Luận án TS. Hà Thị Thanh Tuyền: Nghiên cứu chuỗi cung ứng gạch không nung ĐBSCL

Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gạch không nung tại đồng bằng sông Cửu Long, phân tích tiềm năng và thách thức trong ngành xây dựng.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

233
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chuỗi cung ứng gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Gạch không nung không chỉ giúp tiết kiệm tài nguyên mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Luận án này sẽ phân tích cấu trúc và hoạt động của chuỗi cung ứng gạch không nung, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng này.

1.1. Bối cảnh lý thuyết về chuỗi cung ứng gạch không nung

Chuỗi cung ứng gạch không nung bao gồm nhiều giai đoạn từ cung cấp nguyên liệu đến sản xuất và phân phối. Nghiên cứu sẽ xem xét các lý thuyết cơ bản về chuỗi cung ứng và ứng dụng của chúng trong ngành sản xuất gạch không nung.

1.2. Tình hình thực tiễn chuỗi cung ứng gạch không nung tại ĐBSCL

Thực trạng chuỗi cung ứng gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhiều thách thức như thiếu vốn, chất lượng sản phẩm không đồng đều và mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi còn yếu.

II. Vấn đề và thách thức trong chuỗi cung ứng gạch không nung

Chuỗi cung ứng gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Các nhà máy sản xuất gạch không nung thường thiếu vốn và gặp khó khăn trong việc duy trì đầu ra ổn định. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của ngành.

2.1. Thiếu vốn và đầu ra không ổn định

Theo nghiên cứu, 95,3% nhà máy sản xuất gạch không nung thiếu vốn, dẫn đến việc không thể duy trì sản xuất ổn định. Đầu ra chủ yếu phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước, chiếm 94,5%.

2.2. Mối liên kết yếu giữa các tác nhân trong chuỗi

Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng gạch không nung chủ yếu dựa trên sự quen biết và thiếu tính hỗ trợ thực sự. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh và khó khăn trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.

III. Phương pháp nghiên cứu chuỗi cung ứng gạch không nung hiệu quả

Để cải thiện chuỗi cung ứng gạch không nung, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Luận án sẽ sử dụng các phương pháp định tính và định lượng để phân tích dữ liệu và đưa ra các giải pháp khả thi.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các nguồn thứ cấp như Sở ban ngành và cục thống kê, cùng với dữ liệu sơ cấp từ bảng khảo sát 372 quan sát từ các tác nhân trong chuỗi cung ứng.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Phân tích dữ liệu sẽ được thực hiện thông qua các phương pháp thống kê và mô hình hóa để đánh giá chất lượng mối quan hệ và hiệu quả kinh doanh trong chuỗi cung ứng gạch không nung.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu chuỗi cung ứng

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những hàm ý quản trị quan trọng cho các nhà sản xuất gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi.

4.1. Các hàm ý quản trị cho chuỗi cung ứng

Nghiên cứu đề xuất 7 hàm ý quản trị nhằm cải thiện chuỗi cung ứng gạch không nung, bao gồm việc đa dạng hóa quan hệ cung cấp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

4.2. Kết quả thực tiễn từ nghiên cứu

Kết quả cho thấy, việc nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh trong chuỗi cung ứng gạch không nung.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu chuỗi cung ứng gạch không nung

Luận án đã chỉ ra rằng việc cải thiện chuỗi cung ứng gạch không nung tại Đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết để phát triển bền vững. Tương lai của ngành này phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các tác nhân trong chuỗi.

5.1. Tương lai của chuỗi cung ứng gạch không nung

Ngành gạch không nung cần phải đổi mới công nghệ và cải thiện mối liên kết giữa các tác nhân để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất gạch không nung và phát triển các mô hình kinh doanh bền vững.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Các nội dung chính được trình bày trong chương này bao gồm: bối cảnh nghiên cứu; lý do chọn đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; và kết cấu nội dung của luận án. 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này tổng quan lý thuyết chuỗi cung ứng, chất lượng mối quan hệ và Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng; CLMQH giữa NSX và NPP cụ thể thành phần của CLMQH, các nhân tố ảnh hưởng đến thành phần CLMQH và thành phần kết quả của mối quan hệ. Trên cơ sở lược khảo các tài liệu có liên quan, tác giả tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận án. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.

Chương này luận án trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và phương pháp thu thập số liệu; Nghiên cứu định lượng sơ bộ và cuối cùng là cơ sở hình thành các thang đo. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Các nội dung chính trình bày trong chương này bao gồm: Thứ nhất, phân tích kết cấu và vận hành chuỗi cung ứng GXKN tại ĐBSCL. Thứ hai, phân tích mối liên kết và CLMQH giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng sản phẩm GXKN tại ĐBSCL.

Đối với chất lượng mối quan hệ luận án sử dụng các phương pháp phân tích số liệu như thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích mô hình cấu trúc PLS-SEM để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến thành phần của CLMQH, thành phần của CLMQH và thành phần kết quả của mối quan hệ. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Dựa vào kết quả đạt được, chương này trình bày kết luận và đề xuất một số hàm ý quản trị hoàn thiện chuỗi cung ứng gạch xây không nung tại ĐBSCL trong thời gian tới. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Mục tiêu của chương này trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về chuỗi cung ứng và chất lượng mối quan hệ giữa NSX và NPP.

Kết quả tổng quan sẽ là cơ sở để tìm ra khoảng trống trong lý thuyết qua đó làm căn cứ đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Trong chương này tập trung làm rõ một số vấn đề như sau: 2. LÝ THUYẾT CHUỖI CUNG ỨNG 2. Chuỗi cung ứng 2.

Khái niệm về chuỗi cung ứng sản phẩm Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” đã được các nhà nghiên cứu sử dụng từ những năm 1970 Aramyan et al., (2007), trên thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Trong nghiên cứu luận án, tác giả lược khảo một số quan điểm chuỗi cung ứng nhằm củng cố cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu của mình. Dưới đây, luận án trình bày một số quan điểm như sau: Theo M.Porter (1990), chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng. Sau đó hai năm, hai tác giả Lee và Billington (1992) cho rằng, chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối.

Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng được phát biểu như sau: Một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng (Christopher, 1992). Ganesan và Shankar (1994) đồng quan điểm cho rằng, chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng. Ran và Terry P. Harrison (1995) cho rằng, chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng.

Cũng trong năm 1995 hai tác giả Ganeshan và Harrison cho rằng, chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo Ganeshan và Terry (1995) định nghĩa chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực 11 hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng. Beamon (1998) đề xuất rằng, chuỗi cung ứng là một quá trình tích hợp của các thực thể kinh doanh tương tác với nhau; những thực thể kinh doanh này có thể được sắp xếp thành 4 nhóm: nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán sỉ và nhà bán lẻ. Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu cung cấp sản phẩm ra thị trường (Lambert et al.

Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng (Upper Saddle Riverm NI, 2001). Chopra và Meindl (2001) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, người bán lẻ và bản thân khách hàng.

Cũng chính tác giả này cho rằng mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng. Chopra và Meindl (2001) cho rằng, Giá trị chính là sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho doanh nghiệp đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng. Mentzer et al., (2001) các tác giả này lập luận rằng, chuỗi cung ứng sản phẩm là tập hợp của các thực thể có thể là pháp nhân hoặc thể nhân liên quan trực tiếp đến dòng chảy xuôi và ngược của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ đầu nguồn đến khách hàng.

Một cách tiếp cận khác về chuỗi cung ứng là một chuỗi quản lý chiến lược của một tập hợp các công ty liên mạng (C. Govil và Proth (2002) định nghĩa rằng, chuỗi cung ứng như một mạng lưới các tổ chức hợp tác để cải thiện các dòng chảy nguyên vật liệu và thông tin giữa các nhà cung cấp và khách hàng ở mức chi phí thấp nhất và tốc độ cao nhất; mục tiêu của chuỗi cung ứng là sự hài lòng của khách hàng. Sahay (2003) cho rằng, chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.

Hay chuỗi cung ứng hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ (Chopra Sunil và Peter Meindl, 2003). Một định nghĩa khác cho rằng, chuỗi cung ứng là một mạng lưới của các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết dòng thượng nguồn và hạ nguồn, trong các quá 12 trình và hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng (Christoper, 2005). Một chuỗi cung ứng tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp thu hút thêm nhiều khách hàng, gia tăng thị phần, tiết kiệm chi phí, từ đó gia tăng doanh thu và thu nhập (Khuyết danh, 2009). Như vậy, theo các khái niệm đã trình bày ở trên, về cơ bản một chuỗi cung ứng gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản gồm: Thứ 1, Cung cấp: tập trung các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua ở đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh.

Thứ 2, Sản xuất vận hành: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành thành phẩm và thành sản phẩm hoàn hảo cuối cùng. Thứ 3, Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả. Min và Zhou (2002) giải thích sự tích hợp giữa các thực thể kinh doanh này nhằm đảm bảo cung cấp các quá trình kinh doanh thiết yếu như: Thứ 1: thu mua các nguyên liệu thô và các thành phần của sản phẩm. Thứ 2: Biến đổi nguyên liệu thô và các thành phần của sản phẩm thành sản phẩm hoàn thiện.

Thứ 3: gia tăng giá trị cho các sản phẩm này. Thứ 4: Phân phối các sản phẩm tới nhà bán lẻ và khách hàng. Thứ 5: Thu mua các nguyên liệu thô và các thành phần của sản phẩm. Thứ 6: Biến đổi nguyên liệu thô và các thành phần của sản phẩm thành sản phẩm hoàn thiện.

Thứ 7: Gia tăng giá trị cho các sản phẩm này. Thứ 8: Phân phối các sản phẩm tới nhà bán lẻ và khách hàng Có 5 hoạt động chính trong phạm vi chuỗi cung ứng ở cấp độ chiến lược là: Thứ 1: Hoạt động mua bao gồm các công tác mua nguyên vật liệu thô, các cấu phần sản phẩm, các nguồn lực và dịch vụ. Thứ 2: Hoạt động chế tạo liên quan tới việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Thứ 3: Hoạt động vận chuyển liên quan tới sự di chuyển của các sản phẩm trong và ngoài phạm vi chuỗi cung ứng.

Thứ 4: Hoạt động lưu kho liên quan tới việc lưu trữ các các bán thành phẩm và các nguyên liệu thô trước khi chúng được chuyển đi hoặc đưa đi chế biến. Thứ 5: Hoạt động bán liên quan đến tất cả các hoạt động định hướng thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ