MỞ ĐẦU Điều kiện tự nhiên ưu đãi cho đất nước, con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc. Hệ thực vật ở Việt Nam ước tính có khoảng 13.000 loài với khoảng 11.000 loài thực vat bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nắm và hơn 2000 loài tảo. Tính đến nay đã có hơn 3800 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền nhằm kháng khuẩn, kháng nắm, chống viêm nhiễm, chống ung thư, điều hòa miễn dịch, chữa các bệnh liên quan đến tim mạch, điệt côn trùng. Trong những năm gan đây xu thế nghiên cứu phân lập, chuyển hóa, xác định cấu trúc, đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất thiên nhiên áp dụng để làm thuốc ngày càng được các nhà khoa học quan tâm đặc biệt.
Xu hướng quay trở lại sử dụng các sản phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược đề phòng và điều trị bệnh trở nên thịnh hành không chỉ trên thế giới mà còn ở cả Việt Nam. Do đó, nền y học cô truyền nước ta đang ngày càng được hiện đại hóa dé có thé phát triển hài hòa với y học hiện đại: với việc tìm ra thuốc mới dựa trên kinh nghiệm dân gian, chiết tách và đánh giá tác dụng chữa bệnh của các hợp chất từ tự nhiên, tiêu chuẩn hóa được liệu và thuốc đông được. Đã có rất nhiều hợp chat thiên nhiên được sử dụng dé chữa các bệnh hiểm nghèo HIV/AIDS, ung thư, viêm nhiễm, tiểu đường, tim mạch. điển hình như sử dụng vinblastin, vincristin phân lập từ cây dừa cạn làm thuốc chữa ung thư [117].
Các hợp chất thiên nhiên ngày càng cuốn hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà khoa học, tạo tiền dé cho việc phát hiện và phát triển các thuốc mới. Chi Polygonum (họ rau Răm, Polygonaceae) có khoảng 230 loài phân bố chủ yếu ở phía bắc bán cầu trong đó có Việt Nam. Nhiều loài trong chi này được sử dụng trong y học dân gian với công dụng kháng viêm, lưu thông máu, chữa ly, lợi tiểu [4]. Theo các nghiên cứu đã công bố thành phần hóa học của các loài thuộc chi Polygonum bao gồm: flavonoid, acid phenolic, stilbenoid, tannin, terpenoid và quinon với nhiều tác dụng được lý đáng chú ý như chống khối u, chống oxy hóa, chống viêm, chống HIV, chống suy giảm miễn dịch và chống côn trùng [110].
Như chúng ta đã biết, hoạt chất của mỗi loài thực vật được quy định không chỉ bởi giống, loài mà còn bởi điều kiện khí hậu, thô nhưỡng. Cả ba loài cây thuộc chi Polygonum là cây thom lồm gai (Polygonum perfoliatum L.), cây nghề trắng (Polygonum barbatum L.), cây mé tử liễu (Polygonum plebeium R.) tuy đã được nghiên cứu trên thế giới nhưng ở Việt Nam hầu như chưa có công bố nào về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học. Vì thế nghiên cứu chiết xuất, phân lập các hoạt chất và làm sáng tỏ tác dụng sinh học của ba loài này thu thập tại Việt Nam là một việc làm cần thiết, phù hợp với khuôn khổ của một dé tài luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu thành phần hóa học 3 loài thuộc chi Polygonum, họ Rau ram (Polygonaceae): Thồm lồm gai (Polygonum perfoliatum L.), nghé trắng (Polygonum barbatum L.), mễ tir liễu (Polygonum plebeium R. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu chiết xuất, phân lập, xác định cấu trúc các chất; khảo sát hoạt tính của các phân đoạn chiết, hợp chat phân lập từ ba loài cây của chi Polygonum thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), góp phần tạo cơ sở dữ liệu khoa học về thành phần hóa học, tác dụng sinh học cũng như ứng dụng vào thực tiễn, nâng cao giá trị sử dụng của các loài cây này.
Đối tượng nghiên cứu cụ thé là ba loài: Polygonum perfoliatum L. Nội dung nghiên cứu - Thu thập, tong quan cac tai liéu vé héa hoe, y học, sinh dược hoc trong nước va quốc tế về chi Polygonum, đặc biệt chú trọng 3 loài là đối tượng nghiên cứu. - Thu gom các mẫu cây và giám định thực vật của ba loài cây được chọn. - Điều chế các cặn chiết, thử hoạt tính sinh học của các cặn chiết từ ba đối tượng nghiên cứu đề định hướng chiết xuất phân lập chất tinh khiết.
- Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ các cặn chiết. - Thử hoạt tính sinh học của một số hợp chất chọn lọc từ các hợp chất phân lập được. Thực vật hoc Mô tả: Chi Polygonum thuộc họ Rau ram (Polygonaceae), là loại cỏ một năm hoặc nhiều năm, một số ít dạng cây bụi; thân đứng thắng, chếch, bò lan hoặc bò trườn, phân cành ít hoặc nhiều; có gai mọc ngược hoặc không, có lông tuyến hoặc nhẫn, một số ít có điểm tuyến, lóng dài hoặc ngắn; đốt có rễ hoặc không, rễ mảnh hoặc thô. Lá mọc cách, có cuống hoặc gần như không cuống; phiến lá nguyên, một số Ít chia thùy, hình dạng và kích thước khác nhau, mỏng, 2 mặt có lông tơ hoặc không, một số ít có điểm tuyến, mép có lông tơ hoặc không, gân bên dạng lông chim, nỗi rõ ở mặt dưới lá, chóp nhọn ngắn, gốc hình nêm, hình tim, tròn, mũi tên hoặc bằng.
Be chìa hình ống, chất lá hoặc màng mỏng, mép vát hoặc cụt, mép có lông mi hoặc không. Hoa mọc tụm ở nách lá hoặc là cụm hoa dạng bông, dạng đầu hoặc chùy, mọc ở đỉnh cành hoặc nách lá, hình trụ hoặc hình sợi, phân nhánh hoặc không, hoa nhiều, xếp đơn độc hoặc 3-5 hoa mọc tụm trong mỗi lá bắc, lá bắc hình phéu, mép vat, có lông hoặc không. Hoa mẫu 4-5, lưỡng tính, một số it đơn tính, nhỏ, màu trắng, hồng hoặc vàng xanh, cuống mềm yếu, có mau. Bao hoa 4-5 mảnh, một số ít 3, nhẫn, không có lông, một số it có điểm tuyến, đồng trưởng hoặc không đồng trưởng với quả.
Nhị 5-8, một số ít 1-4, thường ngắn hơn bao hoa, bao phấn đính lưng, 2 ô, hướng trong, mở theo khe dọc. Bầu thượng, hình trứng, 3 cạnh, 3 lá noãn, | 6, có 1 noãn, thăng, đính gốc; vòi nhụy 2 hoặc 3, rời nhau hoặc dính nhau ở phan dưới; đầu nhuy dạng đầu. Quả bề hình trứng, 3 cạnh nhọn hoặc tù hoặc là hình thấu kính lồi 2 mặt, màu nâu đen nhăn bóng, được bao trong bao hoa đồng trưởng hoặc không. Hạt có phôi ở bên, rễ mầm dài, lá mầm nhỏ, đẹp [5].
Phân bố: Chi Polygonum có khoảng 230 loài, phân bố rộng rãi toàn cầu, chủ yếu ở các vùng ôn đới Bắc bán cầu. Ở Việt Nam, đây là chi có số lượng nhiều nhất trong họ Rau răm, phân bố khắp đất nước từ bắc tới nam [1]. Theo Võ Văn Chi, ở nước ta các loài liệt kê trong bảng 1.1 được xếp vào chi này [4]. Một số loài thuộc chi Polygonum ở Việt Nam Tên khoa học Tên thường gọi LP.
runcinatum Buch-Ham P.posumbu Buch-HametD.Don) Hara Muehlenbeckia platyclada (F. ex Trúc tiết liễu Hook. microcarpus Campd Chit chit _ 41 |R. nepalensis Chit chitnepal 1.
Thành phần hóa học Thanh phan hóa học của các loài thuộc chi Polygonum rat đa dang và phong phú với nhiều tác dụng sinh học có giá trị. Lớp chất đại điện cho các loài thuộc chi này đã được công bé phân lập bao gồm: flavonoid, acid phenolic, stilbenoid, tannin, terpenoid va quinon. Flavonoid Flavonoid và các dẫn xuất glycosid của nó là các chất chuyên hóa thứ cấp quan trọng nhất phân bồ rộng rãi trong chi Polygonum. Chúng có thé được coi như dấu vân tay hóa học cho các loài thuộc chi này.
Nhiều flavonoid đã được phân lập và xác định cấu trúc từ các loài P. Trong đó, các dẫn xuất glycosid có aglycon liên kết với đường ở vị trí C-3, một vài chất xuất hiện ở C-7 và chủ yếu tồn tại ở dạng đơn glycosid, bao gồm cả liên kết O-glycosid và C-glycosid nhưng O-glycosid phô biến hơn. Aglycon phô biến là: kaempferol, quercetin, myricetin, isorhamnetin, luteolin va rhamnetin. Các đường phổ biến là glucose, galactose, rhamnose, arabinose, xylose [19], [110], [142].
Smzolar va cộng sự phân lập được kaempferol (1) và quercetin-3-methyl ether (2) từ cặn chiết etyl axetat của P. Kim HJ phân lập năm flavonoid là avicularin (3), astragalin (4), betmidin (5), juglanin (6) từ P. hydropiper các nhà khoa học phân lập được 19 flavonoid và các dẫn xuất glycosid, flavonoid sulfat bao gồm 4, isorhamnetin 3-O-glucuronid (7), galloyl quercitrin (8), quercetin (9), galloyl kaempferol 3-O-glucosid (10), quercitrin (11), scutellarein (15), scutellarein 7-O-glucosid (16), 6-hydroxyluteolin (17), 6- hydroxyluteolin 7-O-glucosid (18), 7,4'-dimethylquercetin (20), 3'-methylquercetin (21), isoquercetrin (22), quercetin 3-sulfat (25), isorhamnetin-3,7-disulfat (26), percicarin (27), rhamnazin (28), rhamnezin-3-sulfat (29), tamarixetin 3-glucosid-7- sulfat (30) [60], [61], [115], [153]. Rs R, = Rạ = CHạ, R.=OCH:, Ry=H, Rg=OCH Bị = Rạ = Ry=H, Rạ= Re= OH OR;O 16_R; = R¿= H, Rạ= Rs= OH Rạ =Glu 1 R¿=Ra=Rạ=H 17 Ry =Rg3 =H, Ro= Ry= R5=OH 2 R,=CH3, Rạ=OH, Rạ=H 18 Ry =H, Rạ = Rạ= R;=OH, Rg =Glu 3 Rị = Ara (fu), Ry = OH, Rạ= 19 Ry =H, Re = OCHg, Rg =CHạ, R„= Re=H 4 5 A = Ara (fu), Ro = Rg= OH R¿=Glu, Ro=R3=H 6 R, =Ara (fu), Ro = Rạ=H 20 R, = R„-=CH-, Ro = Re=H 1 = l= 37 TẠ2 = N= 7 Rị=GIuA, Re= OCH3, Rạ= H R„O 21 Rị=Rạ =R¿=H, Rạ=CHạ 8 Ry = Rha’ 2 -galloyl), _ = Rạ= H 22 Ry = Ro = Ry= H, Rạ= Glu 9 Ry = Rg= H, Rạ= OH 23 Rị = Ro= OH, Ra=Gla, Ry =H 10 Ry = Glu (2"-galloyl), Ro = R3=H 24 Ry = Ro= OH, R3=Ara, Ry =H 11 Ry =Rha, Ro = OH, Rạ=H 12 Ry, = Rha, Ro = Ra=H 13 Ry; =H, Ro =Re= OH ors H3CO.
O OCH3 @ OH OH 32 31 O OH 25 26 Ry = OH, Ro=OCHs, Rạ= Ry= OSO3K 6 S Ss OCH3 59 R =OAng 27 Ry, = Re= OH, Ro = OCHạ, Rạ= OSO3K 40 R, = OiVal 28 Rị = Rạ= OH, Ro = Ry=OCH H3CO OH 41 R, =OMeBu 29 Ry = OH, Re = Ry= OCHạ, Ra= OSO3K R 30 Ry=OCHsg, Ro = OH, Rạ= O-Glu, Rạ= OSO3K Ọ Saeed H3CO Ro 42 Ry=H, Re =OCH; OH hạ 44 Ry=beta-OH, Ro=H 43 Rị= Glu, Re=H 45 Ry,=anpha-OH, Rp=H 46 Ri= beta-OH, Rp= OH oe "Hành” 33h; = Rạ=H, Ro =OH 34 R, = Rạ=H, Ro =OCH3 35 Ry, = OCHs, Re = OH, Rạ= H 36 Rị = OAng, Rạ = OH, Rạ= H HO CC 37 R, =OMeBu, Ro = OH, Rạ= H 38 Rị = OiVal, Ro = OH, Rạ= H OO OH O © OH HO. wo ho! [e) T OH O 49 R=OH OH HOW ALOK S v OH | Z „ ‘OH by ^ OH OH O OH O HO.