Tổng quan luận án

Ô nhiễm môi trường do các sự cố tràn dầu trên biển và các vùng nước nội địa là vấn đề môi trường nghiêm trọng, gây tổn thất lớn về sinh thái, kinh tế và sức khỏe cộng đồng. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, nằm trên tuyến hàng hải quốc tế vận chuyển khoảng 30 triệu tấn dầu mỗi năm, đồng thời tiêu thụ nội địa khoảng 11 triệu tấn dầu và sản phẩm dầu thô mỗi năm. Hoạt động giao thông thủy, thăm dò và khai thác dầu khí làm gia tăng nguy cơ rò rỉ và tràn dầu (thực tế ghi nhận khoảng 100 vụ tai nạn tràn dầu từ năm 1989 đến 2016 tại vùng biển Việt Nam).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong khi trên thế giới vật liệu polyolefin đã được nghiên cứu rộng rãi, ở Việt Nam các nghiên cứu chế tạo và đánh giá vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở polypropylen biến tính còn rất hạn chế. Sợi polypropylen thông thường có khả năng kỵ nước và ưa dầu nhưng dung lượng hấp thu chưa tối ưu, khả năng đàn hồi và lưu giữ dầu qua nhiều chu kỳ tái sử dụng còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu biến tính sợi polypropylen bằng phương pháp trùng hợp ghép các vinyl monome nhằm nâng cao dung lượng hấp thu và độ bền tái sử dụng là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu chế tạo sợi polypropylen biến tính có khả năng hấp thu dầu tốt dựa trên phản ứng trùng hợp ghép vinyl monome với polypropylen.
  2. Ứng dụng vật liệu hấp thu dầu chế tạo được để xử lý dầu tràn trong nước biển.

Nội dung nghiên cứu của luận án:

  1. Nghiên cứu chế tạo sợi polypropylen.
  2. Nghiên cứu biến tính sợi polypropylen bằng polyetylen terephtalat (PET) và phản ứng trùng hợp ghép các vinyl monome trong sự có mặt và không có mặt của chất tạo lưới.
  3. Nghiên cứu khả năng hấp thu một số dung môi và dầu của các vật liệu trên cơ sở sợi polypropylen biến tính.
  4. Thử nghiệm khả năng hấp thu dầu của vật liệu sợi polypropylen biến tính để xử lý xăng dầu tràn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sợi polypropylen (PP), sợi polypropylen phối trộn 5% polyetylen terephtalat (PP-PET); các vinyl monome bao gồm lauryl metacrylat (LMA), butyl acrylat (BA), axit metacrylic (MAA); chất tạo lưới divinyl benzen (DVB); chất khơi mào azobisisobutyronitrin (AIBN); các loại dầu (dầu thô, dầu FO, dầu DO, xăng) và dung môi hữu cơ (toluen, benzen, cloroform...).
  • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm tổng hợp trong phòng thí nghiệm tại Khoa Hóa học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội) và Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); thử nghiệm xử lý môi trường nước ngọt và nước biển thực tế tại khu vực hoạt động của Công ty xăng dầu B12 (luận án bảo vệ năm 2016).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các biện pháp xử lý sự cố tràn dầu chính:

  • Phương pháp cơ học: Sử dụng phao quây gom dầu, máy hút dầu chân không, đốt tại chỗ màng dầu mỏng dưới 3 mm, hoặc sử dụng tác nhân tạo gel để thu hồi. Phương pháp này có ưu điểm ngăn chặn sự lan rộng ban đầu nhưng không thu hồi triệt để lượng dầu ô nhiễm.
  • Phương pháp sinh học: Sử dụng vi sinh vật tự nhiên phân giải hidrocacbon (gồm 3 nhóm: phân giải hợp chất mạch hở, phân giải hợp chất thơm và phân giải cacbohydrat). Nhược điểm là tốc độ phân hủy chậm, chỉ áp dụng cho sự cố quy mô nhỏ.
  • Phương pháp hóa học: Sử dụng chất phân tán (như IFO-180, IFO-380, COREXIT-950) để chia nhỏ vệt dầu thành các giọt mịn nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây độc cho sinh vật biển; hoặc sử dụng vật liệu hấp thu dầu kỵ nước - ưa dầu để tách pha dầu khỏi mặt nước.

Tác giả phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu về vật liệu hấp thu dầu:

  1. Vật liệu vô cơ: Canxi cacbonat biến tính axit béo (Arbatan và cộng sự), ống cacbon nano định hướng thẳng đứng (Fan và cộng sự; Gui và cộng sự với dung lượng trên 100 g/g), graphit chèn lớp (Inagaki và cộng sự), tro bay biến tính natri oleat (Karakasi và cộng sự). Nhóm này sẵn có nhưng tỷ trọng cao, dễ chìm, khó tái sử dụng.
  2. Vật liệu xenlulozơ tự nhiên và biến tính: Sợi cỏ bông ép dạng mat (Suni và cộng sự), sợi dứa, xơ dừa, xơ mướp, tơ lụa (Annunciado và cộng sự), sợi bông gạo (Lim và cộng sự; Wang và cộng sự), mùn cưa ghép axit béo (Banerjee và cộng sự), acetyl hóa sợi bông vải (Wang và cộng sự), vật liệu nhồi cột blend bông gạo/cỏ sữa với PP (Sun và cộng sự). Nhóm này thân thiện môi trường nhưng độ nổi kém và hút nước nhất định.
  3. Vật liệu polyme tổng hợp: Trùng hợp ankyl acrylat (Naiku Xu và cộng sự; Naiyi Ji và cộng sự), copolyme styren - ankyl acrylat (Jyongik Jang và Beom-Seok Kim), sợi butyl metacrylat - lauryl metacrylat tạo lưới nhiệt (Feng và cộng sự), nhựa compozit butyl metacrylat - lauryl acrylat chứa hạt từ tính $\text{Fe}_3\text{O}_4$ (Li và cộng sự), copolyme styren - DVB (Suda và Panaosak).
  4. Biến tính sợi PP bằng trùng hợp ghép: Khơi mào hóa học bằng benzoyl peroxit để ghép MAA lên PP (Majid và cộng sự; Suchada); ghép monome acrylat lên PP không dệt (Li và cộng sự); khơi mào quang hóa UV để ghép HEMA (Shukla và cộng sự), ghép LA và BA (Li và cộng sự; Liu và cộng sự); khơi mào bức xạ gamma $^{60}\text{Co}$ để ghép BA và LA lên sợi PP (Feng Yuan và cộng sự).

Khoảng trống và vị trí của luận án: Luận án lựa chọn giải quyết vấn đề biến tính sợi polypropylen bằng phương pháp trùng hợp ghép gốc tự do các vinyl monome (LMA, BA, MAA) và phối hợp chất tạo lưới DVB tạo cấu trúc mạng organogel; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng ghép, thiết lập động học và mô hình đẳng nhiệt hấp phụ dầu, đồng thời kiểm tra khả năng tái sử dụng qua 10 chu kỳ vắt cơ học và ứng dụng thực tế trên nước biển Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cấu trúc lập thể của polypropylen: Isotactic PP (nhóm $-\text{CH}_3$ phân bố đồng đều cùng phía) được tạo ra từ hệ xúc tác Ziegler-Natta ($\text{TiCl}_4/\text{MgCl}_2$), có độ kết tinh khoảng 60%, tỷ trọng 0,90–0,91 $\text{g/cm}^3$, kỵ nước và bền hóa chất.
  • Cơ chế hấp thu dầu của mạng lưới polyme: Dựa trên tương tác Van der Waals giữa các mạch nhánh ưa dầu (gốc ankyl của LMA, BA) với hidrocacbon của dầu; dầu khuếch tán vào mao quản và làm trương nở mạng lưới không gian ba chiều (organogel) của polyme có tạo lưới mà không bị hòa tan.
  • Cơ chế trùng hợp ghép gốc tự do:
    • Khơi mào: Phân hủy chất khơi mào AIBN tạo gốc tự do $\text{R}^\bullet$.
    • Phát triển mạch homopolyme: $\text{R}^\bullet + \text{M} \rightarrow \text{R}-\text{M}^\bullet \rightarrow \text{R}-(\text{M})_n^\bullet$.
    • Chuyển mạch sang nền PP: $\text{R}-(\text{M})_n^\bullet + \text{PP}-\text{H} \rightarrow \text{R}-(\text{M})_n\text{H} + \text{PP}^\bullet$.
    • Phát triển mạch ghép: $\text{PP}^\bullet + \text{M} \rightarrow \text{PP}-\text{M}^\bullet \rightarrow \text{PP}-(\text{M})_n^\bullet$.
    • Tạo liên kết mạng ngang khi có mặt chất tạo lưới DVB và ngắt mạch.
  • Mô hình động học và đẳng nhiệt hấp phụ:
    • Phương trình động học biểu kiến bậc một (Pseudo-first-order) và biểu kiến bậc hai (Pseudo-second-order) theo dung lượng hấp phụ thời gian $q_t$ và cân bằng $q_e$.
    • Các mô hình đẳng nhiệt: Langmuir (hấp phụ đơn lớp trên bề mặt đồng nhất), Freundlich (hấp phụ đa lớp trên bề mặt dị thể), Temkin (xét đến tương tác chất hấp phụ - chất bị hấp phụ).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Phương pháp chế tạo sợi: Sử dụng máy đùn trục vít với tỷ lệ $L/D \ge 24:1$, tỷ lệ nén 3:1 đến 4:1; gia nhiệt theo các vùng nhiệt độ từ phễu nạp đến đầu phun mao quản; kéo và cuốn sợi tạo sợi PP nguyên sinh và sợi blend PP phối trộn 5% PET.
  • Phương pháp trùng hợp ghép: Thực hiện phản ứng ghép dung dịch trong bình phản ứng có khuấy, sử dụng dung môi hữu cơ, khảo sát biến thiên theo thời gian phản ứng, nhiệt độ, nồng độ monome (LMA, BA, MAA), nồng độ chất khơi mào AIBN và hàm lượng chất tạo lưới DVB. Sản phẩm được trích ly loại bỏ homopolyme để xác định hiệu suất ghép (GY).
  • Phương pháp phân tích cấu trúc và đặc trưng lý hóa:
    • Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) để xác định các nhóm chức ghép ($-\text{COO}-$, $-\text{C}=\text{O}$, $-\text{COOH}$).
    • Phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) và nhiệt vi sai quét (DSC) để xác định độ bền nhiệt và nhiệt độ nóng chảy ($T_m$).
    • Kính hiển vi điện tử quét (SEM) quan sát hình thái học bề mặt sợi.
    • Phương pháp Brunauer-Emmett-Teller (BET) đo diện tích bề mặt riêng.
  • Phương pháp đo dung lượng hấp thu dầu và dung môi: Cân xác định khối lượng mẫu trước và sau khi ngâm trong hệ pha khô và hệ dầu:nước (dầu thô, FO, DO, xăng, dung môi); đánh giá chu kỳ tái sử dụng bằng phương pháp vắt ép cơ học qua 10 chu kỳ.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thực nghiệm đo đạc trực tiếp tại phòng thí nghiệm và kết quả phân tích mẫu nước biển lấy tại khu vực Công ty xăng dầu B12 trước và sau xử lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Sự cố tràn dầu: Nguyên nhân và tác động

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về ô nhiễm dầu tràn trên thế giới và tại Việt Nam. Dầu mỏ có thành phần phức tạp gồm hidrocacbon parafin, naphten, aromat, nhựa và asphanten, phân chia thành các phân đoạn: xăng ($\text{C}5-\text{C}{10}$), kerosen/FO ($\text{C}{11}-\text{C}{15,16}$), gasoil nhẹ/DO ($\text{C}{16}-\text{C}{20,21}$) và gasoil nặng ($\text{C}{21}-\text{C}{35}$). Dầu tràn hình thành màng mỏng ($0,2-0,5\text{ mm}$) ngăn cản trao đổi oxy, gây độc cho hệ sinh thái biển (rừng ngập mặn, rạn san hô), làm ô nhiễm nguồn nước và đất. Đối với sức khỏe con người, các hợp chất hidrocacbon thơm đa vòng (PAH) và VOC gây kích ứng hô hấp, rối loạn nội tiết và có nguy cơ tổn thương DNA.

Luận án dẫn chứng số liệu thống kê lượng dầu tràn trên thế giới do tai nạn tàu chở dầu giai đoạn 1970–2015:

Giai đoạn Tổng lượng dầu tràn (nghìn tấn)
1970 – 1979 3.133
2000 – 2009 196
2010 – 2015 33

Tại Việt Nam, các sự cố điển hình được điểm lại gồm vụ tàu Formosa One va chạm tàu Petrolimex 01 năm 2001 tại vịnh Gành Rái làm tràn khoảng 750 tấn dầu DO; vụ tàu Hồng Anh đắm năm 2003 tại vịnh Gành Rái làm tràn khoảng 100 tấn dầu DO gây thiệt hại ước tính 23 tỷ đồng.

Chương I cũng so sánh ưu - nhược điểm giữa vật liệu hấp thu dầu tự nhiên và tổng hợp:

Loại vật liệu Ưu điểm Nhược điểm
Vật liệu tự nhiên (xenlulozơ, khoáng sét) Giá thành rẻ, thân thiện môi trường, có khả năng tự phân hủy sinh học, dễ gia công dạng sợi. Khả năng nổi kém, tính ưa nước cao, tính ưa dầu thấp, khả năng tái chế thấp.
Vật liệu PP biến tính Khả năng hấp thu dầu cao hơn nhiều so với vật liệu tự nhiên, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, tái sử dụng nhiều lần. Khó phân hủy hoặc phân hủy rất chậm trong môi trường tự nhiên.

Chương II: Nguyên liệu, hóa chất, dụng cụ thiết bị và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết hóa chất và quy trình thực nghiệm:

  • Hạt nhựa isotactic polypropylen thương mại có chỉ số chảy $\text{MFI} = 10-30$, hạt polyetylen terephtalat (PET).
  • Các monome: Lauryl metacrylat (LMA), butyl acrylat (BA), axit metacrylic (MAA); chất tạo lưới divinyl benzen (DVB); chất khơi mào AIBN; các dung môi hữu cơ tinh khiết.
  • Thiết lập quy trình công nghệ đùn sợi PP và sợi blend PP-PET (chứa 5% khối lượng PET).
  • Quy trình phản ứng trùng hợp ghép LMA, BA, MAA lên sợi PP với sự có mặt và không có mặt của chất tạo lưới DVB.
  • Phương pháp xác định hiệu suất ghép (Graft Yield - GY), dung lượng hấp thu dầu/dung môi $q_t$ ($\text{g dầu/g vật liệu}$), độ hấp thu nước.
  • Quy trình bố trí thí nghiệm xử lý xăng dầu loang trên mặt nước ngọt và nước biển thực tế từ Công ty xăng dầu B12.

Chương III: Kết quả và thảo luận

Chương III trình bày toàn bộ kết quả phân tích cấu trúc, tính chất hấp thu và ứng dụng thực nghiệm:

  1. Đặc trưng lý hóa và khả năng hấp thu của sợi PP và sợi blend PP-PET:

    • Phổ IR của sợi PP thể hiện các pic dao động đặc trưng của liên kết $\text{C}-\text{H}$ no. Sợi blend PP-PET xuất hiện thêm các dải hấp thu đặc trưng của nhóm este trong mạch PET.
    • Giản đồ TGA và DSC xác định độ bền nhiệt và nhiệt độ nóng chảy $T_m$ của sợi PP và PP-PET.
    • Ảnh SEM cho thấy sợi PP sau khi đùn có bề mặt nhẵn, kích thước mao quản đồng đều.
    • Thử nghiệm độ hấp thu nước khẳng định tính kỵ nước cao của sợi PP và PP-PET. Dung lượng hấp thu dầu thô, FO, DO được khảo sát ở cả hệ khô và hệ dầu:nước.
  2. Quá trình trùng hợp ghép các vinyl monome lên sợi PP:

    • Tối ưu hóa điều kiện phản ứng ghép cho từng monome (LMA, BA, MAA): Hiệu suất ghép tăng theo thời gian, nhiệt độ và nồng độ monome/AIBN đến một giá trị cực đại, sau đó giảm do phản ứng tạo homopolyme cạnh tranh.
    • Phổ IR của các copolyme ghép (PP-g-LMA, PP-g-BA, PP-g-MAA) xuất hiện dải hấp thu mạnh của nhóm cacbonyl $\text{C}=\text{O}$ este/axit ($\sim 1730\text{ cm}^{-1}$).
    • Giản đồ TGA/DSC và dữ liệu diện tích bề mặt riêng BET cho thấy bề mặt sợi ghép trở nên gồ ghề hơn (quan sát qua ảnh SEM), làm tăng diện tích tiếp xúc với pha dầu.
    • Động học hấp phụ dầu tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc hai, cho thấy quá trình hấp phụ diễn ra qua tương tác hóa - lý bề mặt.
    • Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt: Dữ liệu thực nghiệm được so sánh qua 3 mô hình Langmuir, Freundlich và Temkin. Giá trị hệ số tương quan $R^2$, tham số cân bằng $R_L$ ($0 < R_L < 1$) chứng minh quá trình hấp phụ dầu của các copolyme ghép diễn ra thuận lợi.
  3. Quá trình trùng hợp ghép có mặt chất tạo lưới DVB:

    • Sự tham gia của DVB tạo nên mạng lưới không gian 3 chiều (PP-g-LMA-DVB, PP-g-BA-DVB, PP-g-MAA-DVB).
    • Hàm lượng chất tạo lưới ảnh hưởng trực tiếp đến độ trương của organogel và dung lượng hấp thu dung môi/dầu.
    • Dung lượng hấp thu dung môi hữu cơ (toluen, benzen, cloroform...) và dầu thô của vật liệu tạo lưới tăng rõ rệt ở các khoảng nhiệt độ khảo sát.
    • Thử nghiệm độ bền qua 10 chu kỳ hấp thu và giải hấp bằng ép cơ học: Copolyme ghép có tạo lưới duy trì dung lượng hấp thu dầu ổn định, hạn chế suy giảm cấu trúc so với sợi PP chưa biến tính.
  4. Ứng dụng xử lý dầu tràn thực tế:

    • Thử nghiệm thu gom xăng và dầu trên môi trường nước ngọt và nước biển.
    • Kết quả xử lý mẫu nước biển nhiễm dầu lấy tại vùng hoạt động của Công ty xăng dầu B12 cho thấy: sau 30 phút tiếp xúc với vật liệu PP biến tính, lớp màng dầu loang được tách loại khỏi mặt nước, cải thiện các chỉ số chất lượng nước biển sau xử lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Xác lập điều kiện công nghệ và quy luật của phản ứng trùng hợp ghép gốc tự do các vinyl monome kỵ nước (LMA, BA, MAA) lên nền sợi polypropylen trong dung dịch sử dụng chất khơi mào AIBN.
  • Làm rõ vai trò của chất tạo lưới DVB trong việc thiết lập cấu trúc mạng lưới không gian ba chiều (organogel), giúp tăng cường dung lượng hấp thu và khả năng phục hồi đàn hồi của vật liệu.
  • Cung cấp các tham số động học biểu kiến (bậc một, bậc hai) và các hằng số nhiệt động đẳng nhiệt (Freundlich, Langmuir, Temkin) mô tả cơ chế hấp phụ dầu trên nền sợi PP biến tính.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Chế tạo thành công vật liệu hấp thu dầu dạng sợi trên cơ sở PP biến tính có khả năng hấp thu cao đối với nhiều loại dầu mỏ (dầu thô, FO, DO, xăng) và dung môi hữu cơ.
  • Vật liệu có tỷ trọng thấp, nổi hoàn toàn trên mặt nước, kỵ nước triệt để và có thể tái sử dụng qua 10 chu kỳ vắt cơ học.
  • Đã thử nghiệm thành công trên mẫu nước biển nhiễm dầu thực tế tại Công ty xăng dầu B12, chứng minh khả năng ứng dụng trong công tác ứng phó và xử lý sự cố tràn dầu ven biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm và thử nghiệm hiện trường quy mô mẫu nhỏ; bản chất nền polypropylen không có khả năng tự phân hủy sinh học nhanh trong môi trường tự nhiên sau khi kết thúc chu kỳ sử dụng; quá trình tổng hợp sử dụng dung môi hữu cơ cần kiểm soát thu hồi dung môi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng quy mô tổng hợp bán công nghiệp; nghiên cứu bổ sung các phụ gia thân thiện hoặc phụ gia quang phân hủy nhằm giảm thiểu tác động môi trường của bã thải polyme sau sử dụng; thiết kế tích hợp vật liệu thành các sản phẩm thương mại hoàn chỉnh (phao quây, tấm thấm, gối hút dầu) kèm thiết bị vắt thu hồi dầu cơ giới hóa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Hóa môi trường, Hóa polyme và Khoa học vật liệu; cung cấp quy trình phân tích đặc trưng vật liệu (FT-IR, TGA, DSC, SEM, BET) và phương pháp xử lý dữ liệu động học/đẳng nhiệt hấp phụ.
  • Đối với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp xăng dầu: Cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp vật liệu ứng cứu sự cố tràn dầu tại các cảng biển, kho bãi xăng dầu, nhà máy lọc dầu và các vùng ven biển có nguy cơ ô nhiễm hidrocacbon.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục đích chính của việc trùng hợp ghép các vinyl monome lên sợi polypropylen là gì?
Phản ứng trùng hợp ghép đưa các chuỗi nhánh chứa gốc ankyl ưa dầu (từ LMA, BA) hoặc nhóm chức hữu cơ lên mạch polypropylen, làm tăng ái lực hóa học với các phân tử hidrocacbon của dầu, mở rộng diện tích tiếp xúc bề mặt và nâng cao dung lượng hấp thu dầu của sợi.

2. Chất tạo lưới Divinyl benzen (DVB) có vai trò gì trong cấu trúc vật liệu?
DVB đóng vai trò tạo liên kết ngang giữa các mạch polyme ghép, thiết lập cấu trúc mạng lưới không gian ba chiều (organogel). Mạng lưới này giúp vật liệu trương nở giữ dầu trong các lỗ trống mà không bị hòa tan, đồng thời tăng độ bền cơ học và tính đàn hồi khi thực hiện ép vắt thu hồi dầu.

3. Quá trình hấp phụ dầu của sợi PP biến tính tuân theo mô hình động học nào?
Dữ liệu thực nghiệm của luận án cho thấy quá trình hấp phụ dầu của sợi PP và các copolyme ghép phù hợp nhất với mô hình động học biểu kiến bậc hai (Pseudo-second-order), thể hiện qua hệ số tương quan tuyến tính $R^2$ cao.

4. Khả năng tái sử dụng của vật liệu được kiểm chứng qua bao nhiêu chu kỳ?
Vật liệu sợi PP biến tính có tạo lưới được kiểm chứng qua 10 chu kỳ hấp thu và giải hấp bằng phương pháp ép cơ học. Kết quả cho thấy vật liệu duy trì được dung lượng hấp thu dầu ổn định qua các chu kỳ.

5. Luận án đã thử nghiệm xử lý dầu tràn trên loại mẫu thực tế nào?
Vật liệu được thử nghiệm xử lý xăng và dầu trong môi trường nước ngọt và môi trường nước biển lấy tại khu vực hoạt động của Công ty xăng dầu B12, với thời gian xử lý ghi nhận hiệu quả sau 30 phút tiếp xúc.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Hoàng Thu Hà đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu chế tạo vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở sợi polypropylen biến tính bằng phản ứng trùng hợp ghép các vinyl monome (LMA, BA, MAA) có và không có chất tạo lưới DVB. Bằng các phương pháp hóa lý hiện đại (FT-IR, TGA, DSC, SEM, BET) kết hợp khảo sát động học và đẳng nhiệt hấp phụ, công trình đã làm sáng tỏ cơ chế hình thành mạng organogel kỵ nước - ưa dầu và khả năng lưu giữ hidrocacbon của vật liệu. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn rõ ràng trong việc phát triển vật liệu ứng phó sự cố tràn dầu tại vùng biển và các cơ sở xăng dầu ở Việt Nam.