Nghiên cứu đánh giá hoạt tính kháng phân bào trên dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T từ cao chiết

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hoạt tính kháng phân bào của cao chiết trên dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T, mở ra hướng điều trị tiềm năng.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

199
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc đánh giá hoạt tính kháng phân bào của các cao chiết từ sinh khốiquả thể của hai chủng nấm Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004 trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7Jurkat T. Nghiên cứu này nhằm tìm kiếm các hợp chất có tiềm năng kháng ung thư từ nguồn dược liệu tự nhiên, đặc biệt là từ các loài nấm ký sinh côn trùng. Luận án này không chỉ góp phần vào việc phát triển các phương pháp điều trị ung thư mới mà còn mở ra hướng nghiên cứu ứng dụng các chủng nấm bản địa tại Việt Nam.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận ánđánh giá hoạt tính kháng phân bào của các cao chiếthoạt chất từ sinh khốiquả thể của hai chủng nấm Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004 trên dòng tế bào ung thư MCF-7 (ung thư vú) và Jurkat T (bạch cầu). Nghiên cứu cũng hướng đến việc cô lập và xác định các hợp chất có hoạt tính kháng ung thư từ các cao chiết tiềm năng.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các dược liệu mới từ nguồn thực vậtnấm bản địa. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong việc sản xuất các sản phẩm kháng ung thư, góp phần vào việc điều trị các bệnh ung thư phổ biến như ung thư vúbạch cầu.

II. Tổng quan về nấm Cordyceps và Isaria

CordycepsIsaria là hai chi nấm ký sinh côn trùng được biết đến với nhiều hoạt chất sinh học có giá trị trong y học. Cordyceps neovolkianaIsaria cicadae là hai chủng nấm được nghiên cứu trong luận án này. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các hợp chất từ các loài nấm này có hoạt tính kháng phân bào, kháng oxy hóa, và điều hòa miễn dịch.

2.1. Đặc điểm sinh học của Cordyceps neovolkiana

Cordyceps neovolkiana là loài nấm ký sinh côn trùng, phân bố chủ yếu ở vùng núi Langbiang, Việt Nam. Quả thể của nấm có màu vàng, dài từ 3-5 cm. Nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài nấm này cho thấy nó chứa nhiều hợp chất có tiềm năng kháng ung thư.

2.2. Đặc điểm sinh học của Isaria cicadae

Isaria cicadae là loài nấm ký sinh côn trùng, được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc. Nó chứa nhiều hợp chất như adenosin, cordycepin, và các polysaccharidhoạt tính kháng phân bàokháng oxy hóa. Nghiên cứu này tập trung vào việc khai thác các hợp chất từ sinh khốiquả thể của loài nấm này.

III. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp in vitro để đánh giá hoạt tính kháng phân bào của các cao chiếthoạt chất từ sinh khốiquả thể của hai chủng nấm. Các phương pháp bao gồm chiết xuất thực vật, phân tích tế bào, và định danh hợp chất.

3.1. Chiết xuất và phân tích cao chiết

Các cao chiết được thu nhận từ sinh khốiquả thể của Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004 bằng các phương pháp chiết xuất thực vật truyền thống. Các cao chiết sau đó được phân tích để xác định các hợp chất có hoạt tính kháng phân bào.

3.2. Đánh giá hoạt tính kháng phân bào

Hoạt tính kháng phân bào của các cao chiết được đánh giá trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7Jurkat T bằng các phương pháp như MTT assaynhuộm Annexin V/PI. Các kết quả được phân tích để xác định khả năng gây độc tế bàocảm ứng apoptosis của các cao chiết.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các cao chiết từ sinh khốiquả thể của Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004hoạt tính kháng phân bào mạnh trên cả hai dòng tế bào ung thư MCF-7Jurkat T. Các hợp chất được cô lập từ các cao chiết này cũng thể hiện tiềm năng kháng ung thư đáng kể.

4.1. Hoạt tính kháng phân bào của cao chiết

Các cao chiết từ sinh khốiquả thể của Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004 đều thể hiện hoạt tính kháng phân bào mạnh, với giá trị IC50 thấp. Điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng của các cao chiết này trong việc phát triển các sản phẩm kháng ung thư.

4.2. Cô lập và định danh hợp chất

Các hợp chất được cô lập từ các cao chiết tiềm năng bao gồm ergone, cordycepin, và các polysaccharid. Các hợp chất này đã được định danhđánh giá về hoạt tính kháng phân bào, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong điều trị ung thư vúbạch cầu.

V. Kết luận và kiến nghị

Luận án đã thành công trong việc đánh giá hoạt tính kháng phân bào của các cao chiếthoạt chất từ sinh khốiquả thể của Cordyceps neovolkiana DL0004Isaria cicadae F0004. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng ứng dụng các chủng nấm bản địa trong việc phát triển các sản phẩm kháng ung thư.

5.1. Kết luận

Các cao chiếthoạt chất từ sinh khốiquả thể của hai chủng nấm nghiên cứu đều thể hiện hoạt tính kháng phân bào mạnh, đặc biệt là trên dòng tế bào ung thư MCF-7Jurkat T. Các hợp chất được cô lập cũng có tiềm năng ứng dụng trong điều trị ung thư.

5.2. Kiến nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kháng phân bào của các hợp chất được cô lập. Đồng thời, cần phát triển các phương pháp nuôi cấy và chiết xuất hiệu quả hơn để tối ưu hóa việc sản xuất các hoạt chất từ các chủng nấm này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá hoạt tính kháng phân bào trên dòng tế bào ung thư mcf 7 jurkat t của cao chiết và

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Các sản phẩm tự nhiên, với sự đa dạng về thành phần và cấu trúc hóa học đã được nghiên cứu rộng rãi về khả năng kháng ung thư trong hơn nửa thế kỷ gần đây và được xem là một nguồn cung cấp dồi dào các hợp chất có hoạt tính sinh học có tiềm năng chữa bệnh. Uớc tính từ năm 1981 đến năm 2019, khoảng 25% các loại thuốc kháng ung thư mới được phê duyệt có nguồn gốc tự nhiên [1]. Đối với Cordyceps spp., hơn 200 hợp chất có hoạt tính sinh học bao gồm nucleosid, sterol, peptid mạch vòng, flavonoid, dihydrobenzofuran, polyketid, polysaccharid, alkaloid, ergosterol và polyphenol đã được cô lập và định danh. Theo tổ chức WHO (2020), ung thư là căn bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới và tỷ lệ ngày càng tăng nhanh nên việc tìm kiếm các hợp chất mới trong điều trị ung thư đã và đang được nhiều nghiên cứu trên thế giới quan tâm.

Hiện nay, các nghiên cứu đã phát hiện nhiều hợp chất kháng phân bào tiềm năng đối với các dòng tế bào ung thư từ Cordyceps spp. như cordycepin, cordypyridon, cordysinin A, isariotin, acetoxyscirpenediol, polysaccharid, beauvericin, ergosterol… và các dẫn xuất [3]. Cordyceps là chi đa dạng nhất trong họ Clavicipitaceae về số lượng loài (hơn 750 loài) và phổ ký chủ. Tuy nhiên, chỉ có 04 loài thuộc chi Cordyceps và Isaria được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi bao gồm C.

Các công trình nghiên cứu và ứng dụng nấm Cordyceps chủ yếu được thực hiện trên các chủng nấm được phân lập và có nguồn gốc từ nước ngoài nên hướng ứng dụng thực tế có nhiều hạn chế khi ứng dụng tại Việt Nam. Việc nghiên cứu và ứng dụng các chủng nấm Cordyceps của Việt Nam, được phân lập và nuôi cấy tại Việt Nam giúp chủ động hơn trong việc khai thác, bảo tồn và ứng dụng tạo các sản phẩm hữu ích. Việt Nam là Quốc gia có đa dạng các chủng nấm ký sinh côn trùng thuộc chi Cordyceps và Isaria. Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu thực hiện ở mức độ trên cao chiết của các loài nấm Cordyceps spp.

và còn rất ít các nghiên cứu về cô lập các hợp chất tự nhiên và xác định hoạt tính kháng phân bào của các hợp chất thu nhận được. Do đó, để đánh giá hoạt tính kháng phân bào trên các dòng tế bào ung thư của các cao chiết và các hoạt chất từ sinh khối hệ sợi và quả thể nấm ký sinh côn trùng phân lập và nuôi trồng tại Việt Nam làm tiền đề cho các nghiên cứu nấm ký sinh côn trùng tại Viêt Nam tạo nguồn nguyên liệu cho các ứng dụng thực tế trong dược phẩm, luận án “Nghiên cứu đánh giá hoạt tính kháng phân bào trên dòng tế bào ung thư MCF-7, Jurkat T của cao chiết và hoạt chất từ sinh khối, quả thể nhân nuôi của chủng nấm Cordyceps neovolkiana DL0004 và Isaria cicadae F0004’’ với nội dung thực hiện như sau: tạo cao chiết từ sinh khối và quả thể nấm nuôi trồng; sàng lọc cao chiết có độc tính tế bào tiềm năng trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T; xác nhận đặc tính kháng phân bào của các cao chiết tiềm năng; cô lập và xác định hợp chất có hoạt tính kháng phân bào từ cao chiết tiềm năng là khả thi và cần thiết. Tổng quan về nấm Cordyceps 1. Giới thiệu về nấm Cordyceps Theo Holiday (2008) [4], nấm Cordyceps được phân loại như sau: Giới: Fungi Ngành: Ascomycota Lớp: Ascomycetes Bộ: Hypocreales Họ: Clavicipataceae Chi: Cordyceps Cordyceps được xếp vào họ Clavicipitaceae dựa vào túi bào tử hình trụ, độ dày đỉnh nang và các nang bào tử.

Đặc biệt, Cordyceps được đặc trưng bởi quả thể hình cuống và thường ở dạng hình chuỳ trên bề mặt hay đắm mình hoàn toàn vào chất nền. Cordyceps là chi đa dạng nhất trong họ Clavicipitaceae về số lượng loài và phổ ký chủ. Phổ ký chủ của chúng rất rộng, thường thuộc nhóm côn trùng và động vật thuộc lớp chân khớp. Mỗi loài được giới hạn với một vật chủ duy nhất hay một tập hợp các ký chủ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (hình 1.

Theo sinh thái học, Cordyceps được xem là tác nhân gây bệnh ở động vật chân khớp và các loài nấm thuộc chi Elaphomyces [5]. Thông qua đặc điểm hình thái của quả thể và túi bào tử, Cordyceps được chia làm 3 giống: C. subg ophiocordyceps và C. Một số quả thể nấm Cordyceps tự nhiên Chú thích: A) C.

militaris (Nguồn: https://www.com) Một số nghiên cứu phát sinh loài khác dựa vào ribosome của DNA đã được tiến hành để kiểm tra và hoàn chỉnh việc phân loại Cordyceps nhưng vẫn gặp nhiều hạn chế. Năm 2010, một nhóm các nhà nấm học của Mỹ, Thái Lan và Hàn Quốc đã phối hợp nghiên cứu và sắp xếp lại hệ thống của nhóm nấm Cordyceps. Theo kết quả nghiên cứu này, toàn bộ các loài thuộc nhóm nấm Cordyceps được phân chia lại thuộc về 3 họ: họ Clavicipitaceae với các chi Metacordyceps, Hypocrella, Regiocrella và Torrubiella; họ Cordycipitaceae với chi Cordyceps; họ Ophiocordycepitaceae với 2 chi Ophiocordyceps và Elaphocordyceps [6]. Năm 2007, nghiên cứu của Sung và cộng sự đã xếp chi Isaria thuộc ngành Ascomycota, lớp Sordariomycetes, bộ Hypocreales, họ Cordycipitaceae [7].

Một số chi được quan tâm nhiều nhất hiện nay bởi tính chất dược lý hay khả năng kiểm soát sinh học bao gồm Cordyceps, Beauveria và Isaria [8]. Chi Isaria bao gồm các loài nấm ký sinh côn trùng phân bố khá rộng, dễ dàng thu thập. Isaria là giai đoạn sinh sản vô tính (giai đoạn hình thành bào tử đính) của chi Cordyceps [3]. 4 Trong các loài Cordyceps spp.

sinensis là nổi tiếng nhất về giá trị ứng dụng chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe con người và nó phân bố chủ yếu ở Nepal, Bhutan, Ấn Độ và Cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc, độ cao từ 3000 m – 5000 m so với mực nước biển. sinensis nhiều loài nấm Cordyceps spp. khác cũng được phát hiện [9]: Họ Clavicipitaceae gồm có Metacordyceps liangshanensis, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc và Nepal. Họ Cordycipitaceae gồm có Cordyceps coccinea (Được phát hiện tại: Indonesia, Srilanka, Nhật Bản, Công Gô và Nepal), C.

Họ Ophiocordycipitaceae gồm có Ophiocordyceps fornicarum (Được phát hiện tại: Nhật Bản, Nepal, Hàn Quốc và Trung Quốc), O. Tổng quan về Cordyceps neovolkiana và Isaria cicadae Theo hệ thống phân loại của Kobayasi (1982), Cordyceps neovolkiana thuộc [10]: Ngành (phylum): Ascomycota Phân ngành (subphylum): Pezizomycotina Lớp (class): Sordariomycetes Bộ (odor): Hypocreales Họ (familia): Clavicipitaceae Chi: Cordyceps Hình 1. cicadae (B) tự nhiên Nguồn: naro.jp (A) và sciencedirect.com (B) Theo Sung (2007), Isaria cicadae thuộc [3], [7]: Giới (Kingdom): Fungi Ngành (phylum): Ascomycota Phân ngành (subphylum): Pezizomycotina Lớp (class): Sordariomycetes Bộ (odor): Hypocreales 6 Họ (familia): Cordycipitaceae Chi: Isaria Cordyceps neovolkiana (thể vô tính là Hirsutella neovolkiana) đã được tìm thấy ở vùng núi Langbiang, tỉnh Lâm Đồng Việt Nam ở độ cao 1. Về đặc điểm sinh thái, quả thể C.

neovolkiana có màu vàng rộng 2-3 mm và dài 3-5 cm [11]. Phương pháp luận nghiên cứu hỗ trợ định danh nấm ký sinh côn trùng bằng phân tích phả hệ phân tử vùng ITS1-5.8S-ITS2 đã được ứng dụng vào hỗ trợ định danh được một số mẫu nấm ký sinh côn trùng thu thập từ vùng núi Langbiang, tỉnh Lâm Đồng trong đó đã xác định được loài C. Isaria cicadae (Cordyceps cicadae) đã được tìm thấy tại huyện Ea kar, tỉnh Đắk Lắk, quá trình sinh trưởng và phát triển của I. cicadae tương tự với các loài thuộc nhóm Cordyceps khác: vào mùa thu hay mùa đông bào tử nấm sẽ lây nhiễm vật chủ qua lớp da ngoài (lớp cuticun), hình thành sợi tơ khắp cơ thể côn trùng dẫn đến gây chết côn trùng, đến mùa xuân khi khí hậu ấm hơn sẽ hình thành nên quả thể nấm từ các khớp hoặc các vị trí nếp da mỏng và phát tán bào tử.

cicadae hình thành quả thể màu trắng đục đến vàng nhạt từ miệng, đầu hoặc đáy của ấu trùng I. cicadae dài từ 2,5 -5 cm. Cuống bào tử phân nhánh dày đặc, rộng 3-6 µm bao gồm các nhánh hình vòng xoắn, bào tử hình trụ, thường cong vách trơn. cicadae F0004 được nuôi cấy nhân tạo thành công sinh khối và quả thể.

cicadae là một trong những loại thuốc y học cổ truyền Trung Quốc lâu đời nhất và nổi tiếng, với những công dụng của nó được ghi nhận từ thế kỷ thứ V. Trong nhiều thế kỷ, I. cicadae đã được sử dụng làm thực phẩm, thuốc bổ và thuốc dân gian để điều trị bệnh sốt rét, ung thư, sốt, tiểu đường, các bệnh về mắt, chóng mặt và các bệnh thận mãn tính [3], [13]. Hơn 110 hợp chất được phân lập từ I.

cicadae, dựa vào cấu trúc các hợp chất thuộc các nhóm chính amino acid, acid hữu cơ, lipid, phosphoslipid, nucleosid, carbohidrate và các dẫn xuất của chúng [14]. cicadae chứa nhiều hợp chất thứ cấp cũng được phát hiện trong sinh khối và quả thể trong đó, inositol, gamma-aminobutyric acid, ornithin và 7 threonin là hợp chất chính. Trong đó nhiều hợp chất được chứng minh hoạt tính sinh học tương tự với các chủng nấm khác thuộc chi Cordyceps như kháng phân bào, kháng oxy hóa, kháng viêm, chống trầm cảm và điều hòa miễn dịch. Các nucleosid chính được tìm thấy từ I.

cicadae gồm adenosin, guanosin, uridin, inosin, thymidin… và các dẫn xuất [3]. Trong đó, adenosin và các dẫn xuất thể hiện có nhiều hoạt tính như cordycepin có khả năng kháng phân bào, kháng oxy hóa, kháng viêm và điều hòa miễn dịch. Một dẫn xuất khác của adenosin là N- (2-hydroxyethyl) adenosin cũng đã được phân lập và thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa và kháng viêm [15]. Nhiều hợp chất thứ cấp khác như phytosphingosin, cordycecin A, betain, oosporein, phytosphingosin, stipitatonic acid cũng được phát hiện trong hệ sợi và bào tử của nấm trong đó oosporein cũng biểu hiện hoạt tính kháng khuẩn, kháng oxy hóa, kháng côn trùng cùng một số nấm và gây độc tế bào.

Hercynin và ergothionein – dẫn suất của histidin - phát hiện trong hệ sơi và quả thể, có khả năng kháng oxy hóa và bảo vệ tế bào; fumimycin cũng được tìm thấy trong hệ sợi và có khả năng kháng khuẩn chống lại Staphylococcus aureus, ức chế enzyme peptid deformylase; myriocin được phân lập từ dịch nuôi cấy, sinh khối và bào tử I. cicadae thể hiện hoạt động kháng nấm, ức chế tốt Candida albicans và có độc tính cao với LD50 2–10 mg/kg trên chuột [3]. Nghiên cứu Zhu và cộng sự (2020) đã đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của polysaccharid thu nhận từ Cordyceps cicadae, kết quả cho thấy polysaccharid thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh và kéo dài tuổi thọ của Drosophila khỏi tác nhân oxy hóa thông qua tăng biểu hiện của các gen mã hóa cho các enzyme catalase (CAT) và glutathione peroxidase (GSH-Px) và ức chế sự hình thành hợp chất malondialdehyde (MDA). Đồng thời, polysaccharid cũng thay đổi mức độ biểu hiện của các gen liên quan đến quá trình chống oxy hóa CAT, SOD1 và MTH trong ruồi giấm (Drosophila melanogaster) [17].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Đánh giá hoạt tính kháng phân bào trên dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T từ cao chiết là một nghiên cứu chuyên sâu về khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư thông qua các cao chiết tự nhiên. Nghiên cứu tập trung vào hai dòng tế bào ung thư phổ biến là MCF-7 (ung thư vú) và Jurkat T (ung thư máu), mang lại những hiểu biết quan trọng về tiềm năng điều trị ung thư từ nguồn dược liệu thiên nhiên. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực dược liệu và ung thư.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư tiên tiến, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp các nanogel mang thuốc đa chức năng trên cơ sở dẫn xuất chitosan−pluronic định hướng ứng dụng điều trị ung thư, nơi tập trung vào công nghệ nanogel hiện đại. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phân bố và tác dụng kháng ung thư của kháng thể đơn dòng nimotuzumab gắn 131i trên chuột mang khối ung thư đầu cổ người cung cấp góc nhìn về liệu pháp kháng thể đơn dòng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu tạo hạt nano polymer bọc alpha mangostin và bước đầu đánh giá hoạt tính kháng ung thư in virtro của hạt tạo được là một tài liệu thú vị về ứng dụng công nghệ nano trong điều trị ung thư. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!