũy chất khô. Mật độ quá thưa làm lãng phí đất, mật độ quá dày làm giảm cá thể năng suất. Thí nghiệm cho thấy mật độ 25–35 cây/m² phù hợp với điều kiện Thái Nguyên. Xác định khung thời vụ và mật độ tối ưu là bước đầu tiên tăng năng suất.

2.2. Vai trò của dinh dưỡng khoáng đối với năng suất đậu tương

Đậu tương có khả năng cố định đạm sinh học qua nốt sần rễ. Tuy nhiên, lượng đạm cố định chỉ đáp ứng 40–60% nhu cầu của cây. Bón kết hợp N, P, K theo tỷ lệ cân đối làm tăng năng suất 27,9–43,2% theo nghiên cứu tại Shandong (Trung Quốc). Tỷ lệ sử dụng phân đạm, lân, kali thích hợp nhất cho đậu tương là 1:2:2 theo nghiên cứu của Trần Thị Trường và cộng sự. Trên đất chua đồi núi Thái Nguyên, bón thêm vôi và phân hữu cơ vi sinh giúp cải thiện pH đất. Phân vi lượng bổ sung làm tăng hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng tổng thể.

III. Biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương vụ hè thu Thái Nguyên

Luận án xác định bộ giải pháp kỹ thuật đồng bộ cho vụ hè thu tại Thái Nguyên. Về giống, lựa chọn các giống có thời gian sinh trưởng 90–100 ngày, thích nghi với điều kiện ngày ngắn. Thời vụ gieo tối ưu là từ 15 tháng 6 đến 5 tháng 7 để tránh nắng hạn đầu vụ và mưa cuối vụ. Mật độ gieo 30 cây/m² với khoảng cách hàng 40cm cho năng suất thực thu cao nhất. Phân bón khuyến nghị gồm 30kg N + 60kg P₂O₅ + 60kg K₂O/ha kết hợp 800kg vôi/ha cho đất chua. Phân hữu cơ vi sinh bón lót giúp cải thiện cấu trúc đất và tăng hoạt động vi sinh vật có lợi. Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học và phòng trừ bệnh tổng hợp giảm thiểu tổn thất năng suất. Tưới nước bổ sung giai đoạn ra hoa và hình thành hạt là yếu tố quan trọng trong điều kiện khô hạn cục bộ. Áp dụng đồng bộ các biện pháp này giúp năng suất đạt 20–22 tạ/ha, tăng 40–50% so với canh tác truyền thống.

3.1. Kỹ thuật bón phân cân đối cho đậu tương vụ hè thu

Bón lót toàn bộ lân, vôi và phân hữu cơ trước khi gieo là bước nền tảng. Đạm bón thúc chia làm hai lần: lần một lúc cây có 2–3 lá thật, lần hai khi cây bắt đầu phân cành. Kali bón thúc lần hai kết hợp với đạm để tăng khả năng vận chuyển chất đồng hóa về hạt. Phân vi lượng Mo và B giúp tăng số lượng và chất lượng nốt sần rễ. Trên đất đồi chua Thái Nguyên, bón 100N + 150P₂O₅ + 50K₂O + 800kg vôi/ha cho hiệu quả kinh tế tốt nhất. Bón phân đúng thời điểm và đúng liều lượng quyết định 60% năng suất cuối vụ.

3.2. Lựa chọn giống và quản lý đồng ruộng tổng hợp

Giống đậu tương được chọn qua đánh giá thích nghi tại chính địa điểm nghiên cứu. Tiêu chí lựa chọn gồm: năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng phù hợp vụ hè thu. Làm đất kỹ, lên luống cao 20–25cm giúp thoát nước tốt trong mùa mưa. Gieo hạt theo hốc 2–3 hạt/hốc, tỉa còn 1 cây sau mọc 7–10 ngày. Phòng trừ cỏ dại giai đoạn 15–30 ngày sau gieo bằng cơ giới và thủ công. Kiểm soát sâu đục thân và bệnh phấn trắng bằng phun phòng định kỳ. Quản lý tổng hợp đồng ruộng làm giảm rủi ro và tăng tính ổn định năng suất qua các năm.

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất đậu tương

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp bộ quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh cho đậu tương vụ hè thu tại Thái Nguyên. Thời vụ gieo từ 15/6 đến 5/7, mật độ 30 cây/m² và công thức phân bón 30N-60P-60K là tổ hợp tối ưu. Năng suất thực thu đạt 20–22 tạ/ha trong điều kiện thí nghiệm có kiểm soát. Mô hình sản xuất có sự tham gia của nông dân tại huyện Phú Lương và Võ Nhai cho thấy khả năng nhân rộng cao. Nông dân áp dụng quy trình này tăng thu nhập bình quân 35–40% so với canh tác cũ. Kết quả nghiên cứu được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thái Nguyên khuyến nghị áp dụng đại trà. Luận án đóng góp vào kho tàng khoa học cây trồng về canh tác đậu tương vùng trung du miền núi phía Bắc. Hướng nghiên cứu tiếp theo là tích hợp công nghệ sinh học trong chọn tạo giống chịu hạn và chịu phèn. Cần nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến lịch thời vụ đậu tương Thái Nguyên.

4.1. Giá trị khoa học của luận án tiến sĩ đậu tương vụ hè thu

Luận án bổ sung dữ liệu thực nghiệm về tương tác giữa thời vụ, mật độ và phân bón trong điều kiện Thái Nguyên. Đây là nghiên cứu hệ thống đầu tiên về đậu tương vụ hè thu tại vùng trung du Đông Bắc Việt Nam. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng đa điểm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao. Dữ liệu Harvest Index và chỉ số diện tích lá được ghi nhận đầy đủ qua các giai đoạn sinh trưởng. Kết quả tạo cơ sở cho các nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương thích nghi vùng núi. Luận án đã được bảo vệ thành công năm 2021 tại Đại học Thái Nguyên, ngành Khoa học cây trồng.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng quy trình kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất

Quy trình kỹ thuật từ luận án được chuyển giao cho nông dân thông qua mô hình trình diễn. Tập huấn kỹ thuật kết hợp với hướng dẫn thực hành trực tiếp trên đồng ruộng đạt hiệu quả cao nhất. Hỗ trợ giống xác nhận và phân bón đúng chủng loại là điều kiện tiên quyết để nhân rộng mô hình. Liên kết sản xuất với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ đậu tương đảm bảo đầu ra ổn định. Chính sách hỗ trợ của UBND huyện Phú Lương và Võ Nhai thúc đẩy nông dân áp dụng kỹ thuật mới. Mở rộng diện tích áp dụng lên 500 ha trong giai đoạn 2022–2025 là mục tiêu của địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương vụ hè thu tại thái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG 1. Nhiệt độ Tổng tích ôn của đậu tương thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của giống. Tổng tích ôn của giống đậu tương chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 75-80 ngày cần khoảng 1700 – 2200 0C, giống đậu tương chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140 - 160 ngày cần khoảng 3200 – 3800 0C (Lawn và Hume,1985).

Cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển ở khoảng nhiệt độ khá rộng từ 10 – 40 0C, nhưng nhiệt độ khoảng 20 0C là lý tưởng cho cả quá trình. Thời gian từ gieo đến ra hoa của đậu tương trung bình từ 35 - 45 ngày nếu nhiệt độ thường xuyên là 24 – 26 0C, khi nhiệt độ thấp hơn 20 0C thì thời gian từ gieo đến ra hoa có thể kéo dài tới 50 đến 60 ngày. Thời kỳ hình thành quả và quả mẩy của đậu tương nhiệt độ thích hợp từ 28 – 37 0C, nhiệt độ thấp hơn 18 0C hoặc cao hơn 38 0C ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt đậu tương kém. Nhìn chung, thời kỳ ra hoa và làm quả của đậu tương nếu gặp rét tỷ lệ rụng hoa cao và giảm khả năng hình thành quả (Lawn và Hume, 1985).

Nhiệt độ trung bình tại các vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc là 23 0C, đạt thấp nhất ở tháng 1 (15 – 17 0C), tăng dần và đạt cao nhất ở tháng 6 và 7 (25 – 30 0C), sau đó giảm dần đến tháng 12 (15 – 18 0C) (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019). Như vậy có thể nói nhiệt độ của vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc đều thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển trong cả 3 vụ/năm. Ánh sáng Yêu cầu số giờ nắng trung bình của các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương như sau: Gieo hạt – mọc mầm: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; mọc mầm – ra hoa: 4,5 – 5,0 giờ/ngày; ra hoa – chín: 4,0 – 5,0 giờ/ngày. Số giờ nắng ít hơn những giá trị này đều bất lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương (Ngô Thế Dân và cs, 1999).

Thời kỳ cây con của đậu tương mẫn cảm nhất với điều kiện ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như ngừng ở giai đoạn ra hoa của đậu tương. Điều kiện của ánh sáng ngày ngắn làm rút ngắn thời gian sinh trưởng của đậu tương, giảm chiều cao cây cũng như số đốt và chiều dài của đốt. Cường độ ánh khoảng 20- 30% của cường độ ánh sáng mặt trời ở buổi trưa là đủ cho cây đậu tương có thể sinh trưởng bình thường, do vậy cây đậu tương có thể trồng xen với nhiều loại cây trồng khác. Nhưng khi cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường sẽ làm giảm số cành, số đốt mang quả và có thể giảm tới 50% năng suất của đậu tương (Lawn và Hume, 1985).

Tại vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc có sự biến đổi về số giờ nắng trung bình/tháng như sau: Từ tháng 2 – 6, số giờ nắng/tháng tăng dần và giảm dần từ tháng 6 – 12. Số giờ nắng trong năm trung bình từ 1350 – 1950 giờ. Tháng 7, 8 có số giờ nắng cao nhất là 140 – 190 giờ, tháng 2 và tháng 12 có giờ nắng thấp nhất 45 – 151 giờ. Số giờ nắng trung bình ngày từ tháng 2 đến tháng 10 là 4 – 5 giờ/ngày (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019).

Như vậy, điều kiện ánh sáng của vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc hoàn toàn phù hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển. Nước Hạt đậu tương nảy mầm khi hàm lượng nước đạt 50% khối lượng của hạt và độ ẩm của đất đạt từ 65-75% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Thời kỳ làm quả của 7 đậu tương có nhu cầu nước cao nhất, phần lớn sự biến động về năng suất của đậu tương là do sự biến động về lượng nước cung cấp cho cây ở giai đoạn làm quả. Khi bị hạn trong giai đoạn làm quả thì hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, quá trình vận chuyển dinh dưỡng về hạt bị cản trở và thời gian sinh trưởng của đậu tương bị rút ngắn.

Ngoài ra, độ ẩm của không khí có vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy chất khô về hạt, độ ẩm không khí ngày/đêm là 47%/45% làm giảm tới 21% năng suất đậu tương so với độ ẩm 81%/84%, nguyên nhân do sự tích lũy chất khô giảm, tỷ lệ rụng hoa và rụng quả tăng. Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1986) cho thấy: Lượng nước cần tưới đáp ứng đủ cho nhu cầu của cây đậu tương khoảng 2200 m3/ha/vụ và năng suất đậu tương không sai khác khi tưới lượng nước 2163 và 2413 m3/ha, nhưng tưới lượng nước 2030 m3/ha thì có thể giảm 58,4% năng suất. Đất trồng Cây đậu tương trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất sét, đất cát pha, đất thịt, đất đỏ bazan, đất nâu xám, đất nương rẫy vùng đồi núi, đất sau thu hoạch lúa xuân, lúa mùa. Trên đất cát cây đậu tương thường cho năng suất không ổn định.

Trên đất thịt nặng cây đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc nó thích ứng tốt hơn so với nhiều loài cây màu khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Năng suất của đậu tương đạt cao nhất khi độ chua (pHKCl) của đất đạt 6,5; khi đất có độ chua là 5 năng suất có thể giảm 37%. Vùng có khí hậu nhiệt đới, với loại đất có thành phần cơ giới nặng có độ chua từ 5,5 - 6,5 và loại đất có thành phần cơ giới nhẹ độ chua từ 5 - 5,5 là thích hợp cho cây đậu tương. Ở Việt Nam, phần lớn trên các loại đất có độ chua từ 5,2 - 7,0 nên đều thích hợp cho cây đậu tương phát triển, hình thành nốt sần (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996).

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu tương trên thế giới Theo tổ chức nông lương Quốc tế (FAOSTAT, 2020) đậu tương được trồng ở tất cả các châu lục, tại 89 nước và vùng lãnh thổ. Trong những năm qua, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới không ngừng gia tăng, thể hiện ở bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới qua một số năm Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2010 101,37 2,47 249,93 2011 101,97 2,46 251,29 2012 109,32 2,46 268,77 2013 113,33 2,50 283,74 2014 118,06 2,69 318,60 2015 120,79 2,67 323,19 2016 121,84 2,75 335,50 2017 123,55 2,85 352,64 2018 124,92 2,79 348,71 (FAOSTAT, 2020) 9 Về diện tích: Trong khoảng thời gian từ 2010 – 2018, diện tích trồng đậu tương trên thế giới liên tục gia tăng: từ 101,37 triệu ha đã tăng lên 124,92 triệu ha vào năm 2018, tăng hơn 20 triệu ha so với năm 2010.

Về năng suất: Từ năm 2010 – 2018, năng suất đậu tương trên thế giới tăng từ 2,47 tấn/ha lên mức 2,79 tấn/ha vào năm 2018. Điều này làm cho sản lượng đậu tương trên thế giới trong khoảng thời gian này tăng lên đáng kể từ 249,93 triệu tấn (năm 2010) lên mức 348,71 triệu tấn năm 2018, tăng 41% so với năm 2010. * Các quốc gia sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng đậu tương chủ yếu trên thế giới Diên tích Năng suất Sản lượng Tên nước Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2013 31,13 2,83 88,22 2014 33,42 3,19 106,88 2015 33,12 3,22 106,95 Mỹ 2016 33,47 3,49 116,93 2017 36,24 3,31 120,06 2018 35,66 3,46 123,66 2013 27,91 2,92 81,72 2014 30,27 2,86 86,76 2015 32,18 3,02 97.46 Braxin 2016 33,18 2,90 96,39 2017 33,93 3,37 114,59 2018 34,77 3,39 117,72 2013 19,42 2,53 49,31 2014 19,25 2,77 53,40 2015 19,35 3,17 61,44 Argentina 2016 19,50 3,01 58,79 2017 17,33 3,17 54,97 2018 16,32 2,31 37,79 2013 6,79 1,76 11,95 Trung Quốc 2014 6,73 1,81 12,20 10 2015 6,50 1,81 11,78 2016 7,09 1,80 12,79 2017 7,34 1,79 13,15 2018 7,97 1,78 14,19 (FAOSTAT, 2020) * Mỹ: Mỹ chiếm 34% sản lượng đậu tương trên thế giới với 42% thị phần là nước xuất khẩu đậu tương thô lớn nhất.

Trên toàn nước Mỹ có khoảng hơn 30 triệu hecta sử dụng để trồng đậu tương tập trung nhiều ở các vùng như Kentucky, Minnesota, Ohio, Pennsylvania và Wisconsin. Đậu tương ở Mỹ được bắt đầu trồng từ tháng 5 hoặc đầu tháng 6, thu hoạch vụ mùa từ tháng 9 đến tháng 10. Có được thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ. Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và tạo giống.

Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ (ASA: American Soybean Association) được thành lập từ năm 1920 có 52 nghìn hội viên. Ở Mỹ, việc chọn lọc, nhập nội và lai tạo giống rất được quan tâm. Sản lượng đậu tương trong năm 2018 đạt 123,66 triệu tấn (Soystats, 2020). * Braxin: Quốc gia đứng thứ 2 về sản xuất đậu tương trên thế giới, chiếm khoảng 30%.

Tổng kết năm 2018 sản lượng đậu tương của Braxin là 117,72 triệu tấn. Đậu tương ở Braxin được ưa chuộng vì hàm lượng đạm cao hơn so với các nơi khác trên thế giới. Trong tổng số 96,3 triệu tấn đậu tương sản xuất năm 2016, Braxin đã xuất khẩu 51,6 triệu tấn và chế biến 39,5 triệu tấn (trong đó có 15,8 triệu tấn được tiêu thụ bởi ngành công nghiệp chăn nuôi). Năm 2017 tổng giá trị sản xuất đậu tương của Braxin đạt 35,4 tỉ USD, chiếm 21,7% tổng giá trị nông nghiệp của đất nước (Alexandre José Cattelan và cs, 2018).

* Argentina: Argentina có diện tích trồng đậu tương lên đến 20 triệu ha tập trung nhiều ở các vùng Buenos Aires, Cordoba và Santa Fe. Đây là đất nước đứng thứ 3 về sản lượng đậu tương chiếm 18% trên thế giới. Kết thúc năm 2018, sản lượng đậu tương Argentina là 37,79 triệu tấn. Lý do sản lượng giảm so với 11 năm 2017 là diện tích trồng năm 2018 giảm còn 16,32 triệu ha, trong khi đó năm 2017 là 17,33 triệu ha.

Argentina cũng là nước đứng đầu về xuất khẩu dầu đậu tương và bột đậu tương chiếm 7% trên thế giới. * Trung Quốc: Sản lượng đậu tương của Trung Quốc chiếm khoảng 4% sản lượng đậu tương trên thế giới với năng suất trung bình năm 2018 đạt 1,78 tấn/ha, sản lượng đạt 14,19 triệu tấn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ