Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này sẽ trình bày các nhóm công trình nghiên cứu trước về phạm vi nghiên cứu của luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Các khái niệm; cơ sở lý thuyết gốc; mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chương này trình bày hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận về các nhân tố cấu thành nên lợi thế cạnh tranh bền vững và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời cũng đưa ra mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày nội dung cơ bản về thiết kế; quy trình nghiên cứu, giải thích các bước nghiên cứu; cũng thang đo và bảng hỏi, mẫu điều tra và cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày các kết quả phân tích dữ liệu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách. Trong chương này sẽ trình bày các thảo luận về kết quả nghiên cứu cũng như đưa ra các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời cũng trình bày những đóng góp và hạn chế của đề tài Phần kết luận: Tổng kết lại kết quả của nghiên cứu và các phụ lục, trích dẫn. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh bền vững và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh Tính chất của lợi thế cạnh tranh đã phát triển theo thời gian từ lợi thế so sánh (comparative) đến độc quyền (monopolistic) và khác biệt (differential). Teece và cộng sự (1997) đã xây dựng ba mô hình làm sáng tỏ vấn đề làm thế nào để các doanh nghiệp đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh. Mô hình đầu tiên về cách tiếp cận của áp lực cạnh tranh đã được phổ biến rộng rãi bởi Porter (1985) nhưng thực sự bắt nguồn từ mô hình cấu trúc – vận hành – kết quả hoạt động của ngành.
Mô hình thứ hai sử dụng các công cụ lý thuyết trò chơi và nhìn nhận kết quả cạnh tranh như là một chức năng giữ cân bằng trong đầu tư chiến lược, chiến lược giá cả, tín hiệu và kiểm soát thông tin (Teece & cộng sự, 1997). Cách tiếp cận thứ ba được gọi là quan điểm dựa vào nguồn lực. Nguồn lực của doanh nghiệp sẽ tạo ra kết quả hoạt động ở cấp độ doanh nghiệp cho chủ sở hữu. Trong nghiên cứu này đề cập đến cách tiếp cận thứ ba, doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh các nguồn lực thỏa mãn tiêu chí VRIN (Eisenhardt & Martin, 2000).
O’Shannassy (2008), Azeem & cộng sự (2021) cho rằng lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là việc doanh nghiệp đó có thể duy trì được một vị thế bền vững đối với các đối thủ trong cùng ngành hoặc là doanh nghiệp đó có thể triển khai một chiến lược tạo lập giá trị mà đối thủ cạnh tranh hiện tại hay trong tương lai gần không thực hiện hay bắt chước được. Quan điểm này khẳng định rằng nếu một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh sẽ đương nhiên mang lại cho doanh nghiệp kết quả hoạt động vượt trội nhưng điều ngược lại thì không phải lúc nào cũng đúng (Newbert, 2008; Yasa & cộng sự, 2020). Và như vậy, kết quả hoạt động của doanh nghiệp nên được xem như là kết quả của việc doanh nghiệp thực hiện các hoạt động tạo lập lợi thế cạnh tranh. Hay nói cách khác, lợi thế cạnh tranh chính là tiền tố của kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (O’Shannassy, 2008).
Từ những quan điểm nêu trên về lợi thế cạnh tranh, có thể thấy có những cách tiếp cận khác nhau về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp. Dù vậy, cốt lõi từ các định nghĩa trên cho thấy một doanh nghiệp khi sở hữu những nguồn lực nhất định mà từ đó có thể giúp doanh nghiệp xây dựng nên các chiến lược, các phương cách hoạt động hay các giá trị mà các đối thủ cạnh tranh trong ngành không thể hay rất khó để bắt chước để từ nền tảng đó tìm kiếm lợi thế trên thị trường tức là doanh nghiệp đó đã sở hữu những lợi thế cạnh tranh nhất định (Singh & cộng sự, 2019). 8 Trên góc độ về trách nhiệm xã hội, có nhiều nghiên cứu lại cho rằng lợi thế cạnh tranh của công ty có thể là các thuộc tính mang lại giá trị trực tiếp cho khách hàng, từ chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá cả, tính năng. cho tới các giá trị gián tiếp như quy trình sản xuất của doanh nghiệp đảm bảo hệ sinh thái, không làm hại môi trường (Gonzalez-Benito, 2005) hay hoặc đảm bảo sự phát triển bền vững của khách hàng trong thời gian trới (Ceglinski và cộng sự, 2017).
Lợi thế cạnh tranh có thể “tĩnh” (không thay đổi) theo thời gian (Chaharbaghi và Lynch, 1999); nhưng cũng có thể là “động” (là sự đổi mới trong môi trường kinh doanh đầy biến động và là điều kiện tiên quyết quyết định lợi thế cạnh tranh) (Burns, 2008, Miotto & cộng sự, 2020) và bao gồm cả các yếu tố cả bên trong và bên ngoài (Barney, 1991). Các học giả và nhà quản lý kinh doanh thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh như một bước chiến lược quan trọng trong việc tạo ra kết quả hoạt động vượt trội của công ty (Kaleka, 2017). Như vậy, có thể cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là các giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng – từ giá trị trực tiếp đến gián tiếp – khiến khách hàng mua hàng của doanh nghiệp thay vì mua hàng của đối thủ cạnh tranh. Trong lợi thế cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình hoặc các nguồn lực được tạo ra (như lợi thế về đất đai, địa điểm, nhân lực…) để tăng mức độ trải nghiệm của khách hàng.
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp lại tận dụng vị thế cạnh tranh về độc quyền hoặc về giá để tạo ra lợi thế cho riêng mình, và vì thế ảnh hưởng đến sự bình đẳng của các doanh nghiệp trong ngành (Teece và cộng sự, 1997; Bowonder và cộng sự, 2010). Điều này hình thành nên quan điểm lợi thế cạnh tranh bền vững. Tổng quan nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh bền vững Từ những năm 90 của thế kỷ 20, lợi thế cạnh tranh bền vững đã được các nhà nghiên cứu chiến lược xem như là một phương pháp tối ưu hoá thế mạnh của các doanh nghiệp trên thị trường & duy trì kết quả hoạt động trong thời gian dài. Định nghĩa & các nhân tố cấu thành lợi thế cạnh tranh bền vững ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới.
• Tổng quan về lợi thế cạnh tranh bền vững Khái niệm lợi thế cạnh tranh bền vững đã được thảo luận rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu trước đây. Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu điều tra các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi và tác động đến lợi thế cạnh tranh bền vững (SCA) của một công ty, chẳng hạn như trình độ trí tuệ (Hsu & Wang, 2012), đổi mới (Barrett & Sexton, 2006) hoặc năng lực năng động (Bow- man & Ambrosini, 2003; Easterby-Smith & Prieto, 2008; Macher 9 & Mowery, 2009; Pandza & Thorpe, 2009; Arsawan & cộng sự, 2022). Tuy nhiên, những nghiên cứu này hiếm khi đi sâu phân tích mức độ tác động cũng như thang đo cụ thể của từng nhân tố tác động lên lợi thế cạnh tranh bền vững. Ở một khía cạnh khác, Ma (2000) lại cho rằng “thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững là một thuật ngữ quan hệ”.
Nó thể hiện sự tương quan giữa các nhân tố tác động lên lợi thế cạnh tranh bền vững và lợi thế cạnh tranh xuất phát từ các nguồn lực chính của doanh nghiệp thì mới được gọi là bền vững (Tracey & cộng sự, 1999; Teece, 2016; Maury & cộng sự, 2018; Pei & cộng sự, 2020). • Tổng quan về yếu tố cấu thành của lợi thế cạnh tranh bền vững Wernerfelt (1984), Dierickx & Cool (1989); Mahoney & Pandian (1992); Amit & Schoemaker (1993) khi tiến hành những nghiên cứu về quản trị chiến lược đã nhận thấy khả năng & nguồn lực của công ty cho phép họ tạo ra tỷ suất lợi nhuận vượt trội & tích luỹ để tối ưu lợi nhuận so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường và đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững. Cùng bảo vệ quan điểm đó, trong nghiên cứu của mình Barney (1991) đề xuất ý kiến rằng các nhà quản trị chiến lược nên xác định và đưa ra chiến lược quản lý các tiềm năng của doanh nghiệp hiệu quả để duy trì lợi thế cạnh tranh khó sao chép và mang lại lợi nhuận siêu thường trong thời gian dài. Mặc dù, kết quả của các nghiên cứu khác nhau tuy nhiên, có thể thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp & khả năng đổi mới là các nhân tố được chứng minh có sự tác động đến lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu về quản trị chiến lược khác cũng đã ghi nhận sự đóng góp đáng kể của các nhóm nhân tố như: trách nhiệm xã hội (Javed & cộng sự, 2017; Rivera, Muñoz & Moneva, 2017; Pei & cộng sự, 2020), khả năng tài chính và đổi mới (Čater & Čater, 2009; Ling, 2013; Monteiro & cộng sự, 2017; Arsawan & cộng sự, 2022). Nghiên cứu thực nghiệm khảo sát tại nhiều doanh nghiệp cho thấy tồn tại sự khác nhau giữa các nhóm nhân tố cấu thành lợi thế cạnh tranh bền vững phụ thuộc mỗi khu vực kinh tế và thuộc từng nhóm ngành khác nhau được đưa vào nghiên cứu. Biện minh cho những lập luận trên, Penrose (1959); Barney (1991, 1994) chứng minh rằng sự khác biệt của các nhóm nhân tố tác động là sự không đồng nhất giữa khả năng và nguồn lực được tích luỹ tại các công ty. Nghiên cứu cũng khẳng định rằng việc thực hiện những chiến lược tập trung vào các nhóm nhân tố cấu thành sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị không trùng lặp, nổi trội hơn đối thủ trên cùng phân khúc thị trường và có khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh trong thời gian dài.