Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu độc tính và tác dụng tăng cường chức năng sinh dục nam của viên nang Trường Xuân CB - Vũ Ngọc Thắng, Học viện Quân Y

Dưới đây là các meta tag được tạo cho bài viết "Nghiên cứu an toàn và tác dụng viên nang Trường Xuân CB trên sinh sản nam": { "ai_description": "Nghiên cứu

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Dược lý- Độc chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

204
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ chế phẩm Trường Xuân CB

Luận án tiến sĩ của Vũ Ngọc Thắng tại Học viện Quân y năm 2021 nghiên cứu bào chế tính an toàn và tác dụng sinh học của chế phẩm Trường Xuân CB từ bài thuốc với các dược liệu chính trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Đề tài thuộc chuyên ngành Dược lý - Độc chất, mã số 9720118. Nghiên cứu được thực hiện với sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hoàng Ngân và PGS. Nguyễn Minh Phương. Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nổi tiếng với nguồn dược liệu phong phú và đa dạng. Các bài thuốc dân gian tại địa phương này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Chế phẩm Trường Xuân CB được bào chế từ công thức cổ phương kết hợp với dược liệu bản địa. Mục tiêu chính là đánh giá độc tính cấp, độc tính bán trường diễn và tác dụng tăng cường chức năng sinh dục nam. Nghiên cứu sử dụng động vật thực nghiệm theo quy trình khoa học nghiêm ngặt.

1.1. Nguồn gốc dược liệu tỉnh Cao Bằng

Cao Bằng sở hữu hệ sinh thái đa dạng với hơn 1000 loài dược liệu quý. Địa hình núi đá vôi, khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện lý tưởng cho dược liệu phát triển. Các huyện như Trùng Khánh, Hà Quảng, Bảo Lạc là vùng trọng điểm thu hái. Dược liệu chính trong bài thuốc Trường Xuân CB bao gồm các vị thuốc cổ truyền có tác dụng bổ thận, tráng dương. Người dân tộc Tày, Nạu đã tích lũy kinh nghiệm sử dụng qua nhiều đời. Việc nghiên cứu bào chế giúp chuẩn hóa và phát huy giá trị y học dân tộc.

1.2. Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

Vô sinh nam là vấn đề y tế toàn cầu, ảnh hưởng khoảng 15% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản. Nguyên nhân bao gồm suy giảm sinh dục, giãn tĩnh mạch thừng tinh, tinh hoàn lạc chỗ. Y học hiện đại sử dụng hormone tổng hợp với nhiều tác dụng phụ. Đông y truyền thống cung cấp giải pháp an toàn hơn. Nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật thực nghiệm là bước đệm quan trọng. Kết quả đánh giá độc tính và sinh khả dụng sẽ tạo nền tảng cho thử nghiệm lâm sàng.

II. Phân tích vấn đề vô sinh nam và giải pháp từ y học cổ truyền

Vô sinh nam chiếm tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp hiếm muộn. Theo thống kê quốc tế, nguyên nhân vô sinh biết trước chiếm 42,6% tổng số ca bệnh. Suy giảm chức năng tuyến sinh dục và dưới đồi là nguyên nhân chính trước tinh hoàn. Hội chứng Klinefelter ảnh hưởng 2,6% bệnh nhân, tăng lên 13,7% ở nhóm vô sinh không tinh trùng. Giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm 14,8% nguyên nhân. Tinh hoàn lạc chỗ đứng thứ hai với 8,4%. Y học hiện đại điều trị bằng hormone thay thế, phẫu thuật hoặc thụ tinh nhân tạo. Chi phí điều trị cao và tỷ lệ thành công hạn chế. Tác dụng phụ của thuốc Tây y gây lo ngại cho người bệnh. Y học cổ truyền Việt Nam đề xuất nhiều bài thuốc bổ thận sinh tinh. Dược liệu tự nhiên có ưu điểm ít tác dụng phụ, chi phí thấp. Cần nghiên cứu khoa học để chứng minh hiệu quả và an toàn.

2.1. Thực trạng vô sinh nam tại Việt Nam

Việt Nam có khoảng 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh. Tỷ lệ vô sinh nam chiếm 40-50% tổng số ca. Tuổi kết hôn muộn, áp lực công việc, ô nhiễm môi trường là yếu tố nguy cơ. Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội tiếp nhận hàng trăm ca mỗi tháng. Nhiều cặp vợ chồng phải điều trị dài hạn với kết quả không mong đợi. Chi phí thụ tinh ống nghiệm từ 70-100 triệu đồng mỗi chu kỳ. Người dân vùng nông thôn khó tiếp cận dịch vụ y tế cao cấp. Nhu cầu tìm kiếm giải pháp từ thảo dược ngày càng tăng.

2.2. Vai trò của y học cổ truyền trong điều trị sinh sản

Y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm điều trị bệnh nam khoa. Các bài thuốc bổ thận, ích tủy, sinh tinh được ghi chép trong nhiều tài liệu cổ. Dược liệu như nhục thung dung, dâm dương hoắc, ba kích được sử dụng phổ biến. Nghiên cứu hiện đại đã xác định hoạt chất sinh học trong nhiều vị thuốc. Saponin steroid, flavonoid có tác dụng kích thích sản xuất testosterone. Bài thuốc Trường Xuân CB kết hợp nguyên lý y học cổ truyền với dược liệu địa phương. Phương pháp bào chế hiện đại giúp chuẩn hóa hàm lượng hoạt chất.

III. Phương pháp bào chế và đánh giá tính an toàn Trường Xuân CB

3.1. Quy trình bào chế viên nang Trường Xuân CB

Chế phẩm Trường Xuân CB được bào chế dạng viên nang cứng. Dược liệu thu hái tại Cao Bằng được sơ chế, phơi sấy theo tiêu chuẩn GMP. Công đoạn chiết xuất sử dụng dung môi ethanol nồng độ phù hợp. Quy trình cô đặc chân không bảo toàn hoạt chất nhiệt nhạy. Hàm lượng hoạt chất được kiểm soát bằng phương pháp HPLC. Viên nang đạt tiêu chuẩn về độ tan, độ ẩm, vi sinh vật. Đóng gói trong bao bì nhôm chống ẩm, bảo quản nhiệt độ phòng. Mỗi lô sản phẩm được kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào nghiên cứu.

3.2. Kết quả đánh giá độc tính trên động vật thực nghiệm

Thử nghiệm độc tính cấp trên chuột nhắt Swiss xác định liều LD50. Kết quả cho thấy chế phẩm có độc tính rất thấp theo phân loại GHS. Độc tính bán trường diễn 28 ngày trên chuột cống Wistar không ghi nhận tử vong. Thông số huyết học, sinh hóa máu nằm trong giới hạn bình thường. Giải phẫu bệnh các cơ quan phủ tạng không phát hiện tổn thương. Không có bất thường di truyền biểu sinh được ghi nhận. Chế phẩm an toàn ở liều cao gấp nhiều lần liều dự kiến sử dụng trên người.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng chế phẩm Trường Xuân CB

Luận án tiến sĩ đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Chế phẩm Trường Xuân CB được bào chế thành công từ dược liệu tỉnh Cao Bằng. Quy trình sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và tái lập được. Đánh giá độc tính xác nhận tính an toàn cao của chế phẩm trên động vật thực nghiệm. Không có tác dụng phụ nghiêm trọng được ghi nhận ở tất cả các nhóm nghiên cứu. Tác dụng sinh học trên chức năng sinh dục nam được chứng minh qua nhiều mô hình thí nghiệm. Chế phẩm cải thiện chất lượng tinh trùng, tăng nồng độ testosterone huyết thanh. Hoạt tính androgen được xác định bằng phương pháp sinh học chuẩn. Mô hình thỏ suy giảm sinh sản do fluconazol cho kết quả khả quan. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển sản phẩm từ dược liệu bản địa. Kết quả là cơ sở khoa học cho thử nghiệm lâm sàng giai đoạn tiếp theo.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đóng góp dữ liệu khoa học về dược lý và độc chất học của bài thuốc cổ truyền. Kết quả xác nhận tính an toàn, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm. Bảo tồn và phát huy tri thức y học dân gian các dân tộc thiểu số. Nâng cao giá trị kinh tế dược liệu tỉnh Cao Bằng. Góp phần giảm nhập khẩu thuốc tăng cường sinh lý từ nước ngoài. Mô hình nghiên cứu có thể áp dụng cho các bài thuốc cổ truyền khác. Đào tạo đội ngũ nghiên cứu trẻ tại Học viện Quân y.

4.2. Hướng phát triển và thử nghiệm lâm sàng tương lai

Bước tiếp theo là thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 trên tình nguyện viên khỏe mạnh. Xác định liều lượng tối ưu và dược động học trên người. Thiết kế thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với nhóm chứng giả dược. Đánh giá hiệu quả trên bệnh nhân vô sinh nam thực tế. Theo dõi dài hạn về an toàn và tác dụng không mong muốn. Nghiên cứu cơ chế tác dụng ở cấp độ phân tử, gen. Phát triển dạng bào chế tiện dụng hơn như viên nén bao phim. Đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ và giấy phép lưu hành sản phẩm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu bào chế tính an toàn và tác dụng sinh học của chế phẩm trường xuân cb từ bài thuốc với các dược liệu chính trên địa bàn tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, suy giảm chức năng sinh dục, sinh sản ở nam giới là bệnh lý có tỷ lệ mắc ngày càng tăng. Theo các nghiên cứu thì có khoảng 20- 30% nam giới trưởng thành có ít nhất một rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục (khá thường xuyên, thường xuyên, gần như luôn luôn và luôn luôn) [1]. Có nhiều nguyên nhân gây nên tuy nhiên đáng chú ý là tỉ lệ mắc bệnh ngày càng cao ở nam giới do lối sống, sinh hoạt thiếu lành mạnh, chế độ ăn uống thiếu kiểm soát (làm mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa: tim mạch, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Suy giảm chức năng sinh dục, sinh sản ở nam giới không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nam giới mà còn ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống tinh thần cũng như hạnh phúc gia đình của họ.

Các thuốc điều trị nội khoa hiện nay chủ yếu là sử dụng liệu pháp hormon thay thế [2], chỉ có hiệu quả điều trị trong một số ít trường hợp nhất định hơn nữa có nguy cơ xảy ra tai biến khi sử dụng dài ngày. Do đó, nghiên cứu sản xuất ra các sản phẩm điều trị suy giảm chức năng sinh dục, sinh sản nam, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả điều trị là việc làm mang nhiều ý nghĩa. Nước ta có nhiều vùng khí hậu khác nhau, có hệ động, thực vật phong phú với nhiều loại dùng để làm thuốc, trong đó có nhiều dược liệu quý, nhiều dược liệu đặc hữu. Cho đến nay, dược liệu vẫn đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều và đóng vai trò quan trọng trong điều trị nói chung và trong điều trị các bệnh lý liên quan đến sinh sản, sinh dục nam nói riêng.

Tuy nhiên, việc sử dụng dược liệu vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa có nhiều bằng chứng khoa học. Hơn nữa, được dùng nhiều dưới dạng bào chế của y học cổ truyền, chưa thực sự thuận tiện cho bệnh nhân. Viên nang Trường Xuân CB là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, được bào chế từ các dược liệu theo bài thuốc của y học cổ truyền với định hướng điều trị một số vấn đề về suy giảm chức năng sinh dục, sinh sản nam. 2 Một số dược liệu trong công thức bào chế của viên nang Trường Xuân CB đã được chứng minh có tác dụng khả quan trên sinh sản, sinh dục nam giới [3], [4]; tuy nhiên tác dụng khi kết hợp dưới dạng viên nang thì chưa được chứng minh.

Hơn nữa, mặc dù chế phẩm được nghiên cứu chuyển dạng bào chế từ bài thuốc y học cổ truyền tuy nhiên trước khi có thể được đưa vào sử dụng trên người, chế phẩm cần phải trải qua giai đoạn đánh giá tính an toàn và tác dụng trên động vật thực nghiệm. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu độc tính và tác dụng tăng cường chức năng sinh dục đực của viên nang Trường Xuân CB trên động vật thực nghiệm” được thực hiện với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của viên nang Trường Xuân CB trên động vật thực nghiệm. Đánh giá tác dụng tăng cường chức năng sinh dục đực của viên nang Trường Xuân CB trên động vật thực nghiệm.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục nam 1. Suy sinh dục nam giới 1. Khái niệm và phân loại - Suy sinh dục nam (male hypogonadism- MH) là một rối loạn liên quan đến giảm hoạt động chức năng của tinh hoàn, giảm sản xuất nội tiết tố androgen, inhibin B và/hoặc suy giảm sản xuất tinh trùng [5].

- MH có thể có 4 dạng là [6]: MH nguyên phát do suy tinh hoàn; MH thứ phát do rối loạn chức năng dưới đồi- tuyến yên; suy sinh dục nam khởi phát muộn (Late onset hypogonadism), bao gồm: do tuổi, béo phì, do bệnh mắc kèm khác. và MH do mất nhạy cảm với receptor của androgen. - Theo YHCT đến tuổi 40, thận khí bắt đầu suy; đến gần tuổi 50, dương khí bắt đầu suy làm da khô, nhăn nheo, tóc bạc (TES sụt giảm, xuất hiện các triệu chứng mãn dục nam- Thiên quý suy). Mãn dục nam nặng (Thiên quý kiệt) là khi những triệu chứng của mãn dục nam xuất hiện rõ rệt và nặng [7].

Sinh lý quá trình bài tiết testosteron và nguyên nhân suy giảm Sự sản xuất TES và điều hòa sản xuất TES được thể hiện trong hình 1.1: Kisspeptin Vùng dưới đồi TES Tuyến yên TES Tế bào Leydig Tế bào Sertoli Tinh hoàn Ống sinh tinh Tinh trùng Hình 1. Sản xuất TES và điều hòa sản xuất TES * Nguồn: theo Peter Y. Liu và cs (2019) [8] 4 Sự sản xuất TES và hormon tăng trưởng đạt đến đỉnh điểm ở tuổi vị thành niên và sau đó bắt đầu giảm. Bình thường nồng độ TES trong máu từ 200- 400 ng/dL [9].

TES trong máu lưu hành ở 3 dạng: TES tự do (chiếm 2- 3%), TES liên kết với albumin (53- 55%) và TES liên kết với SHBG (sex hormone binding globulin) (43- 45%); TES có tác dụng là dạng tự do và gắn với albumin [10]. Đàn ông tuổi càng cao thì hàm lượng androgen ngày càng suy giảm. Sự suy giảm TES bắt đầu xảy ra từ 30 tuổi và hàng năm có sự suy giảm đáng kể về nồng độ TES [11]. Điều này càng rõ ràng hơn khi bước vào độ tuổi từ 45- 50 [12], hàng năm sự sản xuất TES giảm từ 0,8- 1,3% và từ 30- 50% ở độ tuổi 50- 70 [11].

TES (ng/dL) Tuổi Hình 1. Nồng độ TES tổng, SHBG và TES tự do (FT) ở nam giới theo tuổi * Nguồn: theo Comhaire F. Khoảng 30% nam giới 60- 70 tuổi và 70% nam giới 70- 80 tuổi có nồng độ TES hoạt động hoặc nồng độ TES tự do thấp [13]. Có sự suy giảm sớm hơn và mạnh hơn nồng độ của TES tự do so với tổng TES, đó là do kết quả của việc tăng khả năng liên kết của TES trong huyết thanh.

Sự tăng nồng độ của SHBG có liên quan đến sự thay đổi của tỷ lệ estrogen/androgen [12]. 5 Có thể tổng hợp nguyên nhân gây suy giảm TES như sau: - Tuổi tác: TES được sinh sản từ tinh hoàn (> 95%) và tuyến thượng thận (khoảng 4%). Tuổi càng cao, các tổ chức trong cơ thể đều bị suy thoái trong đó có tinh hoàn và tuyến thượng thận [11]. - Nguyên nhân ở tinh hoàn như: giảm số lượng và chức năng của tế bào Leydig; tăng xơ hóa và các thay đổi thoái hóa khác ở tinh hoàn; giảm tưới máu tinh hoàn gây thiếu oxi ở các mô; thay đổi trong tổng hợp steroid do tình trạng thiếu oxi ở các mô gây giảm tổng hợp DHEA [11].

- Do mất sự cân bằng điều chỉnh nội tiết tố: Ở người cao tuổi, có sự suy thoái, giảm số lượng tế bào Leydig cho nên dù LH có tăng hơn bình thường để kích thích sản xuất TES nhưng lượng TES vẫn suy giảm. Một số nguyên nhân khác: Do di truyền; do chế độ ăn uống sinh hoạt; do thuốc, hóa chất: Dùng quá nhiều các loại corticoid hoặc các thuốc đối kháng với nội tiết tố nam [14]. Triệu chứng của suy sinh dục nam Sự suy giảm nồng độ androgen là ngấm ngầm và từ từ, hơn nữa không phải nam giới cao tuổi nào cũng suy giảm nồng độ hormon đến mức biểu hiện thành các triệu chứng lâm sàng. Hình ảnh lâm sàng của MH được đặc trưng bởi sự giảm ham muốn tình dục và khả năng cương dương, giảm hoạt động trí tuệ, mệt mỏi, trầm cảm, thay đổi da, giảm lông trên cơ thể, giảm mật độ xương dẫn đến hội chứng loãng xương, tăng mỡ nội tạng và béo phì.

Có thể được chia 3 nhóm triệu chứng: triệu chứng tâm lý, triệu chứng về thực thể và sự thỏa mãn về tình dục [12]. - Các triệu chứng tâm lý bao gồm: tâm trạng chán nản, hay cáu gắt, lo lắng và căng thẳng thần kinh [11]. - Các triệu chứng về thực thể bao gồm đổ mồ hôi (có thể xảy ra theo đợt), có thể cùng với bốc hỏa; tăng nhu cầu ngủ, rối loạn giấc ngủ; suy nhược cơ thể và suy giảm sức khỏe. Suy giảm trí nhớ và khả năng tập trung… [12].

Giảm khối lượng cơ, giảm trương lực cơ; giảm mật độ khoáng trong xương; biến dạng 6 da, lông, tóc, móng; suy giảm hệ thống tạo máu [11]. Tăng khối lượng mỡ (nhất là béo bụng), mỡ cơ thể và mỡ nội tạng tăng lên, gây nguy cơ mắc bệnh tim mạch; khả năng kháng insulin cao hơn; mất dần khối lượng xương dẫn đến loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương. Sau đó thường làm nguyên nhân gây tử vong ở nam nhiều hơn nữ [12]. - Các triệu chứng tình dục bao gồm rối loạn cương dương do giảm sự cương cứng, giảm cảm giác cực khoái, giảm số lượng và chất lượng tinh trùng và giảm ham muốn tình dục.

Ngoài ra, sự cương cứng về đêm và sáng sớm xảy ra ít hơn và dương vật ít cương cứng hơn [12]. Một số bệnh chuyển hóa, chẳng hạn như đái tháo đường (ĐTĐ), có thể dẫn đến các triệu chứng gần giống với MH. Do đó, bệnh nhân ĐTĐ nên được điều trị thích hợp, vì việc theo dõi và điều trị ĐTĐ đúng cách có thể dễ dàng đảo ngược một số triệu chứng được cho là do MH [15]. Chẩn đoán Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: Cần có 1 triệu chứng về sinh dục sinh sản và 2 triệu chứng toàn thân là đủ để định hướng chẩn đoán về MH [11].

Có thể dựa vào bệnh sử, đánh giá theo thang điểm dựa theo các bộ câu hỏi [16]. Tuy nhiên cần phải loại trừ các bệnh toàn thân khác thường xảy ra ở người cao tuổi như ĐTĐ… Cận lâm sàng: Định lượng các hormon trong máu: LH, FSH, prolactin, estradiol và TES. Trong đó định lượng TES vào buổi sáng là quan trọng nhất [11]. Một số loại TES có thể được đánh giá là tổng hàm lượng TES, hàm lượng TES tự do.

Ngoài ra một số xét nghiệm khác cũng có thể hữu ích như: SHBG, đo mật độ xương, các chỉ số lipid máu…[12]. Nồng độ TES tự do < 70 ng/L được chẩn đoán là MH [17]. Với những triệu chứng của y học hiện đại nêu trên, nhiều bệnh lý của YHCT sau đều thuộc về hội chứng mãn dục nam: Thận âm hư; thận dương hư; 7 thận âm dương lưỡng hư; tâm hỏa động; tâm thận bất giao; can hỏa vượng; can khí uất kết; tỳ dương hư; tỳ thận dương hư; tỳ hư thấp trệ… [7]. Điều trị Nguyên tắc cơ bản của điều trị là bổ sung, phục hồi hàm lượng TES trong máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ