Luận án tiến sĩ: Kinh tế biển tỉnh Khánh Hòa trong hội nhập quốc tế - Bùi Thị Hảo

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nghiên cứu tập trung vào các ngành kinh

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

184
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế

Kinh tế biển đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế tỉnh Khánh Hoà. Tỉnh sở hữu đường bờ biển dài 385 km, vùng biển rộng với nhiều đảo lớn nhỏ. Khánh Hoà có cảng Cam Ranh, cảng Nha Trang là cửa ngõ giao thương quan trọng. Các ngành kinh tế biển bao gồm đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch biển, vận tải biển và khai thác dầu khí. Hội nhập quốc tế tạo ra cơ hội lớn cho kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà. Tham gia WTO, ASEAN và các hiệp định thương mại tự do mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các dự án hạ tầng cảng biển, khu công nghiệp ven biển. Công nghệ quản lý hiện đại được chuyển giao từ các đối tác quốc tế. Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt ra thách thức cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia có ngành thuỷ sản phát triển. Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích tổng thể thực trạng kinh tế biển Khánh Hoà trong bối cảnh hội nhập quốc tế giai đoạn 2005-2015.

1.1. Vị trí địa lý và tiềm năng kinh tế biển Khánh Hoà

Tỉnh Khánh Hoà nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý chiến lược. Đường bờ biển dài 385 km với nhiều vịnh, đầm phá tự nhiên. Vịnh Cam Ranh là một trong những cảng nước sâu tốt nhất thế giới. Khánh Hoà sở hữu vùng biển rộng lớn với đa dạng sinh học cao. Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền tỉnh có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế và quốc phòng. Nguồn lợi thuỷ sản phong phú với nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển du lịch biển, nghỉ dưỡng. Vịnh Nha Trang được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới.

1.2. Bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động đến kinh tế biển

Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 đánh dấu bước ngoặt hội nhập kinh tế. Tham gia ASEAN, APEC và nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hội nhập quốc tế tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởng mạnh, đạt 6,7 tỷ USD năm 2015. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào hạ tầng cảng biển, khu công nghiệp ven biển. Công nghệ quản lý hiện đại được chuyển giao từ các đối tác quốc tế. Tuy nhiên, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt từ các cường quốc thuỷ sản. Rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng đòi hỏi nâng cao năng lực sản xuất.

II. Phân tích thực trạng kinh tế biển Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế

Thực trạng kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2005-2015 có nhiều chuyển biến tích cực. Ngành đánh bắt thuỷ sản đạt sản lượng tăng trưởng ổn định qua các năm. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh với công nghệ lồng bè hiện đại. Du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế. Cảng Cam Ranh, cảng Nha Trang được nâng cấp phục vụ vận tải biển và hàng hải. Tuy nhiên, nhiều hạn chế vẫn tồn tại trong quá trình phát triển. Cơ cấu kinh tế biển chưa hợp lý, phụ thuộc nhiều vào khai thác thuỷ sản tự nhiên. Công nghệ chế biến thuỷ sản còn lạc hậu, giá trị gia tăng thấp. Ô nhiễm môi trường biển gia tăng đe doạ bền vững phát triển. Nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế biển còn thiếu hụt. Chính sách phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ, thiếu chiến lược dài hạn. Vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh cần được tăng cường.

2.1. Thành tựu phát triển kinh tế biển Khánh Hoà giai đoạn 2005 2015

Giai đoạn 2005-2015, kinh tế biển Khánh Hoà đạt nhiều thành tựu quan trọng. Sản lượng đánh bắt thuỷ sản tăng trưởng đều qua các năm. Nuôi trồng thuỷ sản ứng dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất và chất lượng. Du lịch biển Nha Trang trở thành điểm đến hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởng mạnh, đóng góp lớn vào ngân sách tỉnh. Hạ tầng cảng biển được đầu tư nâng cấp, tăng năng lực thông qua. Thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án kinh tế biển đạt kết quả tích cực. Đời sống ngư dân và người dân vùng ven biển được cải thiện đáng kể.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân phát triển kinh tế biển Khánh Hoà

Nhiều hạn chế cản trở phát triển kinh tế biển bền vững tỉnh Khánh Hoà. Cơ cấu ngành chưa hợp lý, khai thác thuỷ sản tự nhiên chiếm tỷ trọng lớn. Công nghệ chế biến lạc hậu, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô. Ô nhiễm môi trường biển gia tăng từ hoạt động công nghiệp và sinh hoạt. Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu hụt nghiêm trọng. Nguyên nhân chính do thiếu chiến lược phát triển dài hạn và đồng bộ. Vốn đầu tư hạ tầng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Cơ chế chính sách chưa khuyến khích đủ mạnh đầu tư vào kinh tế biển.

III. Giải pháp phát triển kinh tế biển Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế

Phát triển kinh tế biển Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Đầu tư công nghệ chế biến thuỷ sản hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển du lịch biển bền vững, đa dạng hoá sản phẩm du lịch cao cấp. Nâng cấp hạ tầng cảng biển, logistics phục vụ vận tải biển quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế biển. Tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào kinh tế biển. Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào biển. Bảo vệ môi trường biển, phát triển kinh tế xanh bền vững. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh trong phát triển kinh tế biển. Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển dài hạn đến năm 2030. Gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển.

3.1. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2025 tầm nhìn 2030

Chiến lược phát triển kinh tế biển Khánh Hoà đến năm 2025 tập trung nhiều mục tiêu. Xây dựng Khánh Hoà trở thành trung tâm kinh tế biển của vùng Nam Trung Bộ. Phát triển cảng Cam Ranh thành cảng quốc tế quan trọng. Đưa du lịch biển Nha Trang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tăng tỷ trọng ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu có giá trị gia tăng cao. Đến năm 2030, Khánh Hoà phấn đấu trở thành tỉnh mạnh về kinh tế biển. Hoàn thiện hạ tầng logistics, cảng biển đạt chuẩn quốc tế. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh.

3.2. Giải pháp cụ thể phát triển từng ngành kinh tế biển

Ngành thuỷ sản cần chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng công nghệ cao. Đầu tư nhà máy chế biến thuỷ sản đạt tiêu chuẩn EU, FDA xuất khẩu. Ngành du lịch biển phát triển sản phẩm du lịch cao cấp, nghỉ dưỡng sinh thái. Xây dựng thương hiệu du lịch Nha Trang - Khánh Hoà trên thị trường quốc tế. Ngành vận tải biển nâng cấp đội tàu, phát triển dịch vụ logistics hiện đại. Ngành công nghiệp dầu khí, năng lượng tái tạo biển cần thu hút đầu tư chiến lược. Phát triển kinh tế hàng hải, dịch vụ cảng biển đa dạng. Giải pháp nguồn nhân lực đào tạo nghề biển chất lượng cao.

IV. Kết luận và ứng dụng luận án kinh tế biển Khánh Hoà

Luận án tiến sĩ hoàn thành mục tiêu nghiên cứu kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế. Nghiên cứu đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển kinh tế biển giai đoạn 2005-2015. Thành tựu đạt được đáng ghi nhận nhưng hạn chế vẫn còn nhiều. Hội nhập quốc tế tạo cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra thách thức cạnh tranh gay gắt. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính chiến lược và khả thi cao. Kết quả luận án có giá trị khoa học và thực tiễn cho phát triển kinh tế biển. Chính quyền tỉnh Khánh Hoà có thể tham khảo để xây dựng chính sách phát triển. Doanh nghiệp kinh tế biển có cơ sở định hướng đầu tư và sản xuất. Nghiên cứu góp phần vào kho tàng tri thức về kinh tế biển Việt Nam. Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về kinh tế biển bền vững. Ứng dụng kết quả nghiên cứu giúp Khánh Hoà phát huy tiềm năng biển hiệu quả.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án tiến sĩ kinh tế biển Khánh Hoà

Luận án đóng góp quan trọng vào kho tàng tri thức về kinh tế biển Việt Nam. Hệ thống hoá cơ sở lý luận phát triển kinh tế biển trong hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà. Phân tích toàn diện thực trạng kinh tế biển Khánh Hoà giai đoạn 2005-2015. Đề xuất mô hình phát triển kinh tế biển phù hợp với điều kiện địa phương. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa kinh tế biển và hội nhập quốc tế. Đóng góp góc nhìn khoa học kinh tế chính trị về phát triển kinh tế biển. Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về kinh tế biển bền vững.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và khả năng áp dụng kết quả nghiên cứu

Kết quả luận án có giá trị thực tiễn cao cho tỉnh Khánh Hoà. Chính quyền tỉnh tham khảo xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển dài hạn. Doanh nghiệp có cơ sở định hướng đầu tư vào các ngành kinh tế biển tiềm năng. Giải pháp đề xuất giúp nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế biển quốc tế. Ứng dụng kết quả nghiên cứu cải thiện đời sống ngư dân vùng ven biển. Nghiên cứu hỗ trợ bảo vệ môi trường biển trong phát triển kinh tế. Góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển Khánh Hoà. Mô hình phát triển có thể áp dụng cho các tỉnh duyên hải khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế kinh tế biển trên địa bàn tỉnh khánh hoà trong hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu; Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến đề tài luận án; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2. Cơ sở lý luận phát triển kinh tế biển trong hội nhập quốc tế Chương 3. Thực trạng kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế Chương 4.

Phương hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà trong hội nhập quốc tế 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Thế kỷ XXI, nhân loại hướng vào khai thác biển và đại dương phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế biển trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của quốc gia có biển. Phát triển kinh tế biển trở thành đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu trên nhiều phạm vi, khía cạnh khác nhau. Nhiều công trình khoa học, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học được công bố cả trong và ngoài nước dưới khía cạnh trực tiếp hay gián tiếp đến kinh tế biển nói chung, kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà nói riêng. Phân tích, đánh giá những thành công và tồn tại của những công trình này giúp Luận án tìm ra những vấn đề còn đang bỏ ngỏ, chưa được làm rõ cần tập trung giải quyết.

Những công trình trên thế giới nghiên cứu về kinh tế biển Tác giả, nhà quân sự Mỹ, Alfred Thayer Mahan (1848-1914) trong nghiên cứu Sức mạnh biển đối với lịch sử (nhà xuất bản Tri thức, năm 2012)cho rằng: Sự vĩ đại của quốc gia gắn bó chặt chẽ với biển, quốc gia có biển sử dụng thương mại trong hòa bình và kiểm soát khi có chiến tranh; của cải có quan hệ chặt chẽ với biển và chính biển cả là điểm xung đột của tất cả các quốc gia muốn trở nên hùng mạnh. Do đó, các quốc gia muốn giàu có thì phải kiểm soát biển, phải giành và giữ được quyền kiểm soát các tuyến giao thông biển huyết mạch liên quan tới ngoại thương và các lợi ích khác của quốc gia mình. Như vậy, vai trò của kinh tế biển đã được nhận thức rất sớm ở châu Âu và nhanh chóng phát triển lan rộng ra phạm vi thế giới. Ngày nay, nghiên cứu phát triển kinh tế biển nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà kinh tế học.

Nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế biển được đăng tải trên các ứng dụng, nổi bật như: Singapore Tourism Board, website: http://visitsingapore.com; Canada‟s Oceans Strategy, Board Economic, Tourism Economic, The Journal of Travel Research, and Maritime and Port Authority of Singapore, website: mpa. Tuy nhiên, trong khuôn khổ tổng quan tài liệu, nghiên cứu sinh chỉ giới hạn đề cập một số tài liệu điển hình, liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu của luận án. 7 Đề cập về xu hướng và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển có các nghiên cứu điển hình như James D. Điểm chung của các tác giả này là nghiên cứu xu hướng vận động của kinh tế biển vào những năm đầu của thế kỷ XXI dưới góc nhìn những thuận lợi, khó khăn của điều kiện kinh tế mỗi nước, từ đó rút ra kinh nghiệm phát triển kinh tế biển cho các nước đi sau.

Thông qua đó, tác giả James D.walkins (Chairman) (2004) cho rằng xu hướng tiến ra biển, khai thác, chiếm lĩnh biển là tất yếu khách quan của nhân loại trong thế kỷ XXI, tuy nhiên, điều kiện hạ tầng thực tế của mỗi nước khác nhau nên cách tiếp cận cũng cần phải có sự chọn lựa. Theo tác giả, điểm chung của các nước là nên tiếp cận kinh tế biển một cách hệ thống vì kinh tế biển có đặc trưng riêng và các lĩnh vực của kinh tế biển như du lịch biển, vận tải biển, cảng biển… đòi hỏi nguồn lực khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết và có khả năng nâng đỡ, tác động đem lại hiệu quả kinh tế cao trong quá trình phát triển. Tác giả Chua Thia-Eng (2002), Linwood Pendleton (2005), David Rosenberg (2010) phân tích làm rõ thương mại biển chịu sự tác động lớn bởi các chính sách trong nước và quan hệ đối ngoại của các quốc gia biển lân cận và lưu ý phát triển kinh tế biển trong thế kỷ XXI chịu sự ảnh hưởng rất lớn của khoa học công nghệ biển. Do đó, các tác giả nhấn mạnh việc tiếp cận khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực biển trở thành nhu cầu bức thiết của các quốc gia biển.

Đề cập đến kinh nghiệm phát triển kinh tế biển có các nghiên cứu của nhóm tác giả Abdul Aziz Abdul Rahman - Jamali Janb - Wong Hin Wei (1997), Lee Kuan Yew (2000), David Rosenberg (2010), Foster Klug (2010), [168], [179], [176], [177]. Theo đó, các tác giả đều chung quan điểm là biển và vùng ven biển là nơi mang lại tiềm lực tài chính, sức mạnh quân sự, chính trị, ngoại giao. Nếu có tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển hợp lý thì dựa vào biển sẽ mang lại sự giàu mạnh. Theo các tác giả thì đường lối phát triển kinh tế biển các quốc gia phải mang tính chiến lược, các giải pháp, chính sách phát triển kinh tế biển hợp lý, trong đó nhấn mạnh ưu tiên về vốn, nhân lực cho phát triển kinh tế biển.

8 Tác giả Abdul Aziz Abdul Rahman - Jamali Janb - Wong Hin Wei (1997), Lee Kuan Yew (2000) cho rằng các cơ quan quản lý biển phải được phân quyền mới tạo điều kiện cho phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, tác giả Lee Kuan Yew (2000), cho rằng dù là những quốc gia đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế biển nhưng Trung Quốc và Singapore đều bộc lộ những hạn chế trong cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại các đặc khu kinh tế (Trung Quốc), sự bất bình đẳng trong sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp. Đề cập đến phát triển kinh tế biển nhưng chú trọng vào kinh tế du lịch biển có các nghiên cứu nổi tiếng của các tác giả Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2001), Larry Dwyer, Petter Foryth and Wayne Dwyer (2011), Adrian Bull (1995) (2011), Amedeo Fossati (2010), [63], [180], [170], [171]. Nhóm tác giả Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình nghiên cứu toàn diện các điều kiện phát triển kinh tế du lịch, bao gồm cả việc quy hoạch, cách thức tuyên truyền, quản lý, thể chế quản lý và đào tạo nhận lực du lịch sao cho hiệu quả.

Các tác giả Larry Dwyer, Petter Foryth and Wayne Dwyer (2011) lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế du lịch đến phát triển kinh tế quốc gia và toàn cầu; phân tích sức hấp dẫn của các điểm đến và sự ảnh hưởng của kinh tế, tác động của biến đổi khí hậu và tương lai của ngành du lịch. Tác giả Adrian Bull (1995) (2011) thì chỉ rõ sự khác biệt của du lịch biển so với các loại hình du lịch khác thông qua những đặc trưng cơ bản và cho rằng cần có các công cụ và giải pháp phù hợp để phát triển kinh tế du lịch biển. Amedeo Fossati (2010) đề cập những nguyên tắc phát triển du lịch biển dựa trên quan điểm bền vững. Theo tác giả, muốn phát triển du lịch biển bền vững cần dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn xác thực, nền tảng quy hoạch du lịch và không gian biển.

Do đó, cần có khung pháp lý, chính sách phát triển du lịch biển. Các tác giả thống nhất quan điểm cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, người dân địa phương trong bảo vệ, quản lý môi trường, tạo điều kiện phát triển du lịch biển. Liên quan đến hướng nghiên cứu kinh tế biển nhưng đề cập đến chủ đề nâng cao năng lực cạnh tranh và quản lý môi trường của các ngành kinh tế biển có các nghiên cứu điển hình của các tác giả Linwood Pendleton (2005), Twan Huybers (2007), Thomas L. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng nâng cao năng lực cạnh tranh và quản lý môi trường phải có sự chung tay của cộng 9 đồng.

Các quy định về môi trường và quản lý môi trường tốt góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tác động kép đến năng lực quản lý kinh doanh, hướng tới phát triển bền vững. Ngoài các công trình nghiên cứu với những nội dung cụ thể trên còn có các nghiên cứu của các tác giả Michen Béguery (1983), David Rosenberg (2010),[64], [176]… về vai trò của kinh tế biển trong việc cung cấp sản phẩm phục vụ đời sống xã hội; thực trạng kinh tế biển đối với an ninh quốc gia. Những công trình trong nƣớc nghiên cứu kinh tế biển Từ năm 2005 đến nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế biển được nhiều tác giả trong nước quan tâm, nghiên cứu. Đáng chú ý là các công trình khoa học của các tác giả Nguyễn Tác An (2007), Lê Cao Đoàn (1999), (2008), Nguyễn Chu Hồi (2007),Trần Đình Thiên(2008), Nguyễn Nhâm (2009), Nguyễn Thiết Hùng (2011), Chu Đức Dũng (2011), Nguyễn Thanh Minh (2011), Ngô Lực Tải (2012), Nguyễn Bá Ninh (2012), [1], [33], [38], [100], [66], [47], [20], [61], [93], [69].

Các nghiên cứu trên đều có chung quan điểm là kinh tế biển Việt Nam nhiều tiềm năng, điều kiện cần cho phát triển kinh tế biển (điều kiện tự nhiên) rất tốt nhưng điều kiện đủ, bao gồm những yếu tố xác lập quỹ đạo phát triển hiện đại và cung cấp động lực phát triển kinh tế biển (như hệ thống hạ tầng cảng biển, giao thông, logistics, các khu công nghiệp và khu kinh tế gắn với kinh tế biển, các ngành khoa học và các hoạt động nghiên cứu liên quan) - lại rất thiếu và yếu, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta không sử dụng đúng tiềm năng mà biển đem lại. Trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay thì tài nguyên biển nước ta có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước. Biển Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, đặc biệt là dầu khí [66,tr. Không dừng lại ở đó, tác giả Nguyễn Thiết Hùng (2011) phân tích rõ đặc trưng của kinh tế biển.

Theo đó, kinh tế biển có đặc trưng riêng về lĩnh vực sản xuất, khai thác và thị trường so với các lĩnh vực kinh tế truyền thống trên đất liền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ