PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trong khi đó các lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế đang dần mất đi tính thực tiễn do những thay đổi về mặt địa lý, xu hướng tăng trưởng, thực tế nhu cầu của mỗi quốc gia và toàn cầu hóa. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 khiến nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng rối ren.
Sự đảo lộn này chỉ ra rằng: nền kinh tế chỉ dựa vào tăng trưởng nhanh và cao nhưng không diễn ra trong một thời gian dài thì nền kinh tế đó tăng trưởng không bền vững. Do đó, khái niệm “chất lượng tăng trưởng kinh tế” ra đời. Mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng chặt chẽ, khi khắc chế, khi tương trợ lẫn nhau, nhưng tựu chung lại tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, bền vững là mục tiêu của các quốc gia trong thế kỷ XXI. Mà cốt lõi của mục tiêu đó chính là tăng chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Từ năm 1986, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ đầu mô hình tăng trưởng kinh tế là khắc phục khủng hoảng của mô hình kế hoạch hoá tập trung, đáp ứng các yêu cầu ổn định đời sống nhân dân, ổn định kinh tế và chính trị, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng. Giai đoạn 1998-2006, Việt Nam thay đổi mô hình kinh tế tận dụng thời cơ hướng tới xuất khẩu. Sau khi đất nước đã dần đi vào ổn định, giai đoạn 2012 - 2022 là thời điểm Việt Nam bắt đầu mô hình tăng trưởng hướng tới phát triển bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường, tăng cường hàm lượng khoa học - kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân.
Quảng Ninh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vai trò, vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng; tỉnh là một trong những cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ. Thời gian qua, Quảng Ninh đã bắt nhịp và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nhanh, bước đầu đã thu được kết quả quan trọng: kinh tế luôn tăng trưởng cao trong giai đoạn 2010-2020 ghi nhận mức tăng GRDP đạt 12% (theo giá so sánh 2010), tăng gần 6 lần so với giai đoạn 2001-2010 (2. Trong đó, ngành dịch vụ đóng góp gần 50% vào GRDP với sự chuyển mình mạnh mẽ, tích hợp với những mô hình mới trong lĩnh vực du lịch để khai thác các tiềm năng du lịch của tỉnh Quảng Ninh. Thêm vào đó, hệ số ICOR giảm mạnh, nâng hiệu quả đầu tư vốn.
Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh cũng đề ra những chính sách để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, tập trung nguồn vốn từ các doanh nghiệp, trong tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng mức sống của người dân, đồng thời cải thiện phúc lợi xã hội. Quảng Ninh là một trong những địa phương có đóng góp cao vào GDP của cả nước, là một trong những tỉnh đầu tầu trong phát triển kinh tế vùng cũng như cả nước. Do vậy, việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế vùng, kinh tế cả nước nói chung. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế: (1) khai thác than góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển công nghiệp nhưng lại ảnh hưởng tới phát triển du lịch, dịch vụ, ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế “xanh”; (2) phát triển kinh tế tác động tiêu cực tới biến đổi khí hậu, đặc biệt là các cảnh quan thiên nhiên đã và đang thúc đẩy du lịch phát triển; (3) đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa ảnh hưởng xấu đến phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông thôn văn minh, bảo vệ môi trường; (4) tăng trưởng kinh tế nhanh dẫn đến các vấn đề tiêu cực về an sinh xã hội, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; (5) tăng trưởng kinh tế nhanh cần giải quyết với vấn đề thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;….
Trên phương diện lý thuyết, đã có những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Nhưng chưa có nghiên cứu xây dựng một khung lý thuyết hoàn chỉnh, đặc biệt xem xét sự tác động của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đối với một địa phương cấp tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một địa phương cấp tỉnh đặc biệt là Quảng Ninh (địa phương có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của vùng và của cả nước) là rất cần thiết, góp phần phát triển lý luận và giải quyết các tình huống quản lý thực tế. Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh” mà tác giả lựa chọn nghiên cứu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu Đã có nhiều tài liệu, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học của tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế dưới nhiều khía cạnh và góc độ tiếp cận khác nhau. Cụ thể một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: 2. Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Adam Smith (1723-1790),“Bàn về bản chất và nguồn gốc giàu có của quốc gia” (An Inquiry into Nature and Causes of the Wealth of Nations), hay gọi tắt là của cải của quốc gia xuất bản năm 1776, công trình nghiên cứu đã nêu bật nội dung về tăng trưởng kinh tế, đây là “Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith”.
Trong tác phẩm này ông cho rằng: không chỉ tích lũy vốn mà còn cả tiến bộ khoa học công nghệ cùng các nhân tố xã hội và thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước. Khi giải thích cơ chế tạo nên tăng trưởng kinh tế, Adam Smith đã dựa trên quá trình tích lũy tư bản, với tư tưởng ủng hộ tự do cạnh tranh và giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế. Ông cho rằng muốn tăng trưởng kinh tế thì phải tăng đầu tư. Theo ông đầu tư tăng nhờ cắt giảm tiêu dùng.
Với quan điểm như vậy Adam Smith được coi là người đầu tiên đưa ra mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa dựa trên tiết kiệm và đầu tư cao. Những nghiên cứu và kết luận của Adam Smith được các nhà kinh tế học chấp nhận cho đến thế kỷ XX. Tuy nhiên từ thế kỷ XX sự phát triển lý luận kinh tế đã làm thay đổi quan niệm truyền thống ủng hộ thị trường tự do sang ủng hộ kế hoạch hóa tập trung và sự kiểm soát của chính phủ. Đến cuối thế kỷ XX sau sự sụp đổ của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì các nhà kinh tế lại quay về với ý tưởng của Adam Smith.
Tuy nhiên, các chính sách thúc đẩy thị trường tự do có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách tốt nhất hay không thì vẫn là một câu hỏi lớn đối với các nhà kinh tế. David Ricardo (1772 - 1823), “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa” (Principles of political Economy and Taxation) của ông được xuất bản năm 1817, nội dung tác phẩm chính là Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của David Ricardo. Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo cho rằng sự tích lũy tư bản trong ngành 4 công nghiệp hiện đại chính là động lực dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Theo cách nhìn của Ricardo, “tư bản” là một quỹ tiền, được chia làm 2 phần: một phần để trả cho người lao động, một phần bỏ ra để mua máy móc, nguyên liệu… phục vụ cho sản xuất.
Do vậy cầu của lao động tăng khi có sự gia tăng của quỹ tiền lương. Tuy nhiên cung lao động được xác định bằng số người lao động sẵn sàng làm việc đủ thời gian, bất kể mức lương là bao nhiêu thì cố định trong ngắn hạn. Vì thế khi đầu tư được bổ sung vào quỹ tiền lương, làm tăng mức tiền lương thì cầu lao động tăng lên dọc theo đường cung không co giãn trong ngắn hạn. Tuy nhiên nếu mức lương tăng vượt quá mức lương tối thiểu (đủ sống) thì dân số bắt đầu tăng, khiến lực lượng lao động tăng lên trong thời kỳ sau đó.
Do vậy cung lao động được hoàn toàn co giãn trong dài hạn. Khi đó tiền lương luôn có xu hướng bị đẩy về mức tối thiểu. Bởi vậy, trong dài hạn, chi phí tiền lương trong khu vực công nghiệp không tăng, còn lợi nhuận vẫn tăng theo tỷ lệ tăng của tư bản. Tuy vậy, tiền lương tối thiểu của công nhân phụ thuộc vào giá lương thực và thực phẩm.
Khi giá lương thực, thực phẩm tăng lên vì chi phí sản xuất tăng thì tiền lương danh nghĩa phải trả cho công nhân cũng tăng, lợi nhuận không thể tiếp tục tăng theo tốc độ tăng của tư bản nữa. Bởi vậy khi cầu về lương thực và thực phẩm tiếp tục tăng theo sự gia tăng tích lũy tư bản và tăng dân số - lao động, thì cuối cùng giá lương thực, thực phẩm sẽ đạt tới mức mà ở đó tỷ suất lợi nhuận trở nên quá thấp và nhà tư bản không còn động cơ đầu tư, tăng trưởng kinh tế sẽ dừng lại. Để khắc phục tình trạng đó Ricardo đề xuất để đưa nền kinh tế nước Anh ra khỏi cái bẫy giới hạn tăng trưởng là tự do hóa nhập khẩu lương thực, thực phẩm. Mô hình Ricardo nêu rõ vấn đề mà các nước đang phát triển thường gặp phải khi tiến hành công nghiệp hóa trong tình trạng nền nông nghiệp còn trì trệ.
Nếu sự gia tăng dân số nhanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa không đi kèm với sự gia tăng cung lương thực, thực phẩm, thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng mạnh, đẩy chi phí sinh hoạt của người có thu nhập thấp tăng lên, điều này sẽ tạo ra áp lực tiền lương, đây sẽ là cú đánh mạnh vào ngành công nghiệp mới manh nha hình thành còn phụ thuộc vào công nghệ sử dụng nhiều lao động.