Luận án Tiến sĩ: Chuẩn bị Nguồn nhân lực cho Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam hiện nay

Phân tích thực trạng và chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc phòng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập và cách mạng công

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ
177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực là toàn bộ sức lao động của xã hội tồn tại trong bộ phận dân số có khả năng lao động, được sử dụng vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần. Trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao. Công nghiệp quốc phòng đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đến năng lực sản xuất, nghiên cứu và phát triển công nghệ quốc phòng. Luận án tiến sĩ kinh tế về chủ đề này được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị, nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan có thẩm quyền.

1.1. Khái niệm nguồn nhân lực và công nghiệp quốc phòng

Nguồn nhân lực là phạm trù kinh tế chỉ toàn bộ sức lao động của quốc gia có khả năng huy động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội và củng cố an ninh quốc phòng. Nguồn nhân lực không chỉ bao gồm người trong độ tuổi lao động mà gồm cả người ngoài độ tuổi có khả năng lao động. Công nghiệp quốc phòng là ngành sản xuất đặc biệt, trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh. Nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, phẩm chất chính trị vững vàng và tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc.

1.2. Vị trí vai trò của nguồn nhân lực quốc phòng

Nguồn nhân lực giữ vị trí quyết định trong phát triển công nghiệp quốc phòng. Đây là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm quốc phòng phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao đảm bảo năng lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật. Trong điều kiện chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nguồn nhân lực quốc phòng trở thành lực lượng nòng cốt phục vụ sản xuất quân sự và quốc phòng toàn dân.

II. Phân tích thực trạng chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Thực trạng chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện nay có nhiều thành tựu đáng ghi nhận song vẫn tồn tại hạn chế cần khắc phục. Về thành tựu, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực quốc phòng từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật ngày càng trưởng thành về trình độ chuyên môn và phẩm chất chính trị. Nhiều cơ sở nghiên cứu, sản xuất quốc phòng đã ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới. Tuy nhiên, nguồn nhân lực còn thiếu hụt về số lượng và chất lượng so với yêu cầu nhiệm vụ. Cơ cấu ngành nghề chưa đồng bộ, thiếu chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực công nghệ cao. Hệ thống đào tạo chưa gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn sản xuất quốc phòng. Chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn thu hút nhân tài.

2.1. Thành tựu trong chuẩn bị nguồn nhân lực quốc phòng

Chuẩn bị nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống đào tạo từ trung cấp đến đại học và sau đại học được xây dựng đồng bộ. Nhiều cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản tại các trường đại học kỹ thuật quân sự và dân sự. Chương trình đào tạo từng bước tiếp cận trình độ quốc tế. Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn được triển khai thường xuyên. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học quốc phòng được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm quốc phòng.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong chuẩn bị nguồn nhân lực

Nhiều hạn chế tồn tại trong chuẩn bị nguồn nhân lực quốc phòng. Nguồn nhân lực thiếu hụt trầm trọng ở các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo. Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất quốc phòng. Nguyên nhân chính do cơ chế chính sách chưa đồng bộ, kinh phí đầu tư còn hạn chế. Mức lương và chế độ đãi ngộ thấp hơn nhiều so với khu vực dân sự và doanh nghiệp nước ngoài. Sự phối hợp giữa các cơ quan đào tạo và đơn vị sản xuất quốc phòng chưa hiệu quả.

III. Giải pháp chủ yếu chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Giải pháp chuẩn bị nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng cần triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống đào tạo nguồn nhân lực gắn kết giữa đào tạo lý thuyết và thực hành sản xuất. Thứ hai, đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực quốc phòng để thu hút người tài. Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực, học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển. Trung Quốc, Nga và nhiều quốc gia đã có chính sách thu hút nhân tài từ nước ngoài rất hiệu quả. Thứ tư, tăng cường đầu tư kinh phí cho nghiên cứu khoa học công nghệ quốc phòng. Thứ năm, xây dựng cơ chế khuyến khích sáng tạo, đổi mới trong sản xuất quốc phòng. Các giải pháp cần được triển khai theo quan điểm lấy con người làm trung tâm, phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật quốc phòng.

3.1. Hoàn thiện hệ thống đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Hoàn thiện hệ thống đào tạo nguồn nhân lực quốc phòng đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Cần xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, cập nhật kiến thức công nghệ mới. Tăng cường đào tạo thực hành tại các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo minh bạch, khách quan. Mở rộng liên kết đào tạo với các trường đại học kỹ thuật hàng đầu trong và ngoài nước. Đẩy mạnh đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành công nghệ quốc phòng để tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

3.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài

Cơ chế chính sách đóng vai trò quyết định trong thu hút nhân tài quốc phòng. Cần cải cách chế độ lương thưởng, phúc lợi cho cán bộ kỹ thuật quốc phòng. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực, thành tích công bằng để bổ nhiệm, thăng tiến. Áp dụng cơ chế đặt hàng đào tạo, tuyển dụng đặc biệt cho nhân tài công nghệ cao. Học hỏi kinh nghiệm Trung Quốc trong phá bỏ trở ngại về việc làm, đảm bảo công bằng tự do nghề nghiệp. Khuyến khích thành lập tổ chức phát triển nguồn nhân lực quốc phòng, hỗ trợ học viên tìm được môi trường đào tạo phù hợp.

IV. Kết luận và ứng dụng phát triển nguồn nhân lực quốc phòng Việt Nam

Luận án tiến sĩ về chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam mang lại nhiều kết luận quan trọng. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định năng lực sản xuất quốc phòng, phục vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Thực trạng nguồn nhân lực quốc phòng có thành tựu song còn nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Giải pháp chủ yếu bao gồm hoàn thiện hệ thống đào tạo, đổi mới cơ chế chính sách và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho Chính phủ, Bộ Quốc phòng trong hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Ứng dụng thực tiễn của luận án giúp từng bước đưa công nghiệp quốc phòng Việt Nam phát triển trong thế kỷ XXI, đáp ứng nhu cầu sản xuất quân sự và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

4.1. Kết luận chính của luận án tiến sĩ kinh tế

Luận án tiến sĩ kinh tế về chuẩn bị nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đạt được nhiều kết luận có giá trị. Nguồn nhân lực quốc phòng là phạm trù kinh tế chính trị, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và quốc phòng. Quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực chịu tác động của quy luật kinh tế, quy luật quân sự và điều kiện lịch sử cụ thể. Thành tựu và hạn chế trong chuẩn bị nguồn nhân lực đều có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp điều kiện Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng phát triển

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Chính phủ và Bộ Quốc phòng có thể sử dụng luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc phòng. Các cơ sở đào tạo áp dụng mô hình đào tạo gắn kết lý thuyết thực hành. Doanh nghiệp quốc phòng cải tiến cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ nhân lực. Hướng phát triển cần tập trung đào tạo nhân lực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin. Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc phòng, thu hút nhân tài trong và ngoài nước phục vụ sự nghiệp quốc phòng toàn dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu; 03 chương (8 tiết), kết luận; danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của luận án; danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn và sử dụng trong luận án. 8 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài 1. Nhóm các công trình khoa học bàn về vai trò của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực của đất nước Giáo dục, đào tạo phát triển con người có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.

Vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cá nhân, tổ chức ở các nước, tiêu biểu là các công trình như: Giáo dục thái độ cộng sản đối với lao động của V. Xu- Khôm-Lin-Xki (Nga) [110]; “Cải cách giáo dục - chìa khoá để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế” của N. Bôrépxkaia [3]; “Triển vọng của giáo dục trong thế giới đang thay đổi” của E. Trong đó, “Giáo dục thái độ cộng sản đối với lao động” của V.A Xu- Khôm-Lin-Xki (Nga) là một cuốn sách giáo dục chính trị, xuất bản trong giai đoạn Liên Xô đang thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Một trong các nội dung cơ bản của cuốn sách đề cập đến sự cần thiết phải giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu lao động - một phẩm chất quan trọng góp phần hình thành giá trị lao động của họ trong tương lai. Tác giả còn cho rằng: thông qua các hình thức học ngoại khoá, hoạt động lao động tập thể kết hợp với hoạt động tuyên truyền giáo dục của nhà trường để hình thành phẩm chất yêu lao động và sự trưởng thành về đạo đức cho học sinh. Mặc dù vậy, do hạn chế về mặt lịch sử, nội dung cuốn sách chưa đề cập đến giáo dục lý tưởng cống hiến cho thế hệ trẻ trong nền kinh tế thị trường, chưa giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của con người. Tuy nhiên, một số nội dung trong cuốn sách này cũng là những gợi ý cần thiết để xây dựng các quan điểm, giải pháp phát triển NNL trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay.

9 “Đổi mới giáo dục Thái Lan - những chiến lược đổi mới đầy khả năng cạnh tranh” của Nipone Sookpreedee đã trình bày khái quát tình hình phát triển giáo dục, đào tạo ở Thái Lan vào những năm cuối của thế kỷ XX và thực tế hiện nay. Tác giả chỉ rõ những vấn đề được Chính phủ Thái Lan quan tâm giải quyết là đổi mới giáo dục, đào tạo; cải cách hơn nữa hệ thống giáo dục của đất nước; tiến hành đổi mới phương pháp dạy và học; thông qua nhiều chương trình, đề án để đổi mới chức năng quản lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương. Tác giả làm rõ hệ thống giáo dục hiện nay của Thái Lan được đặt nền móng trong Hiến pháp năm 1997 và Bộ luật Giáo dục quốc gia năm 1999. Những quy định trong các văn bản này đã khuyến khích giáo dục Thái Lan phát triển với một cơ cấu rộng rãi hơn để hướng tới mục đích đưa Thái Lan trở thành một xã hội học tập, nâng cao tính công bằng về cơ hội và chất lượng đời sống của người dân.

Theo đó, Thái Lan tập trung xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng, thực hiện tiêu chuẩn và kiểm định chất lượng giáo dục, gắn lý thuyết với thực hành, mở rộng các hình thức giáo dục, đào tạo gồm cả các chương trình phát thanh và truyền hình giáo dục, đặc biệt coi trọng phát triển NNL chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Các công trình khoa học “Cải cách giáo dục - chìa khoá để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế” của N. Bôrépxkaia; “Triển vọng của giáo dục trong thế giới đang thay đổi” của E. Semennovich Demidenco đã tập trung chỉ rõ sự cần thiết phải đổi mới, cải cách nền giáo dục ở Nga cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường.

Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đại học, đào tạo NNL chất lượng cao cho đất nước; định hướng giáo dục đào tạo gắn với hoạt động của quy luật cung - cầu trong thị trường lao động. Đồng thời, hai tác giả còn trình bày các vấn đề về lịch sử giáo dục ở một số quốc gia; về vai trò quan trọng của giáo dục hiện đại đối với sự phát triển NNL để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, các 10 công trình khoa học này chỉ là những tài liệu để nghiên cứu sinh tham khảo xây dựng cơ sở khoa học chuẩn bị NNL cho CNQP nước ta. Nhóm các công trình khoa học bàn về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng Liên quan đến vấn đề này, đã có một số công trình khoa học được công bố như: Cuốn sách: Human resources for national strength của Stanley L.Falk, Industrial college of the armed forces Washington, D.1966; Classroms in the military của Harold F.Clack and Harold S.Loan, Published for the institute for instructional improvement, INC by the bureau of publications teachers college, Columbia university NewYork [113].

“Một góc nhìn nhà trường, học viện quân sự” của Lý Thìn Quang [74]. “Tổng quan về năm trường đại học tổng hợp trong toàn quân” (Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật quốc phòng, Trường Đại học Công trình Vật lí, Trường Đại học Công trình Thông tin, Trường Đại học Công trình Hải quân và Trường Đại học Công trình Không quân) của Lăng Tường [87]. “Công nghiệp quốc phòng và hàng không vũ trụ Đông Nam Á” của Phi Líp. Finnegan [38]; “Công nghiệp quốc phòng I Ran” của J.

Trong đó, Human resources for national strength của Stanley L.Falk và Classroms in the military của Harold F.Clack and Harold S.Loan đã chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo NNL cho CNQP ở mỗi nước, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại; mở rộng khả năng để đào tạo lực lượng dự bị nhằm đáp ứng nhu cầu về NNL khi có chiến tranh xảy ra. Các công trình tập trung bàn về việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở Quân đội Mỹ, Nga, Trung Quốc… “Tổng quan về năm trường đại học tổng hợp trong toàn quân” đã chỉ rõ việc quy hoạch hệ thống nhà trường quân đội phải xét đến tính chất hoạt động quân sự trong điều kiện thời bình, thời chiến và phát huy tính lưỡng dụng của các nhà trường quân đội để tham gia đào tạo NNL cho CNQP, cho đất nước 11 như Trung Quốc. Tuy nhiên, những công trình khoa học này chưa đề cập nhiều đến đào tạo NNL cho CNQP. Đây là một khoảng trống mà luận án có thể nghiên cứu, tìm ra kinh nghiệm của các trường quân sự ở các nước trong tham gia đào tạo, phát triển NNL cho CNQP.

Như vậy, những công trình khoa học ở nước ngoài nghiên cứu về đào tạo NNL cho CNQP được đề cập ở những nội dung, phạm vi và mức độ khác nhau; song tựu trung lại các công trình này đều chỉ rõ sự cần thiết phải quan tâm đến giáo dục và đào tạo ở mọi quốc gia; về vai trò của giáo dục đại học, đào tạo NNL chất lượng cao cho đất nước; về giáo dục lòng yêu nước, yêu lao động và đạo đức cho học sinh, sinh viên để nâng cao chất lượng NNL. Một số công trình tập trung phân tích về vai trò của NNL đối với sự phát triển của đất nước và của quân đội; về đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy ở các nhà trường quân đội; về sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở Nga sang nền kinh tế thị trường đã đặt ra yêu cầu mới về đào tạo NNL cho CNQP; về tổ chức và hoàn thiện các nhà trường quân sự trong điều kiện thời bình nhằm phát huy tính lưỡng dụng của các nhà trường trong đào tạo NNL cho CNQP, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của thời chiến. Nhiều công trình khoa học khác cũng tập trung bàn đến những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo NNL của đất nước và quân đội, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống giáo dục sát thực tế. Tuy nhiên, những công trình khoa học này chỉ đề cập riêng lẻ, độc lập từng vấn đề về đào tạo NNL cho CNQP ở các góc độ khác nhau, các quốc gia khác nhau, với các thể chế chính trị khác nhau; chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở khoa học chuẩn bị NNL cho CNQP.

Vì vậy, đây là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho nghiên cứu sinh làm rõ vấn đề nghiên cứu của luận án. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài Tiêu biểu cho các công trình khoa học ở trong nước nghiên cứu liên quan đến vấn đề chuẩn bị NNL cho CNQP Việt Nam hiện nay gồm có: 12 2. Nhóm các công trình khoa học bàn về vai trò nguồn lực, nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay Sách tham khảo: Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 của Ngô Doãn Vịnh [107]; Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam của Võ Văn Đức [36]; Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Vũ Bá Thể [80]; “Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới - Những vấn đề lý luận; Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước hiện nay. Những vấn đề đặt ra - giải pháp” của Nguyễn Ngọc Phú [71].

Trong các công trình đó, tác giả Ngô Doãn Vịnh , Võ Văn Đức đã luận giải những vấn đề lý luận về khái niệm nguồn lực, nguồn lực con người và tiến hành nghiên cứu, phân tích làm rõ các loại nguồn lực; những vấn đề lý luận về nguồn lực kinh tế…; vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế; thực trạng huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu đóng góp cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam; đề xuất quan điểm, giải pháp huy động, sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tác giả Vũ Bá Thể đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của một số nước trên thế giới và thực trạng NNL ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ