Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thái với đề tài "Nghiên cứu xây dựng chương trình một số môn thể thao tự chọn cho sinh viên khối các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh" thuộc chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 9140101), được bảo vệ năm 2021 tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Hồng Quang và Nguyễn Văn Hùng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giáo dục thể chất (GDTC) trong các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò cấu thành của mục tiêu đào tạo toàn diện con người, trang bị nền tảng thể lực và thói quen rèn luyện thân thể suốt đời cho sinh viên. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học đa ngành với quy mô đào tạo chính quy thời điểm nghiên cứu đạt 65.000 sinh viên, gồm 6 trường đại học thành viên: Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Trường Đại học Kinh tế - Luật.
Mặc dù giữ vai trò quan trọng, thực tiễn tổ chức GDTC tại ĐHQG TP.HCM tồn tại khoảng trống lớn: chương trình và nội dung môn học GDTC tại mỗi trường thành viên được tổ chức riêng biệt, thiếu sự thống nhất về chuẩn mực và tiến trình. Mặt khác, trong bối cảnh chuẩn bị thành lập Trung tâm Thể dục Thể thao trực thuộc ĐHQG TP.HCM để quản lý và giảng dạy tập trung, việc sắp xếp chương trình môn học, đa dạng hóa các môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích, giới tính của sinh viên cũng như điều kiện sân bãi của từng đơn vị là yêu cầu cấp thiết cần được giải quyết trên cơ sở khoa học thực nghiệm.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát là xây dựng chương trình một số môn thể thao tự chọn phù hợp nhằm nâng cao thể lực, đáp ứng nhu cầu, sở thích của sinh viên; qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn GDTC tại các trường thuộc ĐHQG TP.HCM. Đề tài xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn của các trường thuộc ĐHQG TP.HCM; xác định các tiêu chí đánh giá và phân tích thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, thể lực cùng nhu cầu tập luyện của sinh viên.
- Mục tiêu 2: Lựa chọn và xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của các trường và sở thích của sinh viên; xác định mục tiêu, chuẩn đầu ra, cấu trúc nội dung, phân phối thời lượng, đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy cho từng môn.
- Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy chương trình các môn thể thao tự chọn được xây dựng thông qua tổ chức thực nghiệm sư phạm, kiểm tra so sánh sự phát triển thể lực và kết quả học tập của sinh viên trước và sau thực nghiệm.
Giả thuyết khoa học
Xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích, giới tính của sinh viên ở các trường thuộc ĐHQG TP.HCM sẽ giúp sinh viên gia tăng sự hứng thú, tích cực học tập đối với các môn thể thao yêu thích; qua đó thể lực của sinh viên và chất lượng giảng dạy môn GDTC được cải thiện tốt hơn trong giai đoạn hiện tại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình giảng dạy một số môn thể thao tự chọn cho sinh viên khối các trường thuộc ĐHQG TP.HCM.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đại học chính quy lứa tuổi 18–22 (đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất), cán bộ quản lý và giảng viên giảng dạy GDTC.
- Phạm vi không gian: Các trường thành viên thuộc ĐHQG TP.HCM, trọng tâm khảo sát và tổ chức thực nghiệm tại 3 trường đại diện cho các khối ngành: Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tổng kết số liệu và hoàn thành năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình lý luận và thực tiễn trong nước và quốc tế liên quan đến phát triển chương trình đào tạo và đổi mới GDTC trường học.
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Về lý luận phát triển chương trình và thiết kế môn học, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Robert M.: Tài liệu "Xây dựng và đánh giá chương trình học và môn học", phân tích các vấn đề phát triển chương trình theo định hướng lấy người học làm trung tâm, mối quan hệ giữa mục tiêu, môn học, giảng dạy và cải tiến chương trình.
- Allan C. Ornstein và Francis P.: Tài liệu "Chương trình: Những cơ sở nguyên tắc, và chính sách xây dựng", xác lập các căn cứ triết học, tâm lý và xã hội của việc hoạch định chương trình giáo dục.
- Susan Tushey (1999): Công trình "Thiết kế môn học trong giáo dục học đại học", đề xuất mô hình, phương pháp thiết kế môn học và các chiến lược giảng dạy trong giáo dục đại học.
- Hilda Taba (1962): Công trình "Xây dựng chương trình: Lý luận và thực tiễn", đặt nền tảng cho quy trình phát triển chương trình từ khảo sát nhu cầu đến đánh giá kết quả.
- Schiffman & Kanuk (2001): Khung lý thuyết về động cơ tham gia thể thao phản ánh qua 5 giai đoạn: nhu cầu thừa nhận, giảm căng thẳng, trạng thái nỗ lực, sự mong muốn và mục tiêu hướng tới hành vi.
- Noovicop A.P. (1993): Khẳng định thể lực là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của con người trong quá trình giáo dục thể chất.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về GDTC và thể thao trường học được tác giả hệ thống hóa gồm:
- Vũ Đức Thu và cộng sự (1998): "Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp", đề xuất hệ thống tiêu chuẩn đánh giá hoạt động GDTC nội khóa và ngoại khóa.
- Nguyễn Trọng Hải và cộng sự (2001): "Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xác định nội dung GDTC cho SV các trường đại học và cao đẳng Việt Nam theo định hướng nghề nghiệp".
- Nguyễn Văn Thái (2006): "Thực trạng và định hướng phát triển công tác GDTC ở Đại học Cần Thơ".
- Hệ thống cơ sở lý thuyết GDTC của Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (khái niệm GDTC, tính tích cực học tập), Lưu Quang Hiệp, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Văn Đản về đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá thực trạng chung hoặc xây dựng chương trình khung mang tính định hướng toàn quốc. Luận án đi sâu giải quyết khoảng trống thực tiễn tại ĐHQG TP.HCM: thiết kế chi tiết 03 chương trình môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) gắn với đặc thù sinh viên từng khối ngành (Kỹ thuật, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội), đồng thời kiểm chứng hiệu quả thông qua thực nghiệm sư phạm đối chứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở pháp lý và lý luận
Luận án căn cứ trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và lý luận giáo dục thể chất:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục;
- Quyết định số 15/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP.HCM;
- Chỉ thị 133/TTg ngày 07/03/1995 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển ngành TDTT và Giáo dục đào tạo;
- Quy chế số 931/RLTC ngày 29/04/1993 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác GDTC trong nhà trường;
- Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/09/2008 của Bộ GD&ĐT quy định về đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên.
Về mặt lý luận, tác giả vận dụng các khái niệm về thể chất, hai mặt của GDTC (giáo dưỡng vận động và giáo dục thể chất), chất lượng dạy học (sự phù hợp với mục tiêu), động cơ học tập (gồm 5 loại: xã hội, nghề nghiệp, nhận thức, tự khẳng định, vụ lợi), cùng các đặc điểm giải phẫu, sinh lý (hệ thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, cơ xương) và tâm lý lứa tuổi 18–22.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành TDTT:
Phương pháp nghiên cứu = Tổng hợp & phân tích tài liệu + Phỏng vấn tọa đàm + Kiểm tra sư phạm + Thực nghiệm sư phạm + Toán học thống kê
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Hệ thống hóa các chủ trương, chính sách, giáo trình và tài liệu nghiên cứu chuyên môn.
- Phương pháp phỏng vấn: Thiết kế phiếu hỏi và phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên (GV) và sinh viên (SV) nhằm xác định tiêu chí đánh giá, lựa chọn nội dung, thời lượng môn học và đo lường mức độ hài lòng, hứng thú.
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đo lường 6 chỉ tiêu thể lực theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT và đánh giá điểm kết quả học tập môn học GDTC:
| Ký hiệu |
Tên chỉ tiêu kiểm tra thể lực |
Đơn vị đo |
Tố chất thể lực đánh giá |
| NNGB |
Nằm ngửa gập bụng |
Lần/30s |
Sức mạnh - sức bền cơ bụng |
| BXTC |
Bật xa tại chỗ |
Centimét (cm) |
Sức mạnh bộc phát của chân |
| C30 |
Chạy 30m xuất phát cao |
Giây (s) |
Sức nhanh tốc độ |
| C4X10 |
Chạy con thoi 4x10m |
Giây (s) |
Khả năng phối hợp vận động, khéo léo |
| LBTT |
Lực bóp thuận tay |
Ký lô gam (kg) |
Sức mạnh tĩnh biên độ tay thuận |
| CTS5P |
Chạy tùy sức 5 phút |
Mét (m) |
Sức bền chung (ưa khí) |
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng song song trên sinh viên năm thứ nhất tại 3 trường đại học thành viên trong năm học:
- Trường ĐH KHXH&NV: Nhóm thực nghiệm học Bóng rổ (NV.BR) vs Nhóm đối chứng học Bóng đá (NV.BĐ).
- Trường ĐH Bách Khoa: Nhóm thực nghiệm học Bóng chuyền (BK.BC) vs Nhóm đối chứng học Bóng đá (BK.BĐ).
- Trường ĐH Khoa học Tự nhiên: Nhóm thực nghiệm học Cầu lông (TN.CL) vs Nhóm đối chứng học Bóng đá (TN.BĐ).
- Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu khảo sát và đo đạc thực nghiệm trên phần mềm chuyên dụng; tính toán giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), kiểm định độ tin cậy thang đo (Item Statistics, Item-Total Statistics) và so sánh sự khác biệt giữa các nhóm trước và sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của đề tài qua các nội dung chính:
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDTC: Trích dẫn các tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục tháng 3/1946; thư gửi Hội nghị cán bộ TDTT miền Bắc ngày 31/3/1960), cùng các Nghị quyết của Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ xác định GDTC là bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực.
- Mục tiêu, nhiệm vụ GDTC đại học: Xác định 3 nhiệm vụ cơ bản: giáo dục tư tưởng - đạo đức lối sống, cung cấp tri thức - kỹ năng vận động môn thể thao, và nâng cao thể lực cho sinh viên.
- Khái niệm và cơ sở khoa học: Làm rõ các khái niệm thể chất, giáo dưỡng, giáo dục, chất lượng giáo dục, tính tích cực và động cơ tham gia thể thao. Phân tích đặc điểm sinh lý lứa tuổi 18–22 (sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ cao, cơ thân mình phát triển mạnh, khả năng hấp thụ oxy tối đa tăng 3,5 lần/phút, huyết áp tối đa khi vận động công suất lớn tăng khoảng 50 mmHg, mạch ổn định 70–80 lần/phút) và quy luật phát triển của 5 tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo).
- Nguyên tắc xây dựng chương trình thể thao tự chọn: Đề xuất kết cấu chương trình gồm 3 phần (Thuyết minh, Chương trình chi tiết, Kế hoạch thực hiện) và xác lập 10 yêu cầu then chốt: tính pháp lý; tính lý luận và logic; năng lực giảng viên và sân bãi dụng cụ; xác định nhiệm vụ buổi tập; vạch kế hoạch dạy học cụ thể; chuẩn bị sân bãi dụng cụ; đảm bảo cơ sở vật chất; xây dựng kế hoạch dạy học; phương pháp dạy học tích cực; đánh giá xếp loại thể lực theo chuẩn của Bộ GD&ĐT.
Chương II: Phương pháp và đối tượng nghiên cứu
Chương II mô tả chi tiết phương pháp luận và cách thức triển khai thực nghiệm:
- Đối tượng và khách thể: Đối tượng là chương trình các môn thể thao tự chọn; khách thể gồm sinh viên nam và nữ, giảng viên và cán bộ quản lý GDTC tại ĐHQG TP.HCM.
- Quy trình triển khai 5 phương pháp: Trình bày cấu trúc phiếu phỏng vấn, thang đo đánh giá độ tin cậy, hướng dẫn kỹ thuật kiểm tra 6 test thể lực tiêu chuẩn và phương pháp chấm điểm học phần môn GDTC.
- Kế hoạch tổ chức và địa điểm: Quy định các giai đoạn nghiên cứu từ đánh giá thực trạng, thiết kế chương trình, tổ chức thực nghiệm sư phạm đến thu thập số liệu và xử lý thống kê tại 3 trường đại học thành viên (Bách Khoa, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội và Nhân văn).
Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương III trình bày toàn bộ số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu tương ứng với 3 mục tiêu thông qua 59 bảng thống kê (Bảng 3.1 đến Bảng 3.59) và 15 biểu đồ (Biểu đồ 3.1 đến Biểu đồ 3.15):
1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC giờ tự chọn (Mục tiêu 1)
- Tiêu chí đánh giá: Xác định hệ thống tiêu chí thông qua phỏng vấn chuyên gia; kiểm định độ tin cậy của thang đo đạt yêu cầu thống kê (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3).
- Điều kiện đảm bảo: Phân tích mức độ quan tâm của Ban giám hiệu (Bảng 3.4, Biểu đồ 3.1); thống kê số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên GDTC tại các trường thành viên (Bảng 3.5, Bảng 3.6, Biểu đồ 3.2); đánh giá thực trạng diện tích, số lượng và chất lượng sân bãi, nhà tập, dụng cụ tập luyện (Bảng 3.7, Bảng 3.8, Biểu đồ 3.3).
- Thực trạng chương trình và giảng dạy: Xác định sự cần thiết phải bổ sung các môn thể thao tự chọn (Bảng 3.9, Bảng 3.10, Bảng 3.11); thống kê danh mục các môn thể thao tự chọn đang giảng dạy và các môn đã được xây dựng chương trình (Bảng 3.12, Bảng 3.13); đánh giá mức độ phù hợp của nội dung giảng dạy đối với điều kiện trường và sự phát triển thể lực của sinh viên (Bảng 3.14, Bảng 3.15, Bảng 3.16, Biểu đồ 3.4, Biểu đồ 3.5).
- Thực trạng thể lực và học tập của sinh viên:
- Đánh giá tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC (Bảng 3.17).
- Thống kê mô tả và phân loại thể lực theo từng chỉ tiêu và thể lực chung của sinh viên ĐHQG TP.HCM theo tiêu chuẩn Bộ GD&ĐT (Bảng 3.18, Bảng 3.19, Bảng 3.20, Biểu đồ 3.6).
- Thống kê điểm trung bình môn học GDTC và xếp loại kết quả học tập (Bảng 3.21, Bảng 3.22, Biểu đồ 3.7).
- Khảo sát mức độ yêu thích, sự hài lòng và nhu cầu tập luyện các môn thể thao tự chọn của sinh viên năm nhất cùng các lý do lựa chọn (Bảng 3.23, Bảng 3.24, Bảng 3.25, Bảng 3.27, Biểu đồ 3.8, Biểu đồ 3.9). Kết quả khảo sát cho thấy Bóng rổ, Bóng chuyền và Cầu lông là những môn thể thao có nhu cầu tập luyện cao nhất và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của từng trường.
2. Xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn (Mục tiêu 2)
- Xác lập căn cứ xây dựng chương trình, mục tiêu môn học và dự kiến kết quả đạt được (Bảng 3.27, Bảng 3.28).
- Lựa chọn nội dung chuyên môn và phân phối thời lượng giảng dạy cho 3 môn thể thao tương ứng với 3 trường thành viên:
| Môn thể thao tự chọn |
Đơn vị áp dụng chương trình |
Nội dung xác định |
Phân phối thời lượng |
Tiến trình giảng dạy |
| Bóng rổ |
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn |
Bảng 3.29 |
Bảng 3.33 |
Bảng 3.36 |
| Bóng chuyền |
Trường ĐH Bách Khoa |
Bảng 3.30 |
Bảng 3.34 |
Bảng 3.37 |
| Cầu lông |
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên |
Bảng 3.31 |
Bảng 3.35 |
Bảng 3.38 |
- Khảo sát chuyên gia về thời lượng, số tiết và số buổi học (Bảng 3.32); xây dựng đề cương chi tiết môn học và tiến trình giảng dạy cho từng học phần.
- Đánh giá mức độ đảm bảo và sự phù hợp của chương trình được xây dựng trên 4 phương diện: sự phù hợp của mục tiêu (Bảng 3.39), nội dung chương trình (Bảng 3.40), tính hợp lý của cấu trúc (Bảng 3.41), và sự phù hợp của nội dung kiểm tra đánh giá (Bảng 3.42).
3. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm chương trình (Mục tiêu 3)
- Tổ chức thực nghiệm: Xác định số lượng mẫu tham gia thực nghiệm tại 3 trường (Bảng 3.43).
- Kiểm tra trước thực nghiệm (T.TN): Kết quả kiểm tra thể lực từng chỉ tiêu và thể lực chung giữa nhóm thực nghiệm (N.TN) và nhóm đối chứng (N.ĐC) của sinh viên nam và nữ tại cả 3 trường cho thấy sự tương đồng, không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê (Bảng 3.44, Bảng 3.45, Bảng 3.46, Biểu đồ 3.10).
- Kiểm tra sau thực nghiệm (S.TN):
- Kiểm nghiệm sự biến đổi thể lực trước - sau thực nghiệm của nhóm nam (Bảng 3.47, Bảng 3.49) và nhóm nữ (Bảng 3.48, Bảng 3.50).
- So sánh thể lực giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau can thiệp: nhóm thực nghiệm học các môn tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) có mức tăng trưởng thể lực ở các chỉ tiêu NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P và trình độ thể lực chung vượt trội rõ rệt so với nhóm đối chứng học môn truyền thống (Bảng 3.51, Bảng 3.52, Bảng 3.53, Biểu đồ 3.11).
- So sánh kết quả học tập: Điểm kiểm tra môn GDTC và tỷ lệ xếp loại học tập khá, giỏi của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê (Bảng 3.54, Bảng 3.55, Bảng 3.56, Biểu đồ 3.12, Biểu đồ 3.13).
- Đánh giá tâm lý: Nhóm thực nghiệm thể hiện mức độ yêu thích tập luyện, sự hài lòng về chương trình và tính tự giác, tích cực vận động cao hơn nhóm đối chứng (Bảng 3.57, Bảng 3.58, Bảng 3.59, Biểu đồ 3.14, Biểu đồ 3.15).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các căn cứ khoa học, nguyên tắc và quy trình sư phạm trong việc thiết kế, xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn cho sinh viên đại học trong điều kiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
- Xác định hệ thống tiêu chí khoa học đánh giá thực trạng công tác GDTC giờ tự chọn, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa việc đáp ứng sở thích thể thao của người học với việc nâng cao tính tự giác, tích cực và hiệu quả rèn luyện thể lực.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng về cơ sở vật chất sân bãi, đội ngũ giảng viên, trình độ thể lực và nhu cầu tập luyện môn tự chọn của sinh viên khối các trường thuộc ĐHQG TP.HCM.
- Xây dựng hoàn chỉnh chương trình chi tiết, phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy cho 03 môn thể thao tự chọn:
- Chương trình môn Bóng rổ cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM;
- Chương trình môn Bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM;
- Chương trình môn Cầu lông cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM.
- Chứng minh tính hiệu quả của chương trình thông qua thực nghiệm sư phạm: sinh viên theo học chương trình mới đạt kết quả cao hơn về các chỉ số thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo), nâng cao điểm số chuyên môn môn học GDTC và gia tăng mức độ hài lòng, hứng thú học tập.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề nghị Đại học Quốc gia TP.HCM và các trường thành viên phê duyệt và đưa vào áp dụng chính thức chương trình các môn thể thao tự chọn đã được xây dựng.
- Tăng cường đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất sân bãi, nhà tập và trang thiết bị dụng cụ thể thao đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn tự chọn.
- Thống nhất quy trình quản lý, tiến trình giảng dạy và chuẩn đánh giá môn GDTC trong toàn hệ thống, hướng tới hoạt động hiệu quả của Trung tâm Thể dục Thể thao trực thuộc ĐHQG TP.HCM.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi xây dựng chương trình và tổ chức thực nghiệm sư phạm mới chỉ tập trung vào 03 môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) tại 03 trường thành viên (Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), chưa mở rộng đầy đủ sang các trường thành viên còn lại (Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Kinh tế - Luật).
- Đối tượng thực nghiệm trọng tâm là sinh viên năm thứ nhất trong chương trình GDTC nội khóa.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục nghiên cứu xây dựng chương trình cho các môn thể thao tự chọn khác có nhu cầu cao như Bóng bàn, Bơi lội, Điền kinh, Võ thuật, Khiêu vũ thể thao.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu và triển khai ứng dụng cho tất cả các trường thành viên trực thuộc ĐHQG TP.HCM và các cơ sở giáo dục đại học khác trong khu vực phía Nam.
- Nghiên cứu cơ chế tích hợp hoạt động tập luyện TDTT ngoại khóa tại các câu lạc bộ thể thao sinh viên với chương trình GDTC nội khóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý giáo dục và Ban giám hiệu các trường đại học: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nhu cầu sinh viên, phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và tổ chức đào tạo GDTC khi thành lập Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM.
- Giảng viên Giáo dục Thể chất: Có thể sử dụng trực tiếp các đề cương chi tiết, bảng phân phối thời lượng, kế hoạch tiến trình bài giảng môn Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông và quy trình kiểm tra đánh giá thể lực theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Giáo dục học, GDTC: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu phát triển chương trình môn học, thiết kế phiếu hỏi kiểm định độ tin cậy thang đo và quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng trong nghiên cứu khoa học thể dục thể thao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn xây dựng chương trình cho những môn thể thao tự chọn nào và áp dụng tại các trường đại học cụ thể nào?
Luận án lựa chọn và thiết kế chương trình cho 03 môn thể thao tự chọn gắn với điều kiện và nhu cầu của 03 trường thành viên thuộc ĐHQG TP.HCM:
- Môn Bóng rổ áp dụng cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn;
- Môn Bóng chuyền áp dụng cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa;
- Môn Cầu lông áp dụng cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
2. Các chỉ tiêu kiểm tra sư phạm nào được sử dụng để đánh giá trình độ thể lực của sinh viên trong luận án?
Luận án sử dụng 06 chỉ tiêu kiểm tra thể lực tiêu chuẩn theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT:
- Nằm ngửa gập bụng (NNGB, đơn vị: lần/30s);
- Bật xa tại chỗ (BXTC, đơn vị: cm);
- Chạy 30m xuất phát cao (C30, đơn vị: s);
- Chạy con thoi 4x10m (C4X10, đơn vị: s);
- Lực bóp thuận tay (LBTT, đơn vị: kg);
- Chạy tùy sức 5 phút (CTS5P, đơn vị: m).
3. Động cơ học tập của sinh viên được phân loại thành những nhóm nào trong cơ sở lý thuyết của luận án?
Căn cứ vào lý luận tâm lý học lứa tuổi sinh viên 18–22, luận án phân loại động cơ học tập của sinh viên thành 5 nhóm:
- Động cơ xã hội: Thể hiện ý thức về nhu cầu, lợi ích và chuẩn mực của xã hội;
- Động cơ nghề nghiệp: Mong muốn nắm vững chuyên môn nghề nghiệp đã chọn;
- Động cơ nhận thức: Nhu cầu mở rộng hiểu biết, hoàn thiện bản thân và tiếp thu tri thức mới;
- Động cơ tự khẳng định mình: Ý thức về năng lực cá nhân và mong muốn thể hiện năng lực;
- Động cơ vụ lợi: Mục đích đạt được địa vị xã hội, mức lương hoặc lợi ích vật chất cá nhân.
4. Thiết kế thực nghiệm sư phạm của đề tài được tổ chức so sánh giữa các nhóm nào?
Thực nghiệm sư phạm được thiết kế đối chứng song song trên sinh viên năm thứ nhất tại 3 trường, bao gồm:
- Tại Trường ĐH KHXH&NV: Nhóm thực nghiệm học Bóng rổ (NV.BR) đối chứng với nhóm học Bóng đá (NV.BĐ).
- Tại Trường ĐH Bách Khoa: Nhóm thực nghiệm học Bóng chuyền (BK.BC) đối chứng với nhóm học Bóng đá (BK.BĐ).
- Tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên: Nhóm thực nghiệm học Cầu lông (TN.CL) đối chứng với nhóm học Bóng đá (TN.BĐ).
5. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh chương trình mới mang lại hiệu quả gì?
Sau thực nghiệm, nhóm thực nghiệm học chương trình các môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) đạt mức tăng trưởng vượt trội có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng trên cả 3 mặt:
- Nâng cao các chỉ số phát triển thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo);
- Nâng cao điểm trung bình môn học và tỷ lệ xếp loại học tập GDTC khá, giỏi;
- Gia tăng mức độ hứng thú, sự hài lòng và tính tự giác, tích cực rèn luyện thân thể.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Văn Thái đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về việc xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) cho sinh viên khối các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc phân tích thực trạng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, trình độ thể lực và nhu cầu của sinh viên, tác giả đã thiết kế hệ thống đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy khoa học. Kết quả thực nghiệm sư phạm đối chứng khẳng định chương trình mới nâng cao rõ rệt các tố chất thể lực, kết quả học tập cũng như tính tích cực vận động của sinh viên. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ công tác chuẩn hóa và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại ĐHQG TP.HCM.