Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án Chương 2: Quá trình thành lập làng và hoạt động kinh tế Chương 3: Tổ chức xã hội Chương 4: Đời sống văn hóa 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu về làng xã Việt Nam 1. Các công trình của tác giả nước ngoài Đến nay, các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các tác giả nước ngoài đã được công bố có thể kể đến như: Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài (1994) của Alecxandre de Rhodes, Tập du ký mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài (2005) của Jean Baptiste Tavernier, Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 (Nxb Thế giới, tái bản, 2011) của tác giả Dampier William, Một chuyến du hành đến đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), của J. Barrow,… Đây là những công trình chủ yếu ghi chép theo dạng ký sự của các học giả nước ngoài về vùng đất Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII, trên các lĩnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đương thời.
Do vậy, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của làng xã Việt Nam và chưa phản ánh được những nét đặc trưng cụ thể hay nghiên cứu về một làng xã cụ thể. Từ nửa cuối thế kỷ XIX đến thập niên 40 của thế kỷ XX, Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Để phục vụ cho công cuộc thực dân hóa, chính quyền đô hộ đã cho triển khai nghiên cứu về các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), trong đó có một số công trình của các học giả Pháp đã được xuất bản như: Tiểu luận về người Bắc Kỳ (1908) của Domautier. Trong công trình này tác giả cho biết đến năm 1724 hầu hết các nghề thủ công đã xuất hiện ở Việt Nam, cùng với đó tác giả đi sâu vào khảo tả về đời sống, phong tục, tập quán của người nông dân Bắc Kỳ.
Công trình Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ (1894) của P.Ory, Thành bang An Nam (1909) của C.Briffaut, Economie agricole de L’Indochine (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương, Hà Nội 1832) của Y.Henry, Le problème escomomique Indochinois (Vấn đề kinh tế Đông Dương, Paris, 1934) của Paul Bernard,. được nghiên cứu chủ yếu về lĩnh vực nông nhiệp như: sở hữu ruộng đất, cây trồng và vấn đề lao động phục vụ trong ngành nông nghiệp. Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu của người Pháp về đời sống kinh tế của người nông dân đầu thế kỷ XX là, Les Payns du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Paris, 1936) tác giả Pierre Gourou (Nguyễn Khắc Đạm, Đào Hùng, Nguyễn Hoàng Oanh dịch, xuất bản năm 2007), nghiên cứu một cách toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội của người nông dân vùng đồng bằng châu thổ sông 10 Hồng. Các vấn đề được tác giả đặt ra cụ thể khi nghiên cứu về làng xã và đời sống nhân dân như: điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành làng xã, nhà cửa, dân số, hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp.
Đây có thể xem là công trình tiêu biểu của người Pháp nghiên cứu về đời sống người nông dân. Với phương pháp, cách tiếp cận mới, tác giả giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân châu thổ Bắc Kỳ. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làng xã Việt Nam ít được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, nhưng vẫn có một số công trình tiêu biểu như: Hickey. C: Village in Vietnam (Làng ở Việt Nam), Newhaven Yale University Press, 1964.
Từ sau khi đất nước thống nhất năm 1975 đến năm 1986, một số công trình về làng xã của nước ngoài có thể kể đến như: James C.Cott: The Moral Economy of Peasant (Nền kinh tế đạo đức của nông dân), Newhaven Yale University Press, 1976; Samuel L.Popkin: The Rational Peasan (Nông dân hợp lý) The Political Economy of Rural Society in Việt Nam, University of California, Press, 1978; Neil Jamieson: The tradition Village in Vietnam (Làng truyền thống Việt Nam), Vietnam Forum 1980. Từ sau năm 1986 nhiều công trình nghiên cứu và chương trình hợp tác nghiên cứu giữa người Việt và các học giả nước ngoài về làng xã Việt Nam có thể kể đến như: Công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII (1994) của Insun Yu, nghiên cứu về cấu trúc làng xã truyền thống của người Việt, trong đó tác giả tập trung giải quyết các mối quan hệ trong làng xã như: quan hệ gia đình, dòng họ và làng xã. Một vấn đề được tác giả quan tâm là mối quan hệ giữa “phép nước” với “lệ làng”, từ đó lý giải tại sao trong làng xã luôn coi trọng lệ làng mà dân gian vẫn thường gọi “phép vua thua lệ làng”. Công trình đã khai thác được nhiều nguồn tư liệu phong phú từ hương ước, văn bia, do vậy có giá trị tham khảo khi nghiên cứu về làng xã Việt Nam.
Công trình Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ (2007) của John Kleinen, trước khi thực hiện nghiên cứu này tác giả đã nhiều lần đến tìm hiểu những ngôi làng ở Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến năm 1991, cuối cùng ông chọn làng Tơ một ngôi làng thuần nông nghiệp ở Bắc Bộ để nghiên cứu. Bằng phương pháp khảo tả nhân học trên thực địa, tác giả đã nhận diện rõ những yếu tố khả biến và những yếu tố bất biến trong đời sống làng xã. Những yếu tố bất biến đó có những lúc chìm đi nhưng không bao giờ mất hẳn, mà luôn chờ cơ hội để nổi lên 11 chiếm giữ vai trò chủ đạo, J. Kleinen đã hướng nghiên cứu của mình vào mối quan hệ thân tộc và vai trò của các dòng họ đối với sự thành đạt cá nhân, đời sống tinh thần và nghi lễ, tính tự trị và tính cố kết của làng,… Từ nghiên cứu trên, tác giả đặt làng xã Việt Nam trong bối cảnh hiện tại trước những thách thức mới về sự biến đổi trong tương lai, qua đó có những gợi ý cho việc xây dựng các chính sách phù hợp với đời sống làng xã trong giai đoạn hiện nay.
Chương trình hợp tác nghiên cứu của người Việt với các học giả - tổ chức nước ngoài có thể kể đến như: Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) do tác giả Philippe Papin và Oliver Tessier (cb), đây là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Pháp và Việt Nam về Nghiên cứu làng xã Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng được tiến hành trong thời gian từ năm 1996 đến năm 1999. Công trình được nhóm tác giả lựa chọn 4 làng gồm: Tả Thanh Oai, Ninh Hiệp (thuộc Hà Nội), Mộ Trạch (Hải Dương) và làng Hay (Phú Thọ), nghiên cứu làng xã trên các phương diện như: cảnh quan, tình hình quản lý và sở hữu ruộng đất, cơ cấu kinh tế, kết cấu gia đình, dòng họ, các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng,… từ đó giúp cho người đọc có một cái nhìn đối sánh về những đặc trưng kinh tế, xã hội, văn hóa với các làng xã khác, đồng thời gợi mở thêm cho hướng nghiên cứu mới về làng xã Việt Nam. Chương trình nghiên cứu Việt - Nhật giữa Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa của Đại học Quốc gia Hà Nội với các học giả Nhật Bản, theo sáng kiến của GS.Yumio Sakurai (Đại học Tokyo, Nhật Bản), đã chọn làng Bách Cốc1 ở vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng. Nội dung nghiên cứu một cách tổng thể các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của làng để từ đó đưa ra một cấu trúc mô hình làng, đơn vị hành chính nhỏ nhất nhưng lại có vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt.
Dự án kéo dài suốt 14 năm (từ 1994 đến 2008), thu hút 176 nhà khoa học từ 17 trường đại học của Nhật Bản cùng nhiều nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam trên các lĩnh vực Sử học, Dân tộc học, Văn hóa học, Tâm lý học, Xã hội học, Khảo cổ học, Địa lý, Môi trường,. Trong quá trình khảo sát, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều tài liệu, dấu vết của các giai đoạn lịch sử từ thời Hùng Vương đến các triều đại phong kiến Việt Nam cùng hệ thống các di vật phong phú, các loại hình di sản văn hoá độc đáo như: Lăng mộ, văn bia, trống đồng, 1 Làng Bách Cốc, nay thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. 12 đồ đá, các đạo sắc phong, thần tích, thần sắc, gia phả. Kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng 10 tập tư liệu dày dặn và đăng công bố bằng tiếng Nhật.
Đây là một xu thế nghiên cứu mới với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành, qua đó nhận thức đầy đủ hơn về làng Việt cổ truyền. Các công trình của tác giả trong nước Đây là mảng đề tài đã và đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, qua các thời kỳ nhiều công trình đã được xuất bản như: Trước năm 1945 công trình Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính đã có những nghiên cứu chung nhất về làng xã, sinh hoạt đời sống văn hóa, phong tục, tập quán của làng Việt; công trình Vấn đề dân cày (1937) của Qua Ninh, Vân Đình, lại trình bày một cách khái quát về sở hữu ruộng đất, thuế khóa và đời sống của nhân dân trong các làng xã. Giai đoạn này còn có các công trình: Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh; Sở hữu công ở Bắc Kỳ, góp phần nghiên cứu lịch sử pháp luật và kinh tế công điền công thổ nước An Nam (1939) của Vũ Văn Hiền,. làng xã bắt đầu trở thành đề tài nghiên cứu sôi nổi, trên nhiều lĩnh vực khác nhau về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.
Sau năm 1945, có nhiều công trình nhiên cứu về làng xã Việt Nam tiếp tục được công bố như: Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong, Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (1959) của Phan Huy Lê, Kinh tế Việt Nam 1945 - 1960 (1960), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam (1960), là hai công trình của Viện kinh tế học. Bộ công trình của tác giả Toan Ánh viết vào những năm 60 của thế kỷ XX gồm 6 cuốn: Nếp cũ: Tín ngưỡng Việt Nam (hai quyển thượng, hạ), Hội hè đình đám (hai quyển thượng, hạ), Con người Việt Nam, Làng xóm Việt Nam và Phong tục Việt Nam (tục thờ cúng tổ tiên). Tiếp đến là các công trình Phong tục làng xóm Việt Nam (đất lề quê thói) (1968), của Nhất Thanh, Phong tục làng xóm Việt Nam (tái bản 2005), của Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu,.