Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên ở các trường Cao đẳng khối Kinh tế Kỹ thuật. Chương 2: Thực trạng về đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình. Chương 3: Những biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011- 2020. 10 z Toi da doc va thay tuong doi tot roi.Co the bo sung mot vai diem nhu sau.1 noi ve dac diem cua giang vien cac truong cao dang kinh te ki thuat can lam ro nhung dac thu ve CHUYEN MON, NANG LUC SU PHAM , KHA NANG THUC HANH, SU DUNG TRANG THIET BI, CONG NGHE THONG TIN,,.
dac trung cho doi ngu nay.Hai la mot so cau trinh dan cua em chua co nguon, can bo sung.Con lai la tot roi.Chuc thanh congCH|ƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KHỐI KINH TẾ KỸ THUẬT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý đội ngũ giảng viên là một đề tài được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu với những mục đích và dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể như: - Đề tài: “ Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình trong giai đoạn 2006- 2010” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Lệ Hường, năm 2006; Đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình giai đoạn 2006- 2010. - Đề tài: “ Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của Thạc sĩ Hoàng Ngọc Hiền, năm 2007; - Đề tài: “ Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường Đại học” của Thạc sĩ Trần Ngọc Huy, năm 2007; - Đề tài: “ Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Xây dựng” của Thạc sĩ Lê Văn Dũng, năm 2008; Các công trình, đề tài nghiên cứu với những mục tiêu và hoàn cảnh khác nhau.
Tuy nhiên, các đề tài trên cũng đã đề cập nhiều biện pháp trong công tác quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên của trường mình. Song, các đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích và đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ 11 z giảng viên cho tổ chức của mình nên phạm vi áp dụng còn hạn chế. Chưa có đề tài nào nghiên cứu quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật giai đoạn 2011- 2020. Chính vì vậy tác giả nghiên cứu Đề tài: “ Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011- 2020”.
Tác giả cố gắng phân tích, đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020. Các khái niệm cơ bản 1. Giảng viên Theo điều 61 Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 chỉ rõ: “ Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên” [4, tr 56].
Theo Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Giảng viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học”. Trang 50 Luật giáo dục (1999), Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (10.2004), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nhà giáo là nhân tố ảnh hưởng chính và quyết định đến chất lượng của giáo dục. Sản phẩm lao động của họ là những con người được giáo dục, đào tạo về kiến thức cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lao động đáp ứng nhu cầu của kinh tế xã hội.
Trong thời kỳ Hội nhập Kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay càng đòi hỏi một nền giáo dục chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Những người trực tiếp tạo ra sản phẩm đó chính là nhà giáo, họ là người mang kiến thức đến cho 12 z người học và đồng thời hình thành ở họ nhân cách và đạo đức cho lớp lớp thế hệ nối tiếp nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Với nguồn nhân lực vừa hồng, vừa chuyên đó sẽ góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới. Họ không những truyền thụ kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng thực hành cho sinh viên mà còn dạy cho các em cách học, cách đưa ra sáng kiến, ý tưởng trong công việc; xây dựng nhân cách cho sinh viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Luật Giáo dục, điều 14 nói về vai trò của nhà giáo: “Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học” [4, tr 13]. Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục, để đáp ứng với những thay đổi không ngừng trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa và xã hội thì yêu cầu đối với đội ngũ nhà giáo ngày một chất lượng hơn. * Yêu cầu nhà giáo phải có các phẩm chất, năng lực sau: Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong các nghề cao quý.
Người thầy giáo được xã hội tôn vinh là những kỹ sư tâm hồn. Để xứng đáng với nghề cao quý đó, nhà giáo phải thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình được quy định rõ ràng trong Luật Giáo dục a) Phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Bất cứ một nghề nào cũng đặt phẩm chất chính trị, đạo đức lên hàng đầu, đặc biệt là nghề nhà giáo thì phẩm chất này càng được đề cao hơn bao giờ hết. Bởi người giáo viên như những tấm gương soi rọi, tấm gương có trong, có sáng thì mới thấy hết được ưu, nhược điểm và khả năng nhận thức của người học trò mình dậy.
Chính vì vậy, người giáo viên cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh. 13 z Phẩm chất chính trị của nhà giáo được chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Người cho rằng: “…có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng”. Người cũng nghiêm túc phê phán tư tưởng bàng quan chính trị trong đội ngũ nhà giáo: “Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt”.[6] Đối với người giảng viên, có nhận thức chính trị đúng chưa đủ, mà còn phải có khả năng xử lý được những tình huống chính trị và định hướng nhận thức chính trị, xã hội cho sinh viên.
Thầy giáo, cô giáo luôn là tấm gương đạo đức cho sinh viên noi theo. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay càng đòi hỏi người giảng viên phải giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp của mình. Người giảng viên là những người tham gia trực tiếp vào việc đào tạo nên các thế hệ sinh viên phục vụ vào sự phát triển của đất nước. Do vậy, người giảng viên cũng phải có đủ sức khỏe theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ; có lý lịch bản thân rõ ràng.
b) Kiến thức chuyên môn Theo Từ điển giáo dục học, kiến thức là: “Những điều hiểu biết có được của con người về thế giới tự nhiên và xã hội nhờ học tập trong trường và trải nghiệm trong thực tế cuộc sống”. Kiến thức của người giảng viên không phải là nguồn kiến thức độc tôn đối với người học, song nhiệm vụ quan trọng của họ là cung cấp kiến thức chính xác, có hệ thống và giúp người học biết cách tự học, tự nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình. Người giảng viên phải có kiến thức chuyên môn về môn học mình đảm nhiệm, có khả năng tổ chức, điều khiển và làm trọng tài trong các hoạt động của người học. Kiến thức chuyên môn của người thầy phải giỏi và thật sâu, có khả năng trả lời những câu hỏi của người học với chuyên môn mà mình phụ trách.
Luôn luôn quan tâm việc đổi mới, lựa chọn nội dung, phương pháp, chương 14 z trình phù hợp với mục tiêu đào tạo, đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng người học để đạt chất lượng cao nhất. Người giảng viên xác định khi bước lên bục giảng phải có một khối lượng kiến thức sâu rộng về chuyên môn và có kiến thức về một số môn khoa học khác phục vụ cho chuyên ngành giảng dạy để giúp các em nhìn nhận và hiểu rõ hơn những vướng mắc của mình, từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo. Đặc thù của giáo dục Đại học và Cao đẳng là tạo ra lực lượng lao động có trình độ từ Cao đẳng trở lên, có chuyên môn, nắm được kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Do đó, giáo dục Đại học và Cao đẳng phải đảm bảo thống nhất giữa dạy lý thuyết và thực hành, gắn tri thức lý luận với thực tiễn cuộc sống, làm cho sinh viên trở thành người hiểu sâu về một chuyên ngành, biết rộng về nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay.
Như vậy, GV không chỉ là người có kiến thức chuyên môn sâu, mang tính lý luận sách vở mà còn phải có những kinh nghiệm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Một người GV giỏi phải là người tinh thông lý luận, nhuần nhuyễn thực tiễn, thực sự là điểm tựa tin cậy cho sinh viên. c) Năng lực sư phạm NLSP là yếu tố cấu thành cơ bản tạo nên tư chất người GV.