MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, chăn nuôi ngan đã phát triển chuyển từ chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ theo phương thức hộ gia đình đã dần chuyển thành chăn nuôi hàng hóa, quy mô lớn. Nhiều trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp ra đời dẫn đến số lượng ngan không ngừng tăng lên từ 14,37 triệu con năm 2018 (Thống kê chăn nuôi Việt Nam, 2019) lên 15,76 triệu con năm 2021, tăng 9,67% (Thống kê chăn nuôi Việt Nam, 6/2022). Sản lượng thịt hơi từ 57,86 nghìn tấn năm 2018 lên 75,82 nghìn tấn năm 2021, tăng 31,04%.
Điều này cho thấy có sự tác động quan trọng của khoa học và công nghệ trong đó có công tác giống và nhu cầu thị trường về con giống có năng suất cao phù hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp ngày một tăng. Ngan ông bà R71 SL (Super Heavy White Muscovy – Canedins R71) là dòng ngan nặng cân của cộng hòa Pháp bao gồm trống ông nội (A), mái bà nội (B), trống ông ngoại (C) và mái bà ngoại (D). Dòng trống có tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lúc trưởng thành lớn, kết thúc 24 tuần tuổi trống A đạt 5. Dòng mái có năng suất trứng cao, mái D đạt 114,3 quả/mái ở chu kỳ 1.
Ngan bố mẹ trống AB có khối lượng cơ thể lúc 24 tuần tuổi đạt 4846,67g, mái CK (được tạo ra từ ♂Cx♀D) có năng suất trứng/mái đạt 114 quả chu kỳ 1, tỷ lệ phôi 88-90%. Ngan thương phẩm có khối lượng cơ thể ở 12 tuần tuổi con trống đạt 5,5kg, 10 tuần tuổi con mái đạt 3,0kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,8kg, nổi trội hơn so với những giống ngan hiện có trong nước. Tuy nhiên, các dòng nhập về là dòng đơn tính, sau hai chu kỳ khai thác phải loại thải, sản phẩm giữ lại được là ngan bố mẹ, do vậy rất cần có công tác giống để chọn tạo ra các dòng ngan mới từ các nguyên liệu này. Để khai thác các nguồn gen có hiệu quả, hạn chế nhập khẩu, từng bước chủ động được con giống, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất về giống ngan có năng suất cao, thích ứng với điều kiện chăn nuôi của Việt Nam, phục vụ tái cơ 1 cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Việc tiến hành đề tài “Chọn tạo 2 dòng ngan từ nguồn nguyên liệu ngan Pháp R71SL” là cần thiết. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Chọn tạo được ngan dòng trống NTP1 có khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi con trống ≥ 3,4kg, con mái ≥ 2,3 kg và năng suất trứng ổn định. - Chọn tạo được ngan dòng mái NTP2 có năng suất trứng/mái/năm: ≥ 150 quả và khối lượng cơ thể ổn định. - Đánh giá được khả năng cho thịt của ngan lai thương phẩm NTP12 tạo ra giữa ngan trống NTP1 và ngan mái NTP2.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3. Ý nghĩa khoa học - Là công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống. Sử dụng phương pháp chọn lọc cá thể theo giá trị kiểu hình và giá trị giống đã chọn tạo thành công 2 dòng ngan, dòng trống NTP1 có khối lượng cơ thể lớn và dòng mái NTP2 có năng suất trứng cao. Ngan lai thương phẩm NTP12 có ưu thế lai vượt trội về khối lượng cơ thể và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng.
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo và cơ sở chọn giống thủy cầm nói chung và ngan nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn - Chọn tạo được 2 dòng ngan NTP1, NTP2 và con lai thương phẩm NTP12 thịt có khối lượng cơ thể cao đáp ứng yêu cầu chăn nuôi ngan quy mô trang trại và nông hộ. - Kết quả của đề tài góp phần giúp các cơ sở chăn nuôi trong nước chủ động sản xuất được giống ngan có năng suất thịt cao thay thế một phần con giống nhập khẩu hàng năm. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Sử dụng phương pháp chọn tạo dòng bằng giá trị giống ước tính.
Để 2 chọn tạo được 2 dòng ngan với năng suất vượt trội. Dòng trống NTP1 có khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi con trống đạt 3.311,15g tăng 9,32-9,34% so với thế hệ xuất phát. Dòng mái NTP2 có năng suất trứng/mái tại 38 tuần tuổi đạt 50,29 quả, tăng 4,08 quả so với thế hệ xuất phát và trứng/mái/chu kỳ 1 đạt 111,06 quả, tăng 4,95 quả so với thế hệ xuất phát. - Từ 2 dòng ngan mới đã tạo được con lai thương phẩm NTP12 có ưu thế lai cao về khối lượng và tiêu tốn thức ăn.
Ở 11 tuần tuổi khối lượng cơ thể ngan trống đạt 4.909,59g và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,73kg. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm di truyền các tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là các tính trạng có thể đo lường được bằng các đơn vị đo và thường là các chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhằm đánh giá phẩm chất của một giống.
Giá trị của tính trạng số lượng được gọi là giá trị kiểu hình của bản thân con vật (kí hiệu là P – phenotype). Giá trị kiểu hình được quy định bởi giá trị kiểu gen (kí hiệu là G – genotype) và sai lệch của môi trường (kí hiệu là E – Environmental). Giá trị kiểu gen bao gồm tất cả những phần giá trị do toàn bộ gen của cá thể gây ra, sai lệch ngoại cảnh là phần giá trị do tất cả các yếu tố ngoại cảnh (không phải do di truyền) từ đó tạo ra sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị kiểu hình. Do đó, giá trị kiểu hình của một cá thể được biểu thị bằng phương trình sau: P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình (phenotype value) G là giá trị kiểu gen (genotype value) E là sai lệch môi trường (environmental deviation) Tính trạng của một cá thể là do nhiều gen quy định, mỗi gen có tác động nhất định và các gen cũng có tác động qua lại với nhau gọi là sai lệch di truyền trội, do đó giá trị kiểu gen của một cá thể bao gồm giá trị di truyền cộng gộp, sai lệch di truyền trội và tương tác giữa các gen.
Sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị di truyền cộng gộp: giá trị kiểu gen là giá trị của các gen ở con vật ảnh hưởng đến chính bản thân nó còn giá trị di truyền cộng gộp là giá trị của các gen ở con vật ảnh hưởng đến đời con của nó. Như vậy thì sai lệch di truyền trội chính là sự khác biệt giữa giá trị kiểu gen và giá trị di truyền cộng gộp, giá trị di truyền cộng gộp chính là giá trị giống của cá thể vì chỉ có giá trị này di truyền được cho đời con. 4 Do đó, giá trị kiểu gen được biểu diễn thông qua phương trình: G=A+D+I Trong đó: G : giá trị kiểu gen A : giá trị di truyền cộng gộp (còn được gọi là giá trị giống) D : sai lệch di truyền trội I : sai lệch do ảnh hưởng tương tác giữa các gen Như vậy, giá trị kiểu hình của một cá thể sẽ được biểu diễn bằng phương trình sau: P=A+D+I+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình A là giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) D là sai lệch di truyền trội I là sai lệch do ảnh hưởng tương tác giữa các gen E là sai lệch của môi trường 1. Một số tham số di truyền 1.
Phương sai Phương sai của một biến ngẫu nhiên là đại lượng đặc trưng cho mức độ phân tán của các số liệu so với số trung bình (đo số liệu biến thiên của một biến), giá trị này hàm ý rằng giá trị của biến đó cách giá trị kỳ vọng bao xa. Phương sai của một biến ngẫu nhiên là bình phương của độ lệch chuẩn. Công thức tính phương sai của một biến ngẫu nhiên như sau: Trong đó: là phương sai là mẫu biến thiên là trung bình số học của mẫu Việc phân chia các thành phần phương sai theo các nguồn biến động khác nhau cho phép chúng ta có thể đánh giá được tầm quan trọng của các nguồn biến 5 động ảnh hưởng đến kiểu hình của tính trạng, đặc biệt là khả năng biểu hiện của tính trạng từ môi trường này qua môi trường khác. Sự phân chia các thành phần phương sai Thành phần phương sai Ký hiệu Giá trị phương sai Phương sai kiểu hình P hoặc Vp Giá trị kiểu hình Phương sai di truyền G hoặc VG Giá trị di truyền Phương sai ảnh hưởng cộng gộp A hoặc VA Giá trị cộng gộp (giá trị giống) Phương sai ảnh hưởng trội D hoặc VD Sai lệch trội Phương sai ảnh hưởng tương tác I hoặc VI Sai lệch tương tác gen Phương sai ngoại cảnh E hoặc VE Sai lệch ngoại cảnh 1.
Hiệp phương sai Hiệp phương sai là sự biến thiên của 2 biến ngẫu nhiên. Nếu 2 biến này có xu hướng thay đổi cùng nhau thì hiệp phương sai giữa hai biến này có giá trị dương. Mặt khác, nếu một biến nằm trên giá trị kỳ vọng còn biến kia có xu hướng nằm dưới giá trị kỳ vọng, thì hiệp phương sai của hai biến này có giá trị âm. Hệ số di truyền Khái niệm về hệ số di truyền đã được Lush (1940, dẫn theo Nguyễn Hữu Tỉnh, 2017) định nghĩa như sau: Hệ số di truyền là tỷ lệ giữa phương sai di truyền (VG) với phương sai kiểu hình (VP) và diễn tả tỷ lệ của tổng phương sai giữa các kiểu gen khác nhau của các cá thể trong quần thể.
Đây được xem là định nghĩa hệ số di truyền theo nghĩa rộng và ít được sử dụng vì trên thực tế việc ước tính phương sai di truyền chỉ có thể được thực hiện thông qua việc phân tích các cặp chị em sinh đôi cùng trứng. Hơn thế nữa, khái niệm này chỉ biểu thị chung về phương sai kiểu gen và kiểu hình chứ không đi vào bản chất của hiệu ứng di truyền cộng gộp - là thành phần duy nhất có thể truyền lại cho đời sau. Và theo định nghĩa này thì hệ số di truyền được tính theo công thức: 6 VG G2 h 2 hoặc h 2 2 G VP G P Do thành phần phương sai di truyền là tổng của các phương sai di truyền cộng gộp, trội (VD) và tương tác át chế (VI). Vì vậy, Lush (1940, dẫn theo Nguyễn Hữu Tỉnh, 2017) cũng đã sử dụng khái niệm hệ số di truyền theo nghĩa hẹp.