Luận án cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước Lào - Ketmany Inthavong

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào thông qua nghiên cứu chuyên sâu tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

191
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Cơ động xã hội là khái niệm xã hội học chỉ sự di chuyển của cá nhân hoặc nhóm trong hệ thống phân tầng xã hội. Trong bối cảnh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, nghiên cứu cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước mang ý nghĩa quan trọng. Đội ngũ cán bộ là lực lượng chủ chốt thực thi đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chính sách của nhà nước. Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng này. Luận án tiến sĩ của Ketmany Inthavong (2021) đã khảo sát 510 mẫu nghiên cứu để đánh giá mức độ cơ động xã hội. Kết quả cho thấy sự di chuyển giữa các tầng lớp xã hội trong đội ngũ cán bộ diễn ra với nhiều hình thức khác nhau. Nghiên cứu này góp phần bổ sung lý luận xã hội học về phân tầng và cơ động xã hội ở Lào. Đồng thời, công trình cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách cán bộ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1. Khái niệm cơ động xã hội và phân loại

Cơ động xã hội được hiểu là sự di chuyển của cá nhân từ vị trí này sang vị trí khác trong hệ thống phân tầng xã hội. Theo Sorokin, khái niệm này bao gồm sự thay đổi về kinh tế, chính trị và địa vị xã hội. Fichter (1972) phân biệt hai loại cơ động: chiều ngang và chiều dọc. Cơ động ngang là sự di chuyển trên cùng một bình diện xã hội, ví dụ chuyển từ công việc này sang công việc khác ở cùng cấp độ. Cơ động dọc là sự thay đổi tầng lớp xã hội, có thể đi lên hoặc đi xuống. Tony Bilton và cộng sự (1993) bổ sung thêm khái niệm cơ động liên thế hệ và cơ động nội thế hệ. Cơ động liên thế hệ so sánh địa vị giữa các thế hệ cha mẹ và con cái. Cơ động nội thế hệ theo dõi sự thay đổi địa vị trong suốt cuộc đời một cá nhân.

1.2. Đặt vấn đề nghiên cứu tại Học viện Chính trị Lào

Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào là cơ sở đào tạo cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị Lào. Nghiên cứu tại đây có ý nghĩa đặc biệt vì đây là nơi quy tụ đội ngũ cán bộ từ nhiều địa phương và lĩnh vực khác nhau. Câu hỏi nghiên cứu đặt ra: Mức độ cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình này? Bối cảnh kinh tế - xã hội Lào đang chuyển đổi mạnh mẽ với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa tăng nhanh. Quá trình này tác động trực tiếp đến cơ cấu xã hội và cơ hội thăng tiến của cán bộ. Nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ cải cách hành chính và chính sách cán bộ.

II. Phân tích thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Lào

Kết quả nghiên cứu trên mẫu 510 cán bộ tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cho thấy nhiều phát hiện đáng chú ý. Về cơ động xã hội theo chiều dọc, tỷ lệ cán bộ có sự thăng tiến trong địa vị xã hội chiếm tỷ lệ đáng kể. Mối liên hệ giữa giới tính và cơ động xã hội cho thấy sự khác biệt giữa nam và nữ cán bộ. Độ tuổi cũng là biến số quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cơ động. Cán bộ trẻ có xu hướng cơ động cao hơn so với nhóm tuổi lớn. Trình độ học vấn đóng vai trò quyết định trong quá trình thăng tiến xã hội. Những cán bộ có bằng cấp cao hơn thường đạt được vị trí xã hội tốt hơn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị vẫn là rào cản lớn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng xuất thân gia đình ảnh hưởng nhất định đến cơ hội cơ động của cán bộ. Bảng thống kê về cơ cấu mẫu theo các tiêu thức điều tra cung cấp bức tranh toàn diện về đặc điểm nhân khẩu học của đội ngũ nghiên cứu.

2.1. Cơ động xã hội theo chiều dọc trong đội ngũ cán bộ

Cơ động xã hội theo chiều dọc là sự di chuyển từ tầng lớp xã hội thấp hơn lên tầng lớp cao hơn hoặc ngược lại. Trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào, cơ động dọc thể hiện rõ qua quá trình thăng tiến trong hệ thống hành chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa lớp học và sự cơ động xã hội theo chiều dọc có ý nghĩa thống kê. Cán bộ xuất thân từ gia đình nông dân hoặc lao động phổ thông có tỷ lệ cơ động lên cao hơn khi đạt trình độ đại học trở lên. Nam giới có xu hướng cơ động dọc thuận lợi hơn nữ giới trong hệ thống công quyền. Nhóm cán bộ từ 30-45 tuổi có mức độ cơ động dọc cao nhất do đang ở giai đoạn phát triển sự nghiệp đỉnh cao.

2.2. Cơ động xã hội theo chiều ngang và các yếu tố liên quan

Cơ động xã hội theo chiều ngang là sự di chuyển giữa các vị trí công tác có cùng cấp bậc trong hệ thống hành chính nhà nước. Hình thức này diễn ra phổ biến khi cán bộ được luân chuyển giữa các cơ quan, ban ngành hoặc địa phương khác nhau. Nghiên cứu cho thấy cơ động ngang giúp cán bộ mở rộng kinh nghiệm và nâng cao năng lực quản lý. Tuy nhiên, tần suất cơ động ngang quá cao có thể ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Các yếu tố như chuyên ngành đào tạo, năng lực ngoại ngữ và khả năng thích ứng quyết định mức độ cơ động ngang. Cán bộ có trình độ chuyên môn đa dạng thường có nhiều cơ hội luân chuyển hơn. Quá trình này gắn liền với chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và nhà nước Lào.

III. Giải pháp nâng cao cơ động xã hội cho cán bộ nhà nước Lào

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, luận án đề xuất nhiều giải pháp thiết thực. Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống đào tạo và bồi dưỡng cán bộ theo hướng hiện đại hóa. Thứ hai, tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho cán bộ xuất thân từ vùng nông thôn và vùng khó khăn. Thứ ba, xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo quản lý. Thứ tư, cải cách hệ thống thi tuyển và đánh giá cán bộ dựa trên năng lực thực chất. Thứ năm, phát triển mạng lưới hợp tác quốc tế để tạo cơ hội học tập và trao đổi kinh nghiệm. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chính phủ cần ưu tiên nguồn lực đầu tư cho con người. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ sự nghiệp cách mạng.

3.1. Hoàn thiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng cán bộ

Chính sách đào tạo bồi dưỡng là giải pháp then chốt nâng cao cơ động xã hội cho cán bộ. Cần xây dựng chương trình đào tạo gắn liền với thực tiễn công tác và yêu cầu phát triển đất nước. Hệ thống Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cần được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Mở rộng hợp tác đào tạo với các nước trong khu vực và quốc tế để tiếp thu kinh nghiệm quản trị hiện đại. Đẩy mạnh đào tạo trực tuyến và học tập suốt đời cho cán bộ ở mọi cấp. Đặc biệt quan tâm đào tạo kỹ năng quản lý, lãnh đạo và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ trẻ. Cần có cơ chế đánh giá hiệu quả đào tạo định kỳ để điều chỉnh kịp thời chương trình.

3.2. Xây dựng hệ thống đánh giá và bổ nhiệm cán bộ công bằng

Hệ thống đánh giá cán bộ công bằng là nền tảng thúc đẩy cơ động xã hội lành mạnh trong bộ máy nhà nước. Cần xây dựng tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch dựa trên năng lực và kết quả công tác. Quy trình bổ nhiệm cán bộ phải tuân thủ nguyên tắc dân chủ, công khai và cạnh tranh lành mạnh. Áp dụng hệ thống quản lý hiệu suất để theo dõi và đánh giá cán bộ một cách khách quan. Tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả cán bộ, không phân biệt giới tính, xuất thân hay vùng miền. Xây dựng cơ chế khiếu nại và bảo vệ quyền lợi cán bộ trong quá trình đánh giá. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức đoàn thể trong công tác cán bộ.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu cơ động xã hội cán bộ Lào

Luận án tiến sĩ của Ketmany Inthavong đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào. Nghiên cứu xác nhận rằng trình độ học vấn là yếu tố quyết định nhất đến cơ động xã hội theo chiều dọc. Giới tính vẫn tồn tại khoảng cách trong cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ cán bộ. Xuất thân gia đình có ảnh hưởng nhất định nhưng không phải yếu tố quyết định tuyệt đối. Bối cảnh kinh tế - xã hội đang chuyển đổi tạo ra cả cơ hội và thách thức cho sự cơ động xã hội. Các yếu tố thuộc về cá nhân như năng lực, nỗ lực và mối quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng. Kết luận này phù hợp với lý thuyết của Sorokin về sự vận động trong hệ thống phân tầng xã hội. Công trình nghiên cứu có giá trị both về mặt lý luận xã hội học lẫn thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ. Phát hiện của luận án là cơ sở khoa học để Đảng và nhà nước Lào điều chỉnh chính sách cán bộ hiệu quả hơn.

4.1. Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu cơ động xã hội

Nghiên cứu đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận xã hội học về cơ động xã hội ở khu vực Đông Nam Á. Công trình bổ sung bằng chứng thực nghiệm từ bối cảnh quốc gia xã hội chủ nghĩa đang phát triển như Lào. Kết quả nghiên cứu giúp kiểm chứng và phát triển các lý thuyết kinh điển của Sorokin, Fichter và Bilton trong điều kiện cụ thể của Lào. Mối quan hệ giữa thể chế chính trị và cơ động xã hội được làm sáng tỏ qua dữ liệu khảo sát. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận mới về vai trò của giáo dục chính trị trong quá trình cơ động. Đây là công trình tiên phong về cơ động xã hội trong đội ngũ công chức tại Lào, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị chính sách

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong công tác quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ Lào. Các khuyến nghị chính sách bao gồm tăng cường đầu tư giáo dục đào tạo, đặc biệt cho cán bộ vùng nông thôn. Cần xây dựng cơ chế hỗ trợ cán bộ nữ vươn lên đảm nhận vị trí lãnh đạo quản lý. Đảng và nhà nước Lào nên cải cách hệ thống tuyển dụng dựa trên năng lực thay vì quan hệ cá nhân. Đẩy mạnh chương trình luân chuyển cán bộ để tạo cơ hội cơ động ngang tích cực. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ nguồn. Các khuyến nghị này phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia của Lào giai đoạn 2021-2030.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào nghiên cứu trường hợp tại học viện chính trị và hành chính quốc gia lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng và khuyến nghị về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁN BỘ NHÀ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ LÀO Trong phần này tác giả tập trung tìm hiểu các bài viết, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới và Lào về cơ động xã hội và cán bộ Nhà nước như các nghiên cứu chung, quan điểm, khái niệm, các loại hình cơ động xã hội và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu, NCS tóm tắt những giá trị của các công trình nghiên cứu đã làm được,. Đưa ra quan điểm, đánh giá của NCS đối với các nghiên cứu và các đóng góp của các công trình nghiên cứu có liên quan.

Đồng thời chỉ ra những hạn chế và khoảng trống của các nghiên cứu cần tiếp tục hoàn thiện. Các nghiên cứu về cơ động xã hội và cán bộ nhà nƣớc của các nƣớc phƣơng Tây - Nghiên cứu về cơ động xã hội nói chung Nghiên cứu về hiện tượng phân tầng xã hội nói chung, cơ động xã hội nói riêng với những khác biệt mang tính tầng lớp xã hội đã có lịch sử hàng ngàn năm. Thời Hy Lạp Cổ Đại ở phương Tây, các nhà triết học nổi tiếng như Socrates, Plato, Aristotle đều ít nhiều đề cập đến “mô hình xã hội” với các tầng lớp xã hội khác nhau trong mối quan hệ thống trị - bị trị. Trong cuộc cách mạng công nghiệp và những cuộc cách mạng xã hội ở Tây Âu, người ta đã chứng kiến một số giai cấp mới xuất hiện, một số giai cấp suy tàn, biến mất.

Trong bối cảnh đó, hàng loạt học giả đã nghiên cứu về các giai tầng, về sự khác biệt giữa các giai tầng trong xã hội. Nhà khoa học vĩ đại C. Mác đã đưa ra lý thuyết duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc lý giải về sự hình thành các giai cấp và phân tích sự chuyển động của những cơ cấu xã hội cụ thể. Kế tục sự nghiệp của C.

Mác, Lênin đã có những công trình nghiên cứu sâu về kết cấu xã hội. Max Weber đã sử dụng sơ đồ 3 yếu tố: địa vị kinh tế (sở hữu tài sản và cơ may thị trường), địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín) để xây dựng lý thuyết về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Với sơ đồ phân tích này, ông mở rộng việc nghiên cứu cơ cấu xã hội không phải chỉ ở các giai cấp cơ bản mà còn là những tầng 12 lớp khác nữa (giai tầng), không phải chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác. Đến khoảng cuối những năm 1920, nghiên cứu phân tầng xã hội và cơ động xã hội đã có nhiều phát triển về mặt thực nghiệm, đã lan sang nhiều nước trên thế giới [4].

Các nhà xã hội học ở phương Tây đã vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội, cơ động xã hội của M. Weber, quan điểm chức năng luận, quan điểm xung đột để đẩy mạnh nghiên cứu phân tầng xã hội, cơ động xã hội về mặt thực nghiệm, qua đó góp phần làm rõ kết cấu giai tầng của các xã hội phát triển ở phương Tây, giúp cho các Nhà nước cầm quyền có thể kiểm soát và quản lý được tương đối hiệu quả sự vận động của xã hội [36]. Liên quan đến vấn đề này, vào cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện câu hỏi nổi bật về sự truyền thụ đặc điểm từ thế hệ này sang thế hệ khác là có tầm quan trọng. Ví dụ: Galton (1886), ông là người sáng tạo ra khái niệm hệ số tương quan trong thống kê và phát triển hồi quy về điểm trung bình.

Ông là người đầu tiên áp dụng các phương pháp thống kê đối với nghiên cứu về sự khác biệt của con người và tính di truyền của trí thông minh đó là “luật hồi quy” của di truyền, đây chính là cách tìm ra tại sao con cái trở nên tầm thường hơn bố mẹ. Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, có rất nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về vấn đề cơ động xã hội. Pitirim Sorokin, một trong những cha đẻ nổi tiếng trong việc phân tích cơ động xã hội và bàn về cơ động xã hội khá hệ thống. Ông đã nghiên cứu các loại hình xã hội trong lịch sử và kết luận rằng: chưa có bất kỳ xã hội nào hoàn toàn mở ra đầy đủ các cơ hội cho sự cơ động và cũng chưa có bất kỳ xã hội nào (ngay cả xã hội đẳng cấp của Ấn Độ) đóng cửa hoàn toàn những cơ hội cho sự cơ động xã hội.

Ông đưa ra luận điểm rằng, không bao giờ hai xã hội nào đó cho phép (hoặc hạn chế) có cùng một mức độ cơ động. Tốc độ của sự dịch chuyển xã hội hoặc thay đổi xã hội khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử. Tỷ lệ thay đổi phụ thuộc vào mức độ hiện đại hóa xã hội đó. Ngoài ra, Sorikin đã nghiên cứu sâu hơn đến vấn đề tính cơ động xã hội, ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên - xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới với vị trí của mình trong trật tự xã hội.

Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự cơ động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra cơ động xã hội [39]. 13 Những quan tâm nghiên cứu cơ động xã hội của Joseph H. Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng cơ động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại ô.

Theo định nghĩa của James A. Barber một nhà nghiên cứu nổi tiếng về cơ động xã hội. Theo quan điểm của ông, cơ động xã hội đề cập đến một số dịch chuyển, hoặc lên hoặc xuống giữa các tầng lớp xã hội cao hơn hoặc thấp hơn; hay chính xác hơn, di chuyển giữa những vai trò được đánh giá là có ý nghĩa xã hội về mặt chức năng cao hơn hoặc thấp hơn. Sự dịch chuyển này như là một quá trình diễn ra theo thời gian, đối với các cá nhân, đây là sự di chuyển từ một vai trò và vị trí đã xảy ra với họ trong các loại tương tác xã hội khác nhau.

Sự cơ động phát sinh trong tương tác xã hội, khi từng cá nhân phản ứng với những người khác trong một loạt thay đổi về vai trò xã hội [4]. Với ý nghĩa này, cơ động “đem lại cho cá nhân nhiều hơn hoặc ít hơn những lợi ích mà nền kinh tế và xã hội đã cung cấp”. Ví dụ như con trai của một người của một nhân viên bán hàng trở thành một luật sư; con của một người đẩy xe kéo trở thành một bác sĩ… Trong mỗi trường hợp, một sự thay đổi trong vai trò giữa người cha và con trai đem lại cho người con nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Khi nghiên cứu cơ động xã hội trong xã hội Mỹ, theo LJ.Zelznick trong cuốn Xã hội học đã sử dụng bốn tiêu chí để xác định tính chất của cơ động xã hội.

Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thói quen, văn hóa, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự cơ động xã hội [29]. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề “cơ động xã hội” trong nhiều tác phẩm khác nhau và ở những góc độ khác nhau nhưng phần lớn có quan điểm rằng: cơ động xã hội là đề cập đến sự di chuyển của các cá nhân hoặc các nhóm từ một vị trí của một hệ thống phân tầng xã hội này sang hệ thống phân tầng xã hội khác. Đây là sự di chuyển lên hay xuống của các nhóm trong xã hội mà họ đã được chỉ định. Trong đó, sự nổi lên của một người từ một nền tảng rất nghèo đến chức tổng thống (ví dụ, A.

Abdul Kalam, tổng thống của Ấn Độ) hoặc một số vị trí khác về uy tín, quyền lực hay phần thưởng tài chính lớn là một ví dụ về tính cơ động xã hội. Tính cơ động cả đi lên và đi xuống. Vì vậy, nó là một phong trào lên hoặc xuống trong các bậc thang xã hội hoặc trong địa vị xã hội. Đồng thời, trong một số xã hội, một số người 14 không thể duy trì được thứ hạng lớp xã hội của họ, trong đó họ được sinh ra vì mất của cải hoặc có nghề nghiệp có thu nhập thấp và tình trạng cuộc sống cũng thấp hơn yêu cầu của xã hội đó.

Đây chính là những triệu chứng và quá trình di chuyển xuống. Trái ngược với điều này, những người có được tài sản, thu nhập, địa vị hoặc sự thay đổi trong công việc xếp hạng cao hơn cho thấy sự di chuyển lên trên. Và điều đó là một điều tất nhiên như Lipset và Bendix (1960) đã xác định tính cơ động xã hội là “một quá trình mà cá nhân di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác giữa các sắp xếp phân cấp như vậy được tìm thấy trong mỗi xã hội” [89, tr 424-426]. Trên thực tế, nghiên cứu về tính cơ động xã hội ở một khuôn khổ so sánh đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đối diện với lý thuyết xung đột mệnh đề.

Một mặt, chuyên gia lý thuyết chức năng cho rằng phát triển kinh tế sẽ dẫn đầu các xã hội công nghiệp để trở nên công bằng hơn và tận hưởng tỷ lệ cơ động xã hội cao hơn (Blau & Duncan (1967); Kerr, Dunlop, Harbison và Myers (1960); Parsons (1960); Treiman (1970).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ