CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây chè 1. Ngu n gốc, phân bố và vai trò của cây chè Cây chè (Camellia sinensis (L.
Kuntze), thuộc họ Chè (Theaceae), là cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng cây chè có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) và vùng Assam (Ấn Độ), nơi có điều kiện khí hậu ẩm ướt quanh năm [20, 39]. Hiện nay chè đã được trồng khá rộng trong những điều kiện tự nhiên khác nhau, từ 30° vĩ độ Nam đến 45° vĩ độ Bắc. Những thành tựu khoa học của các nhà chọn giống cây trồng ở Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Nhật Bản, ….
đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu khác nhau, có triển vọng cho phát triển ngành chè trên thế giới [23]. Chè là một trong những loại đồ uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao, được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong chè chứa khoảng vài trăm chất hóa học hữu cơ, chất khoáng và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho sức khỏe con người. Một số lợi ích của việc uống chè đối với sức khỏe là tăng hoạt động của các chất chống ôxi hóa, làm tăng hệ miễn dịch, kích thích tiêu mỡ, chống béo phì và chống lại một số bệnh ung thư chiếm tỷ lệ cao như ung thư da, phổi, tiền liệt tuyến, đặc biệt là bệnh ung thư vú và làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu.
Ước tính trung bình mỗi ngày có khoảng 20 tỷ chén nước chè được tiêu thụ trên toàn cầu. Bên cạnh đó các sản phẩm được chế biến từ chè xanh, chè đen, chè ô long còn phục vụ rất nhiều lợi ích trong ngành công nghiệp dược liệu, mỹ phẩm và đời sống sinh hoạt [23, 39, 78]. Ở Việt Nam, chè là cây trồng bản địa truyền thống, ngoài ý nghĩa kinh tế chè còn có tác dụng bảo vệ môi trường tạo ra một thảm thực vật phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Cây chè còn là cây xoá đói giảm nghèo tạo công ăn việc làm và ổn định đời sống cho hàng chục vạn hộ gia đình.
Các giống chè được trồng chủ yếu ở nước ta hiện nay là chè Trung du trồng hạt chiếm 36%, LDP1 chiếm 13%, LDP2 chiếm 14%, Shan chiếm 12%, PH1 chiếm 10% và còn lại là các giống chè khác [20, 39, 48, 121]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặ ểm hình thái và sinh thái của cây chè 1. Đặc điểm hình thái của cây chè Chè là loại cây lâu năm, có thân thẳng tròn, phân nhánh liên tục thành hệ thống cành và chồi.
Tùy theo chiều cao, độ to nhỏ của thân và cành người ta chia chè thành 3 dạng: cây bụi, cây gỗ, cây gỗ vừa. Hoa chè bắt đầu hình thành trên cây 2 - 3 năm tuổi, hoa lưỡng tính, tràng có 5 - 9 cánh màu trắng hay phớt hồng. Quả chè loại nang có 3 - 4 hạt, dạng hình tròn, tam giác hoặc vuông, tùy theo số hạt ở bên trong. Vỏ quả non có màu xanh, khi chín chuyển thành màu nâu và nứt ra.
Lá chè có màu từ xanh đến vàng, hình dạng khác nhau: thuôn, mũi mác, ô van, trứng gà, gần tròn. Tổng diện tích lá cây chè có tương quan thuận, chặt với tổng sinh khối chè, sinh khối thân cành. Bộ lá càng phát triển thì cây càng hoàn thiện và cho năng suất cao. Búp chè là giai đoạn non của một cành chè, cũng chính là đối tượng thu hái của người trồng chè.
Búp chè gồm có tôm (phần lá non trên đỉnh chưa xòe) và 2 hoặc 3 lá non. Búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian, nếu để tự nhiên thì một năm có 4 - 5 đợt sinh trưởng [20, 23, 39]. Đặc điểm của hệ rễ cây chè Rễ chè là bộ phận giữ cho cây thẳng đứng để hút nước và các chất dinh dưỡng từ đất lên cây. Rễ chè bao gồm rễ trụ (rễ cọc), rễ hút và rễ dẫn.
Rễ hút là các rễ có đường kính < 1 mm, có màu vàng ngà. Rễ dẫn là các rễ có đường kính > 1 mm, được chia thành 5 nhóm tính theo đường kính rễ, trong đó nhóm 1 từ 1 - 2 mm, nhóm 2 từ 2 - 3 mm, nhóm 3 từ 3 - 4 mm, nhóm 4 từ 4 - 5 mm, nhóm 5 từ > 5 mm. Rễ dẫn thường có màu nâu hoặc nâu đỏ. Đối với cây chè sinh trưởng từ hạt thì ngay từ lúc bắt đầu ra rễ đã phân biệt rõ rễ cọc với các loại rễ khác.
Còn đối với cây chè nhân giống vô tính hoặc giâm cành thì lúc cây con có bộ rễ kiểu chùm, khi cây sinh trưởng phát triển lâu năm thì biểu hiện rễ cọc sẽ rất rõ. Tổng sinh khối bộ rễ chè thường có mối tương quan thuận với đường kính thân chè và sự phát triển của bộ lá, đường kính tán cây chè. Sự phát triển và phân bố của bộ rễ của cây chè phụ thuộc vào giống chè, tuổi chè, chế độ bón phân và đặc điểm điều kiện môi trường đất. Theo Lê Đình 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giang (1997) - được trích bởi Đoàn Hùng Tiến và Đỗ Văn Ngọc (1998), khi nghiên cứu sự phân bố bộ rễ theo chiều sâu của các cây chè trồng bằng giâm cành ở thời điểm 8 tuổi cho thấy giống PH1 ăn sâu 130 cm, giống TRI777, 1A và TH3 ăn sâu 120 cm.
Các giống chè đều có khối lượng bộ rễ phân bố tập trung ở độ sâu 0 - 40 cm (chiếm khoảng 83 - 87%), sau đó giảm nhanh đối với rễ dẫn, còn rễ hút giảm chậm hơn. Khoảng 60% tổng rễ hút tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt (0 - 20 cm). Sự phân bố rễ chè theo chiều ngang tuân theo quy luật giảm dần từ vị trí gốc chè ra 2 phía hàng chè [48]. Theo Lê Văn Đức - cũng được trích bởi Đoàn Hùng Tiến và Đỗ Văn Ngọc (1998), khi bón cân đối phân khoáng N, P, K làm tăng tổng số lá chè, sinh khối cây chè và sinh khối rễ hút.
Ngược lại khi bón đơn lẻ phân lân, kali hoặc bón phối hợp phân lân và kali đã không làm tăng, thậm chí còn làm giảm số lá chè và sinh khối rễ hút so với không bón [48]. Theo Jianyun Ruan và cộng sự (2007), pH vùng rễ và dạng tồn tại của nitơ NH4 và NO3- trong đất có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của hệ rễ chè, kích + thước thân lá và các chỉ tiêu sinh hóa trong sản phẩm chè nghiên cứu. Khi tiến hành thí nghiệm bổ sung nguồn dinh dưỡng nitơ (NH4+, NO3- hoặc 50% NH4+ và 50% NO3-) ở pH = 4,0; 5,0; 6,0 sau 4 tuần cho thấy tại pH = 5 cây chè có khả năng hấp thu NH4+ nhiều hơn 2 đến 3,4 lần so với NO3-. Hình thái rễ và sự phát triển của hệ rễ cây chè cũng có sự khác nhau rất rõ giữa các giá trị pH vùng rễ.
Ở pH = 5 cây chè trong thí nghiệm bổ sung NH4+, 50% NH4+ và 50% NO3- phát triển tốt, tăng chiều dài rễ dẫn và phát triển nhiều rễ hút màu trắng hơn so với cây trong thí nghiệm chỉ bổ sung NO3-. Ngược lại, ở pH = 6 sự phát triển của cây chè bị kìm hãm, các rễ hút có màu nâu. Ở pH = 4 sự phát triển của rễ chè cũng giảm mạnh, sinh khối cây chè giảm rõ nhất tại mức pH này ở thí nghiệm bổ sung NO3- [70]. Việc phát triển sinh khối rễ chè dưới mặt đất còn góp một phần đặc biệt quan trọng đối với sự làm giàu C trong đất trồng chè.
Theo Willson và Clifford (1992), ở các đất vườn chè ở miền Bắc Ấn Độ có thành phần cơ giới từ cát nhẹ đến sét nặng, nhiệt độ tối thích cho sinh trưởng của cây chè là 19 - 220C, có điều kiện chăm sóc tốt thì những cây chè trưởng thành có chiều dài rễ thường lớn hơn 15 m. Khi đó, cây chè sẽ thích nghi tốt trong điều kiện khô hạn và tăng cường tối đa khả năng huy động các chất dinh dưỡng ở các tầng đất sâu, đồng thời còn tăng khả năng thấm nước của đất trong mùa mưa [114]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Yêu cầu sinh thái của cây chè - Nhiệt độ: Cây chè sinh trưởng, phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ từ 18 - o 25 C.
Các giống chè khác nhau có điều kiện thích nghi về nhiệt độ khác nhau, ở Việt Nam giống chè Shan có khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ thấp tốt hơn so với chè Trung du. - Ánh sáng: Cây chè vốn là loại cây rừng, mọc trong điều kiện râm mát, ẩm ướt của vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa. Về nhu cầu ánh sáng, chè là cây trung tính, ở giai đoạn cây non thì ưa bóng râm, khi lớn lên cây ưa sáng. Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến chất lượng chè.
Sương mù nhiều, ẩm ướt, nhiệt độ thấp thuận lợi cho sản xuất chè có chất lượng cao. Ấn Độ, Sri Lanka, Đông Phi đều trồng cây che bóng cho chè ở những vùng thấp, nắng nóng. Khi trồng các cây che bóng trên đồi chè ở Ấn Độ làm giảm 30% ánh sáng và tăng 34% năng suất chè [89]. Ở Việt Nam, người dân thường sử dụng các tập đoàn cây bộ đậu làm cây che bóng cho chè, đáng chú ý có cây muồng đen ở Tây Nguyên, cây tràm lá nhọn ở các tỉnh phía Bắc [8, 35].
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình thích hợp cho cây chè sinh trưởng từ 1.000 mm/năm và độ ẩm không khí là 80 - 85%. Ở các vùng trồng chè Việt Nam, lượng mưa luôn tỷ lệ thuận với năng suất chè, trung bình mỗi tháng cứ tăng 100 mm thì sản lượng chè tăng 10% [39]. - Mực nước ngầm: Vì chè không chịu được điều kiện ngập nước lâu nên mực nước ngầm phải thấp hơn 1 m, ở nơi có mực nước ngầm cao chè dễ bị chết [20, 23, 39]. Đặ ểm củ t tr ng chè Đặc điểm của đất có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây chè và quyết định năng suất, chất lượng chè.
Trong đó độ dày tầng đất, thành phần cấu trúc đất, độ chua, khả năng cung cấp nước và các chất dinh dưỡng là những yếu tố đáng lưu tâm nhất [5, 11, 20, 23, 39, 48].