CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các nền kinh tế đang chuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ thông qua nhiều kênh khác nhau. Các nguồn ngoại tệ này là các nguồn lực quan trọng giúp các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các quốc gia này đã và đang đối mặt với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế.
ĐLH thường được xem là sản phẩm tất yếu, một thực thể khách quan gắn với cơ chế hoạt động của mô hình kinh tế mở, vì vậy, bản thân nội dung của hiện tượng này đã thể hiện tính tích cực của nó. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị ĐLH, quá trình điều hòa cung ứng tiền của ngân hàng trung ương gặp nhiều khó khăn, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của thị trường ngoại hối. Bên cạnh đó, khi những nội dung ĐLH bị lạm dụng bởi những yếu tố chủ quan, tự phát của các thành viên trong xã hội, hoặc khi các cơ quan quản lý kinh tế không có những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát được những mặt tiêu cực của nó, ĐLH sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường cho nền kinh tế - xã hội. Cùng cảnh ngộ như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam có một lịch sử lâu dài về việc sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền Việt Nam từ những năm 1960.
Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộng rãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam trãi qua một thời kỳ dài đầy khó khăn và thất bại trong chính sách giá – lương – tiền của đồng nội tệ, từ đó, công chúng càng mất niềm tin vào giá trị VND, tâm lý sùng bái vàng và ngoại tệ càng gia tăng, tình trạng ĐLH càng phức tạp. Tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 được chính thức công bố vào năm 1991 là 41,2% (không có số liệu vàng hóa), và từ đây vấn đề ĐLH bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Dodsworth và cộng sự (1996 ) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải (2004) [79]; Michiael Goujon (2006) [105]; Watanabe Shinichi (2006, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- 2007) [132,133]; Nguyễn, Thanh Bình (2009) [10]; Nguyễn, Anh Tuấn (2009) [9];… Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào phân tích và đánh giá tình trạng ĐLH dựa trên lý thuyết ĐLH thông thường bao gồm (i) thay thế tài sản dưới dạng tài sản bằng ngoại tệ và (ii) thay thế tiền tệ trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại. Sau đó tìm mọi biện pháp để trả lời cho câu hỏi: Làm sao hạn chế hiện tượng này ở mức độ chấp nhận được trong khi khai thác được những ảnh hưởng tích cực của ĐLH? Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong nền kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang tồn tại tình trạng ĐLH ở một mức độ nhất định, với những diễn biến khá phức tạp trong những năm qua, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐLH trên thế giới cũng như ở Việt Nam, song thực tiễn cho thấy tình trạng ĐLH vẫn còn tiếp diễn khá phức tạp, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập và vẫn chưa có một phương thức giải quyết hiệu quả đối với nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Đô la hóa (ĐLH) là một vấn đề được rất nhiều nhà kinh tế quan tâm, nghiên cứu, trong đó có một số nghiên cứu đề cập đến quá trình ĐLH nền kinh tế của Việt Nam tiêu biểu như: - Nghiên cứu của Andreas Hauskrecht và Nguyễn Thanh Hải (2004), “Đô la hóa ở Việt Nam” (Dollarization in Vietnam). Sử dụng phương pháp phân tích định tính để đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam dựa trên tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so với tổng tiền gởi.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, có 2 nguyên nhân chính gây ra ĐLH ở Việt Nam: thứ nhất, sự mất tín nhiệm của CSTT do tỷ lệ lạm phát cao và rất ổn định trong thời gian dài kết hợp với tỷ giá hối đoái suy giảm dẫn đến giá của rủi ro trên các tài sản danh nghĩa bằng tiền đồng tăng lên; thứ hai, mức tiết kiệm dưới hình thức các tài sản bằng nội tệ thấp và tương đối ngắn hạn. Đồng thời, nghiên cứu cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- nhận định rằng, ĐLH làm tăng độ sâu tài chính của nền kinh tế (M2/GDP). Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ mới đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2003, đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước thềm của WTO, chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cũng như chưa đối mặt với các nguồn ngoại tệ chuyển vào trong nước [79]. - Nghiên cứu của Michiael Goujon (2006), “Chống lạm phát trong nền kinh tế bị ĐLH: trường hợp của Việt Nam”(Fighting inflation in a dollarizated economy: The case of Vietnam).
Nghiên cứu chứng minh rằng, giai đoạn 1991-1999, nền kinh tế Việt Nam bị ĐLH, muốn kiểm soát lạm phát thì cần kiểm soát tỷ giá hối đoái và cung tiền M2. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giải thích mối quan hệ giữa lạm phát với biến động tỷ giá hối đoái và cung tiền M2 trong nền kinh tế bị ĐLH, không nghiên cứu mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH với lạm phát cũng như biến động tỷ giá hối đoái [105]. - Hai nghiên cứu của Watanabe Shinichi (2006, 2007) về hiện tượng ĐLH theo nhóm nước trong đó có đề cập đến Việt Nam như: “Đô la hóa không chính thức và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế và tài chính của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Defacto dollarization and its effect on financial development and economic growth of Cambodia, Lao PDR and Vietnam) và “Đô la hóa, kiều hối và chính sách tiền tệ của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Dollarization, Remittances and Monetary Policies in Cambodia, Lao PDR and Vietnam). Nghiên cứu đã xác định nguồn gốc của ĐLH từ nguồn kiều hối, chỉ ra vai trò quan trọng của kiều hối đối với thị trường ngoại hối.
Ngoài ra, nghiên cứu đã chứng minh được ở những quốc gia có TTNH không chính thức hoạt động hiệu quả và quy mô lớn thì xu hướng bị ĐLH càng cao. Đặc biệt, nghiên cứu đánh giá cao những thay đổi của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện Pháp luật ngoại hối giai đoạn 1996-2005. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa giải thích được tại sao khi có ngoại tệ từ kiều hối, người dân của 3 nước Campuchia, Lào và Việt Nam có xu hướng nắm giữ ngoại tệ [132],[133]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- - Nghiên cứu của Jayant Menon (2007), “Đối phó với ĐLH: Lựa chọn nào cho các nền kinh kế chuyển đổi ở Đông Nam Á?” (Dealing with Dollarization: What Options for the Transitional Economies of Southeast Asia?) cho rằng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Nam Á như Campuchia, Lào và Việt Nam, không nên lựa chọn ĐLH chính thức vì liên quan đến yếu tố chính trị, nhưng cũng không nên loại bỏ hoàn toàn ĐLH ra khỏi nền kinh tế, nghiên cứu phân tích thất bại của Chính phủ Lào khi cố gắng áp đặt nhiều biện pháp hành chính để loại bỏ ĐLH vào tháng 6 năm 1997, đồng thời nhấn mạnh nên xem ĐLH là “triệu chứng” từ sự bất ổn kinh tế vĩ mô, bất ổn chính trị, hệ thống tài chính và tiền tệ kém phát triển, hệ thống pháp luật quản lý ngoại hối lỏng lẻo.
Vì vậy, muốn loại bỏ ĐLH thì phải giải quyết những vấn đề trên và đánh giá cao kết quả giảm nhanh tình trạng ĐLH của Việt Nam giai đoạn 1996-2005. Tuy nhiên, bối cảnh của nghiên cứu là trước khi Việt Nam gia nhập WTO, độ mở cửa nền kinh tế chưa cao, nền kinh tế chưa trải qua nhiều biến động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do đó chưa phản ánh hết diễn biến và mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và các chỉ số kinh tế vĩ mô [92]. - Nghiên cứu của Patricia và Alicia (2008), “Đô la hóa và chống đô la hóa: hệ quả đối với chính sách tiền tệ” (To dollarize or de-dollarize: Consequences for Monetary). Nghiên cứu phân loại tình trạng ĐLH cao, trung bình và thấp ở một số quốc gia Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Isarel và Nga.
Dựa vào chuỗi dữ liệu từ quý 4/1986 đến quý 3/2006 đối với các nước: Argentina, Bolivia, Chile, Trung Quốc, Ecuador, Israel, Hàn Quốc, Malaysia, Peru, Philippin, Nga, Thái Lan, Uruguay và chuỗi dữ liệu ngắn hơn từ quý 1/1993 đến quý 3/2006 đối với các nước: Campuchia, Lào, Việt Nam, bằng mô hình VAR, nghiên cứu đã chứng minh những nước có tình trạng ĐLH càng cao thì phản ứng tích lũy của lạm phát do cú sốc tỷ giá càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá tác động giữa lạm phát và tỷ giá trong bối cảnh nền kinh tế có tình trạng ĐLH cao, chưa giải thích mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và lạm phát cũng như tỷ giá [118]. - Nghiên cứu của Luis Carranza và cộng sự (2009), “Tỷ giá hối đối và lạm phát trong các nền kinh tế đô la hóa” (Exchange rate and Inflation Dynamics in LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- Dollarized Economies) sử dụng dữ liệu ở 124 quốc gia (trong đó có Việt Nam) để phân tích thực nghiệm về cơ chế dẫn truyền của tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế bị ĐLH. Kết quả cho thấy, các quốc gia có tình trạng ĐLH cao, tác động dẫn truyền của biến động tỷ giá hối đoái đến lạm phát càng lớn.
Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu là cơ chế dẫn truyền của tỷ giá ở các nền kinh tế bị ĐLH, không nghiên cứu mối liên hệ giữa tình trạng ĐLH và biến động tỷ giá [102].