Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 92 29 013) của tác giả Nguyễn Văn Bảo, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2020), mang tiêu đề: "Kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định (Thanh Hóa) đến đầu thế kỷ XX".
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Trong lịch sử Việt Nam, làng xã giữ vai trò nền tảng trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Làng Cổ Định (thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) là một trong những làng cổ truyền thống tiêu biểu của người Việt, có dấu tích tụ cư từ thời đại văn hóa Đông Sơn (cách ngày nay 2500 - 2000 năm). Địa bàn này gắn liền với các sự kiện lịch sử trọng đại như căn cứ khởi nghĩa Bà Triệu năm 248, căn cứ chống quân Minh của nghĩa quân Nguyễn Chích (đầu thế kỷ XV), đồng thời là quê hương của nhiều danh nhân, nhà khoa bảng, sứ thần bang giao qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Trong bối cảnh hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới, làng quê đứng trước nguy cơ mai một các giá trị truyền thống. Mặc dù đã có các bài viết hoặc công trình khảo sát riêng lẻ về danh nhân hay di tích cục bộ, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về cả ba bình diện kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Cổ Định theo tiến trình lịch sử đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở khai thác triệt để các nguồn tư liệu Hán Nôm và khảo sát thực địa.
-
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những nét đặc trưng về kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XX; khẳng định đây là một làng cổ truyền thống của người Việt mang những nét đặc thù riêng so với các vùng quê khác ở xứ Thanh, tiêu biểu là truyền thống văn hiến, khoa bảng, bang giao và đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài, phân tích những nội dung tác giả được kế thừa và những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu; làm rõ những đặc điểm về mặt tự nhiên và quá trình hình thành làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XIX.
- Về hoạt động kinh tế: Phân tích, làm rõ đặc trưng kinh tế của làng Cổ Định trên các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp; qua đó thấy được sự kết hợp hài hòa giữa các ngành kinh tế.
- Về tổ chức xã hội: Nghiên cứu tổ chức quản lý làng xã, kết cấu và các hình thức tập hợp dân cư làng Cổ Định, chỉ ra những đặc điểm chung và nét riêng biệt so với làng xã ở vùng đồng bằng sông Mã.
- Về đời sống văn hóa: Làm rõ các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo qua sự hiện diện của các kiến trúc đình, đền, chùa; giáo dục, khoa cử; văn tự Hán Nôm và sáng tác dân gian.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định (Thanh Hóa) đến đầu thế kỷ XX (tập trung trình bày ở các chương 2, 3 và 4).
- Phạm vi không gian: Làng Cổ Định – một làng có đặc trưng “nhất xã nhất thôn” đến đầu thế kỷ XX, có địa giới hành chính tương đương một đơn vị cấp xã; có đối chiếu các biến đổi địa danh, địa giới hành chính của tổng Cổ Định và các huyện lân cận qua các thời kỳ.
- Phạm vi thời gian: Từ những phát hiện khảo cổ học đầu tiên về địa bàn cư trú của con người tại Cổ Định (thanh kiếm Núi Nưa có niên đại 2500 - 2000 năm cách ngày nay) đến đầu thế kỷ XX (trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930).
- Phạm vi nội dung: Khai thác có trọng tâm những đặc trưng kinh tế (sở hữu ruộng đất, nông - thủ công nghiệp, chợ quê), tổ chức xã hội (quản lý, kết cấu dân cư, dòng họ) và văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục khoa cử, di tích) dựa trên các nguồn tư liệu cụ thể thu thập được.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích dung lượng lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến làng xã Việt Nam, vùng đất Thanh Hóa và làng Cổ Định:
-
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các tác giả nước ngoài:
- Thời kỳ thế kỷ XVII - XVIII: Các tập ký sự, du ký của Alexandre de Rhodes (Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, 1651/1994), Jean Baptiste Tavernier (Tập du ký mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài, 2005), Dampier William (Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, 2011), John Barrow (Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793).
- Thời kỳ Pháp thuộc (nửa cuối TK XIX đến thập niên 40 TK XX): Các nghiên cứu về phong tục, tổ chức và kinh tế nông nghiệp của G. Dumoutier (Tiểu luận về người Bắc Kỳ, 1908), P. Ory (Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ, 1894), C. Briffaut (Thành bang An Nam, 1909), Yves Henry (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương, 1932), Paul Bernard (Vấn đề kinh tế Đông Dương, 1934), và công trình toàn diện của Pierre Gourou (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, 1936).
- Giai đoạn 1954 - 1986: Các công trình của Gerald C. Hickey (Village in Vietnam, 1964), James C. Scott (The Moral Economy of the Peasant, 1976), Samuel L. Popkin (The Rational Peasant, 1978), Neil Jamieson (The Traditional Village in Vietnam, 1980).
- Giai đoạn sau 1986 và các chương trình hợp tác quốc tế: Insun Yu (Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, 1994), John Kleinen (Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ, 2007 - nghiên cứu làng Tơ), công trình hợp tác Pháp - Việt do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên (Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ, 2002 - nghiên cứu 4 làng Tả Thanh Oai, Ninh Hiệp, Mộ Trạch, làng Hay), chương trình nghiên cứu Việt - Nhật do Yumio Sakurai khởi xướng về làng Bách Cốc (Nam Định, 1994 - 2008).
-
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các tác giả trong nước:
- Trước năm 1945: Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục, 1915), Qua Ninh và Vân Đình (Vấn đề dân cày, 1937), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương, 1938), Vũ Văn Hiền (Sở hữu công ở Bắc Kỳ..., 1939).
- Giai đoạn 1945 - 1975: Nguyễn Hồng Phong (Xã thôn Việt Nam, 1959), Phan Huy Lê (Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ, 1959), bộ sách Nếp cũ của Toan Ánh, Nhất Thanh (Phong tục làng xóm Việt Nam, 1968), Phan Khoang (Việt sử xứ Đàng Trong, 1970), Nguyễn Văn Hầu (1972), Sơn Nam (1973).
- Sau năm 1975: Công trình tập thể Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Viện Sử học, 2 tập: 1977, 1978); các công trình của Trần Từ (1984), Bùi Xuân Đính (1985, 1998, 2008), Diệp Đình Hoa (1990), Phan Đại Doãn (1994, 2001, 2004), Nguyễn Hải Kế (1996), Phan Huy Lê (1998, 1999), Đinh Khắc Thuân (2006).
- Các nghiên cứu chuyên đề và luận án về từng làng xã: Nghiên cứu ruộng đất của Vũ Huy Phúc (1979), Trương Hữu Quýnh (1982, 1983); làng buôn, chợ quê của Nguyễn Quang Ngọc (1993), Lê Thị Mai (2000); làng nghề của Bùi Văn Vượng (1998), Vũ Quốc Tuấn (2010); hương ước của Vũ Duy Mền (1993, 2001, 2010); phương pháp tiếp cận của Hà Văn Tấn (2009), Nguyễn Quang Ngọc (2012). Các luận án tiến sĩ nghiên cứu trường hợp: Nguyễn Hồng Dương (1995 - Làng Lưu Phương), Bùi Thị Tân (Làng Câu Hoan), Vũ Văn Quân (2002 - Làng xã Thanh Trì), Nguyễn Thế Hoàn (2003 - Quảng Bình), Phạm Văn Hiệp (2004 - Làng Cúc Bồ), Phan Chí Thành (2006 - Thạch Thất), Ngô Văn Cường (2016 - Làng Vân), Đinh Văn Viễn (2019 - Làng Côi Trì).
-
Nghiên cứu về Thanh Hóa và làng Cổ Định:
- Tác giả nước ngoài viết về Thanh Hóa: H. Le Breton (La Province de Thanh Hoa, 1918), Charles Robequain (Le Thanh Hoa, 1929), các bài viết về kinh tế nông nghiệp của M. Gilbert (1910), Cucherousset (1932), Petavin.
- Tác giả trong nước viết về Thanh Hóa: Vương Duy Trinh (Thanh Hóa quan phong, 1973); bộ sách Lịch sử Thanh Hóa (5 tập, 1990 - 2008); Địa chí Thanh Hóa (4 tập, 2000 - 2014); Hương ước Thanh Hóa (2000); Tên làng xã Thanh Hóa (2000); các công trình của Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn (1969), Hoàng Anh Nhân (1996, 2006), Lê Huy Trâm (1994, 2001), Hà Mạnh Khoa (2002, 2006); các luận văn, luận án của Trịnh Thị Thủy (2002), Nguyễn Thị Thúy (2008), Phạm Văn Tuấn (2008), Mai Phương Ngọc (2014).
- Nghiên cứu về huyện Nông Cống, Triệu Sơn và trực tiếp về Cổ Định: Nguyễn Trinh Vực (Tư liệu Địa lý Nông Cống, 1949), Địa chí Nông Cống (1998), Địa chí huyện Triệu Sơn (2010), Danh nhân Triệu Sơn tập 2 (1993). Các công trình về Cổ Định gồm: Kỷ yếu tọa đàm Danh nhân Thanh Hóa Lê Bật Tứ (1997), Lê Bật Xuân (Cổ Định đất và người, 2008), Phạm Tấn và Phạm Tuấn (Thắng cảnh Ngàn Nưa với Đền Nưa và Am Tiên cổ tích, 2011/2017), Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Tân Ninh (2017), Lê Đình Cảnh chủ biên (Cổ Định - Tân Ninh làng quê văn hiến, 2017), Đỗ Thị Thu (Lịch sử văn hóa Cổ Định - Kẻ Nưa..., Luận văn Thạc sĩ, 2009), Đinh Xuân Lâm (Kẻ Nưa - Nông Cống... đất phát tích của dòng họ Doãn..., 2012), các thông báo khảo cổ học của Trình Năng Chung, Lê Thị Sáu (2013), Hoàng Thị Vân, Trần Thị Xuân (2014).
-
Khoảng trống luận án giải quyết:
Các công trình về làng Cổ Định trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết kỷ yếu, sách địa chí tản mạn, tập trung vào một nhân vật (Lê Bật Tứ), một di tích (Núi Nưa - Am Tiên) hoặc mang tính khái quát lịch sử đảng bộ. Luận án này là công trình đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, có căn cứ khoa học và logic lịch sử về bức tranh kinh tế (đặc biệt là định lượng hóa tư liệu Địa bạ 1834), tổ chức xã hội (thiết chế quản lý, quan hệ dòng họ) và đời sống văn hóa của làng Cổ Định từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Cơ sở phương pháp luận:
Luận án lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng phương pháp luận để nhận thức đối tượng nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện trong mối quan hệ đa chiều giữa kinh tế, thiết chế xã hội và đời sống văn hóa tinh thần.
-
Khung phân tích và phương pháp tiếp cận:
- Luận án tiếp cận làng Cổ Định như một nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) của làng cổ vùng đồng bằng trung du Bắc Trung Bộ.
- Vận dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, xem làng xã là một chỉnh thể hoàn chỉnh gồm ba phân hệ cấu thành: kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp), xã hội (thiết chế quản lý, kết cấu dân cư, dòng họ) và văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo, khoa cử, văn học, di tích).
-
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Tái hiện quá trình hình thành, phát triển và những biến đổi của làng xã theo tiến trình thời gian, từ đó rút ra các nhận định khoa học.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đặt làng Cổ Định trong mối tương quan so sánh với các làng xã khác cùng tổng Cổ Định, vùng đồng bằng sông Mã và đồng bằng Bắc Bộ (như Bách Cốc, Mộ Trạch, Côi Trì...).
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức và kỹ thuật của Sử học, Văn hóa học, Kinh tế học, Dân tộc học, Địa lý học lịch sử, Khảo cổ học và Văn bản học Hán Nôm.
- Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát di tích kiến trúc, sưu tầm văn bia, gia phả, thần tích, sắc phong; kết hợp phương pháp hồi cố và phỏng vấn sâu các cụ cao niên tại địa phương.
-
Nguồn tư liệu thực hiện luận án:
- Chính sử và thư tịch cổ: Đại Việt sử lược, Dư địa chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án, Lịch triều tạp kỷ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Lịch triều hiến chương loại chí, Quốc sử di biên, Quốc triều chính biên toát yếu; các bộ địa dư chí (Hoàng Việt nhất thống địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Đại Việt địa dư toàn biên, Bắc Thành địa dư chí lược) và các bản đồ cổ (Hồng Đức bản đồ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, bản đồ thời Nguyễn).
- Tài liệu lưu trữ: Đăng khoa lục Thanh Hóa (Thu tỉ đề danh ký, 1875 - 1876), Quốc triều hương khoa lục (Cao Xuân Dục), Thanh Hóa tỉnh địa dư chí, Thanh Hóa quan phong, Thanh Hóa kỷ thắng; đặc biệt là văn bản Địa bạ xã Cổ Định lập năm Minh Mệnh thứ 15 (1834, 62 trang, ký hiệu số 13965 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I) và địa bạ các xã lân cận trong tổng Cổ Định.
- Tư liệu Hán Nôm, di tích và điền dã: Hệ thống văn bia, thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối tại 2 di tích cấp Quốc gia và 5 di tích cấp Tỉnh; gia phả các dòng họ lớn (Lê Đình, Lê Bật, Doãn, Lê Sĩ, Lê Đăng); bộ sưu tập hiện vật đá và 30 tiêu bản đồ đồng văn hóa Đông Sơn tại Núi Nưa (rìu, giáo, dao găm, thạp, chuông, thanh kiếm ngắn Núi Nưa); các truyền thuyết dân gian, ca dao, vè cổ truyền.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về làng xã truyền thống Việt Nam nói chung, vùng đất Thanh Hóa và làng Cổ Định nói riêng. Tác giả phân tích các hướng tiếp cận chính: khảo cứu hình thái kinh tế - sở hữu ruộng đất, thiết chế quản lý làng xã - hương ước, nhân học làng xã và các dự án khảo cứu liên ngành. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ các luận điểm kế thừa về mặt phương pháp luận, đồng thời vạch ra các khoảng trống tri thức về lịch sử hình thành, cơ cấu sở hữu điền thổ qua địa bạ, vai trò của các dòng họ khoa bảng và diện mạo văn hóa làng Cổ Định cần được giải quyết ở các chương tiếp theo.
Chương 2: Quá trình thành lập làng và hoạt động kinh tế
-
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Làng Cổ Định nằm ven chân dãy Núi Nưa – dải núi cổ bắt nguồn từ Tây Hiếu (Nghệ An) qua Như Xuân, có đỉnh cao nhất nằm trên địa phận Cổ Định. Hệ thống thủy văn gồm sông Lãng Giang (sông Cầu Quan), sông Hón (dài 3km), kênh Nam (thuộc hệ thống nông giang Bái Thượng) và hệ thống khe mau tự nhiên (Khe Ba Động, Mau Bãi Tráng, Mau Sở, Mau Đan Lồ) đóng vai trò tiêu thoát lũ mùa mưa và cấp nước mùa khô. Khí hậu mang tính chất trung du bán sơn địa, nhiệt độ trung bình năm 24,3°C, lượng mưa trung bình 1.900 - 2.200mm (tập trung 85% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10).
-
Quá trình lập làng và diễn cách địa danh, địa giới hành chính:
- Chạ Kẻ Nứa: Địa bàn cư trú sơ khai thời các vua Hùng. Khảo cổ học phát hiện 30 tiêu bản đồ đồng Đông Sơn (công cụ sản xuất, vũ khí, đồ sinh hoạt, nhạc khí, đồ trang sức) và thanh kiếm ngắn Núi Nưa (phát hiện năm 1961, niên đại 2500 - 2000 năm cách ngày nay, Bảo vật Quốc gia).
- Giáp Cá Na: Thời kỳ tự chủ sau cuộc cải cách hành chính của Khúc Thừa Dụ (năm 905) đổi hương thành giáp.
- Hương Cổ Na: Thời Trần (năm 1297) đổi giáp thành hương. Đầu thế kỷ XV, làng là căn cứ hỗ trợ cuộc khởi nghĩa Nguyễn Chích; bị tướng Minh là Trương Phụ tàn sát khiến dân số từ hơn 3.000 người chỉ còn sống sót 13 hoặc 18 người ("Tam thiên dư nhân... Tồn thập tam nhân/Tồn thập bát nhân"). Những người sống sót gồm Doãn Nỗ và Lê Lôi đã gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn, trở thành Khai quốc công thần triều Lê sơ.
- Xã Cổ Ninh: Tên gọi dưới triều Lê sơ sau năm 1428.
- Xã Cổ Định: Đổi tên năm 1533 dưới thời Lê Trang Tông (Lê Duy Ninh) do kỵ húy tên vua. Thời Nguyễn thuộc tổng Cổ Định (gồm 38 xã, thôn, ấp, tộc, sở).
- Xã Tân Ninh: Sau năm 1945, làng Cổ Định hợp nhất với làng Tuy Yên thành xã Tân Ninh, trải qua các giai đoạn sáp nhập thành xã Ninh Hòa (1947), tái lập Tân Ninh (1953) và chuyển từ huyện Nông Cống sang huyện Triệu Sơn (1965). Không gian làng truyền thống chia thành 5 làng nhỏ (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu), nay tương ứng với 10 thôn.
-
Hoạt động kinh tế và sở hữu ruộng đất:
Căn cứ Địa bạ xã Cổ Định năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), tổng diện tích công tư điền thổ của làng là 742 mẫu 2 sào 2 thước 1 tấc. Cơ cấu sở hữu: tư điền chiếm 80,7%, công điền chiếm 19,3%.
| STT |
Xã |
Tổng diện tích công tư điền thổ (Mẫu.sào.thước.tấc) |
Công điền (Mẫu.sào.thước.tấc) |
Tư điền (Mẫu.sào.thước.tấc) |
Tỷ lệ Công điền (%) |
Tỷ lệ Tư điền (%) |
| 1 |
Cổ Định |
742.2.2.1 |
143.4.0.4 |
598.8.1.7 |
19,3% |
80,7% |
| 2 |
An Định |
180.8.2.8 |
16.6.1.4 |
164.2.1.4 |
9,2% |
90,8% |
| 3 |
Cổ Đôi |
101.4.1.2 |
3.0.0.8 |
98.4.0.4 |
2,9% |
97,1% |
| 4 |
Tuy An |
240.2.1.8 |
10.0.1.2 |
230.2.0.6 |
4,2% |
95,8% |
So với các xã lân cận, quy mô ruộng đất của Cổ Định lớn gấp 4,1 lần An Định, 7,3 lần Cổ Đôi, 3,1 lần Tuy An. Tỷ lệ công điền (19,3%) cao vượt trội so với các làng xã đồng bằng Bắc Bộ (như Mộ Trạch 0,3%) do điều kiện khai hoang đất bãi chân núi và quy định nghiêm ngặt của hương ước bảo vệ công điền phục vụ tế tự, sinh hoạt công cộng. Bên cạnh nông nghiệp trồng lúa nước 2 vụ và hoa màu, làng còn phát triển nghề thủ công (khai thác nứa, nghề mộc, rèn, đan lát) và mạng lưới thương nghiệp qua chợ Nưa và giao thông đường thủy sông Lãng Giang.
Chương 3: Tổ chức xã hội
- Thiết chế quản lý làng xã: Bộ máy quản lý làng xã vận hành theo cơ chế tự quản; hương ước làng Cổ Định đóng vai trò chuẩn mực pháp lý và đạo đức, quy định chi tiết về quản lý công điền, an ninh trật tự, tuần phòng và nghi thức tế lễ.
- Kết cấu dân cư: Phân tầng xã hội gồm ba nhóm chính: tầng lớp kẻ sĩ (nho sinh, quan lại, trí thức giữ vị trí trọng vọng); tầng lớp nông dân (lực lượng lao động nông nghiệp chủ đạo); tầng lớp thợ thủ công và người buôn bán nhỏ.
- Hình thức tổ chức dân cư: Tổ chức theo giáp, xóm, thôn và cấu trúc liên kết 5 làng nội bộ (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu).
- Tổ chức gia đình và dòng họ: Gia đình duy trì theo mô hình phụ hệ truyền thống. Các dòng họ lớn tại Cổ Định (Lê Đình, Lê Bật, Doãn, Lê Sĩ, Lê Đăng...) có vai trò chi phối sâu sắc đến đời sống làng xã. Dòng họ không chỉ quản lý nhà thờ họ, khuyến học, duy trì gia phả mà còn gắn bó chặt chẽ với hoạt động sinh hoạt tại các ngôi đình và quản lý ruộng đất hương hỏa.
Chương 4: Đời sống văn hóa
- Tín ngưỡng và tôn giáo: Duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong các gia đình, dòng họ; tín ngưỡng thờ Thành hoàng tại hệ thống đình làng; sinh hoạt Phật giáo tại chùa Hoài Cảm (chùa Hoa Cải, khởi dựng từ thế kỷ XVII).
- Giáo dục khoa cử Nho học: Cổ Định là đất khoa bảng nổi tiếng xứ Thanh. Tư liệu Đăng khoa lục Thanh Hóa và Quốc triều hương khoa lục ghi nhận nhiều danh nhân đỗ đại khoa, trung khoa và tiểu khoa; nhiều vị giữ trọng trách lớn trong triều đình và được cử làm Chánh sứ đi sứ phương Bắc như Hoàng giáp Lê Bật Tứ, các danh nhân dòng họ Doãn (Doãn Tử Tư, Doãn Anh Khái, Doãn Bang Hiến).
- Văn tự Hán Nôm và sáng tác dân gian: Bảo lưu khối lượng lớn văn tự Hán Nôm gồm văn bia, sắc phong, thần tích, hoành phi, câu đối. Sáng tác dân gian phong phú với các truyền thuyết gắn với địa danh (Tu Nưa đấu Tu Vồm, núi Quảy sông Cày, truyền thuyết về Bà Triệu) cùng hệ thống ca dao, vè phản ánh lịch sử và đời sống sản xuất.
- Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu: Di tích quốc gia Núi Nưa - Đền Nưa - Am Tiên (gắn với khởi nghĩa Bà Triệu năm 248); Đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ; Đền thờ Lê tộc công thần (Lê Lôi); Đền thờ Tào Sơn hầu; Đền thờ Luật quốc công Lê Thân; Nhà thờ họ Lê Sĩ; Nghè Giáp.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về một làng cổ tiêu biểu ở vùng chuyển tiếp đồng bằng - trung du Thanh Hóa từ thời tiền sử đến đầu thế kỷ XX.
- Góp phần củng cố lý luận, phương pháp tiếp cận trường hợp (case study) và nhận thức về mối quan hệ giữa nhà nước quân chủ - làng xã - dòng họ trong cấu trúc làng Việt truyền thống.
- Làm sáng tỏ tính đa dạng và tính thống nhất của làng xã Việt Nam cổ truyền thông qua mô hình làng "nhất xã nhất thôn" kết hợp đa dạng sinh kế (nông - thủ công - thương).
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và sử liệu:
- Khai thác, giải mã và xử lý có hệ thống các nguồn tư liệu gốc Hán Nôm (đặc biệt là bản Địa bạ xã Cổ Định năm 1834, các văn bia, thần tích, sắc phong và gia phả các dòng họ), cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác về quy mô ruộng đất và phân tầng xã hội.
- Phục dựng và xác lập diễn trình 7 lần thay đổi tên gọi hành chính của làng: Chạ Kẻ Nứa $\rightarrow$ Giáp Cá Na $\rightarrow$ Hương Cổ Na $\rightarrow$ Xã Cổ Ninh $\rightarrow$ Xã Cổ Định $\rightarrow$ Xã Tân Ninh (Ninh Hòa) $\rightarrow$ Xã Tân Ninh.
- Đính chính và làm rõ các tồn nghi lịch sử địa phương về nhân vật thờ tại Nghè Giáp, tên gọi và lịch sử chùa Hoa Cải (Hoài Cảm), đóng góp của các nhân vật lịch sử thời Lê sơ và Lê Trung hưng (Lê Lôi, Doãn Nỗ, Lê Bật Tứ).
-
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị quần thể di tích lịch sử - danh thắng Núi Nưa, Đền Nưa và Am Tiên gắn với phát triển du lịch văn hóa, tâm linh.
- Đề xuất khai thác các giá trị di sản văn hóa truyền thống (truyền thống hiếu học, khuyến tài, tính tự quản, tình làng nghĩa xóm) phục vụ công tác xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới và giáo dục lịch sử địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tư liệu thành văn về làng xã thời kỳ cổ - trung đại phân tán và không đồng đều qua các thế kỷ. Các dữ liệu định lượng về sở hữu ruộng đất và dân số tập trung chủ yếu vào thời Nguyễn (qua tư liệu địa bạ năm 1834), trong khi các giai đoạn trước đó phụ thuộc vào hồi cố, gia phả và truyền thuyết dân gian đã qua đối chiếu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án dừng lại ở mốc đầu thế kỷ XX (trước năm 1930). Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu những biến đổi kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Cổ Định trong giai đoạn cách mạng 1930 - 1945, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các ngành Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học nông thôn, Địa lý lịch sử.
- Cơ quan quản lý văn hóa, Ban quản lý di tích, chính quyền địa phương tỉnh Thanh Hóa, huyện Triệu Sơn và xã Tân Ninh trong công tác bảo tồn di sản và hoạch định chính sách nông thôn.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phương pháp phân tích, xử lý định lượng tư liệu Địa bạ thời Nguyễn (năm 1834) trong nghiên cứu kinh tế làng xã (Chương 2).
- Phương pháp phục dựng diễn cách địa danh và địa giới hành chính làng xã qua nguồn tư liệu khảo cổ học và văn bản Hán Nôm (Chương 2).
- Nghiên cứu trường hợp về vai trò của dòng họ và truyền thống khoa bảng - bang giao trong tổ chức xã hội và văn hóa làng truyền thống (Chương 3 và Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Làng Cổ Định đã trải qua những lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính nào trong lịch sử?
Trả lời: Làng Cổ Định trải qua quá trình biến đổi tên gọi gắn liền với các thời kỳ lịch sử: thời Hùng Vương có tên là Chạ Kẻ Nứa; thời tự chủ đầu thế kỷ X đổi thành Giáp Cá Na; thời Trần (1297) đổi thành hương Cổ Na; thời Lê sơ (1428) đổi thành xã Cổ Ninh; thời Lê Trung hưng (1533) đổi thành xã Cổ Định do kỵ húy vua Lê Trang Tông (Lê Duy Ninh); sau năm 1945 sáp nhập với làng Tuy Yên thành xã Tân Ninh, rồi nhập thành xã Ninh Hòa (1947), tái lập xã Tân Ninh (1953) thuộc huyện Nông Cống, đến năm 1965 chuyển về huyện Triệu Sơn.
2. Bằng chứng khảo cổ học nào minh chứng làng Cổ Định là địa bàn cư trú sớm từ thời Hùng Vương?
Trả lời: Khảo cổ học tại vùng Núi Nưa (Cổ Định) đã phát hiện nhiều hiện vật đá và 30 tiêu bản đồ đồng thuộc văn hóa Đông Sơn niên đại 2500 - 2000 năm cách ngày nay, gồm công cụ sản xuất (lưỡi cày, rìu xéo, rìu xòe, đục), vũ khí (giáo, dao găm, mũi lao), đồ sinh hoạt (thạp đồng, bát đồng), nhạc khí (chuông nhỏ) và đồ trang sức. Đặc biệt năm 1961, người dân phát hiện tại chân Núi Nưa thanh kiếm ngắn bằng đồng (dài 46,5cm, nặng 620g, chuôi tạc hình phụ nữ) thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn, nay là Bảo vật Quốc gia.
3. Cơ cấu sở hữu ruộng đất của làng Cổ Định trong Địa bạ năm 1834 có đặc điểm gì nổi bật?
Trả lời: Theo Địa bạ năm 1834, làng Cổ Định có tổng diện tích công tư điền thổ là 742 mẫu 2 sào 2 thước 1 tấc (lớn nhất tổng Cổ Định). Trong đó, tư điền chiếm 80,7% (598 mẫu 8 sào 1 thước 7 tấc) và công điền chiếm 19,3% (143 mẫu 4 sào 0 thước 4 tấc). Tỷ lệ công điền 19,3% của Cổ Định cao hơn hẳn các xã lân cận và cao hơn nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ nhờ diện tích đất bãi khai hoang ven núi và chính sách giữ ruộng công của làng.
4. Biến cố lịch sử đầu thế kỷ XV dưới ách đô hộ của nhà Minh đã tác động như thế nào đến dân cư Cổ Định?
Trả lời: Do hương Cổ Na là địa bàn cung cấp sức người, sức của cho cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Chích ở căn cứ Hoàng Sơn, tướng Minh Trương Phụ đã tiến hành tàn sát dân làng. Từ hơn 3.000 người, làng chỉ còn sống sót 13 hoặc 18 người ("Tam thiên dư nhân... Tồn thập tam nhân/Tồn thập bát nhân"). Những người sống sót gồm Doãn Nỗ và Lê Lôi đã tìm đến Lam Sơn gia nhập nghĩa quân Lê Lợi và trở thành các Khai quốc công thần triều Lê sơ.
5. Truyền thống khoa cử và bang giao của làng Cổ Định được thể hiện qua các nhân vật lịch sử tiêu biểu nào?
Trả lời: Cổ Định nổi tiếng với truyền thống hiếu học và ngoại giao. Làng có nhiều vị đỗ đại khoa, trung khoa được ghi chép trong Đăng khoa lục Thanh Hóa và Quốc triều hương khoa lục. Về bang giao, làng có các danh nhân được triều đình cử làm Chánh sứ đi sứ phương Bắc gồm Doãn Tử Tư (thời Lý), Doãn Anh Khái, Doãn Bang Hiến (thời Trần) và Hoàng giáp Lê Bật Tứ (thời Lê Trung hưng).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Văn Bảo là một công trình nghiên cứu sử học chuyên sâu, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống bức tranh kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Cổ Định từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XX. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu liên ngành, khảo sát thực địa và phân tích định lượng nguồn tư liệu Hán Nôm (đặc biệt là Địa bạ năm 1834), tác giả đã làm sáng tỏ quá trình tụ cư lâu đời, cơ cấu ruộng đất và truyền thống khoa bảng, bang giao, chống ngoại xâm của một làng cổ tiêu biểu xứ Thanh. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có độ tin cậy cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu làng xã học, biên soạn địa chí địa phương và định hướng bảo tồn di sản văn hóa trong xây dựng nông thôn mới hiện nay.